Thứ Ba, 20 tháng 1, 2026

TỰ DO XUÂN NHÂM DẦN 1962 — TRANG 21

 

 

Tu Do Xuan Nham Dan 1962.pdf   < == click để xem hay right click để download 

 Báo Xuân

 

CAO - LÃNH

VƯƠNG HỒNG SỂN

 

Ngày nay, người mới cũng như người cũ, không ai còn xa lạ gì với danh-từ «Cao-Lãnh» Có danh nhứt, ai ai cũng công nhận, là : gà Cao-Lãnh, có tài đá hay đâm lẹ ; đòn đã dữ thêm cựa rất nhạy, mỗi cú đá đều có máu rơi ; nói về nhân-vật thì đặc-tính của đàn ông Cao-Lãnh là vừa bí mật gan lì, thêm rất ưa làm quốc sự : Xưa đời Tây đến đến Tây đi, dân Cao-Lãnh ngồi tù ra khám như ăn cơm bữa...

 

Nhưng nói gì thì nói, đến như danh từ « mỹ-phẩm đệ nhứt hảo hạng » thì phải dành riêng để tặng đàn bà Cao Lãnh. Gái Cao Lãnh giỏi tài đảm đang tháo vác, thêm được hình vóc mảnh mai, tuy mảnh mai nhưng chàng trai xứ lạ chớ khinh mà lầm.Quanh năm sinh sống trên Sông Cái, buông tay giặm bắt tay chèo, sông trong nước ngọt mà chờ, thêm cha mẹ vốn nhà dầu óc, Cao Lãnh có miễu thờ Thần-Nông Từ lại cũng có thầy dạy nghề võ, cho nên gái Cao Lãnh, Trời phú cho một sắc đẹp thiên nhiên, thêm cô nào cô nấy đều « có miếng » tùy thân, nói cho mà biết ! Trước khi mất hạnh, mất bù-câu vào đấy, làm gì các cô nước mặn làm cho lại cô nước ngọt. Miệt Cà mau, Sóc trăng, xuống nước phèn ăn chưa nứt nẻ, các cô ở đây phải có thật nhiều giấy xăng, giấy năm trăm, để đắp lên trên dấu vết hà ăn. Nói chính đáng, làm trai sao khỏi tính hiếu sắc? Trai Miền Nam luôn luôn ao ước muốn kén vợ Cao Lãnh,Nhà-Mân. Tuy vậy hễ trời sanh voi thì sanh cỏ dâm khuyên các cô «bị hà ăn chân» khoan vội giận tôi, tội nghiệp, và nên nhớ : đời nay người ta có mắt nhung, mũi dọc dừa, chưa chắc gì hơn lúa bồ, muối đụn.

Gót son thì mặc gót son,

Giầy bạc cuốn tròn, đuổi gót chạy ngay !

Bấy lâu quen dùng danh từ « Cao Lãnh » rời nhằm tai. Đời là đời tranh đấu, cũng không ai hơi đâu tìm tòi căn cội những danh từ ấy làm chi cho mệt. Công hay tội, báo Xuân báo hải, cứ châm tiền giả khiến phải điên đầu chạy cho ra bài nạp cho họ mới được yên thân. Và bài dành cho báo Xuân Tự-Do năm Nhâm-Dần (1962) là gốc tích « Chợ Cao-Lãnh ».

 

Ông Câu Lãnh, tên thật là Đỗ Công Tường. Không biết quê quán của ông ở xứ nào, duy biết vào đời vua Minh-Mạng (1821-1840), ông nhận lãnh làm Câu-đương làng Mỹ-Trà thuộc thuộc tổng Phong-Thạnh, tỉnh An-Giang (Sa-đéc).

Lạ thay, có nhiều danh từ xét ra chưa hơn trăm năm mà đã cũ kỹ xa xôi. Lâu ngày không dùng trở nên lạ tai, mỗi khi nhắc đến, khiến người đời vừa cười hình mùi, và tai hại thay, lại còn hiểu lầm là khác. Đốt không chịu dốt, nghi oan cho người, cái mới bậy dừ ! Tỷ dụ như mới đây tôi than phiền với một ông bạn Bác hà, rằng đường Võ Tánh có một ngôi mộ của một người tử vì đạo mà không ai bảo tồn, để cho nhà cửa tân tạo xây cất gần che bít. Trong câu tôi nói, tôi dùng hai chữ « Lái Găm », chưa chi ông bạn tôi đã xua tay giây nảy, trách tôi sao xấc xược, dám phạm thượng, nhè một vị Á-Thánh của đạo Da Tô mà gán cho nghề « lái nọ mới kia » ! Tôi phải cầu cứu với ông Huỳnh Tịnh Của, lật bộ « Đại Nam Quấc Âm Tự Vị », gí vào tận mặt bạn tôi, khi ấy bạn tôi mới chịu nhe răng cười mà đọc lân với tôi :

« Lái : ..., người làm chủ dưới thuyền ; nhà nghề ».

« Ông Lái : người làm chủ dưới ghe buôn ».

« Lái buôn : người đi buôn thuyền, buôn bộ »

« Lái phụ : người giúp cho chánh lái buôn ; người lãnh việc coi lái ».

(Đại-Nam Quấc-âm Tự-vị Huỳnh-tịnh-Của).

 

Trở lại, và để tìm hiểu danh-từ « Cao-Lãnh » thì xét ra trước trước, dường :

« Câu : » lánh lấy, gánh lấy ».

« Câu đương : » chức việc làng coi sóc các việc trong làng ».

« Câu họ, nguyên là câu đương họ đạo, chức thứ hai coi việc trong họ (nói về đạo Thiên Chúa) ».

(Đại Nam Quấc Âm Tự Vị Huỳnh tịnh Của).

 

Như vậy, Câu Lãnh là ông hương chức làng có tên như vậy, và bởi húy trọng tên người, nên gọi ông bằng chức.

Theo lời một vị cố lão, nay đã khuất, thuật lại với tôi lối ba mươi năm về trước, nay nhờ lúc ấy tôi đã có tật ghi chép, đến nay giây má còn đây, dạy rằng : « khoảng năm Mậu Dần triều vua Gia Long (1818) có hai vợ chồng ông Đỗ công Tường tự xuất của nhà tao lập ra một nhà dài để cho bà con trong xóm có chỗ ấm cúng tụ tập mua bán, khỏi lo lắng nắng táp mưa sa.

 

Lâu ngày chợ thêm sung-túc, làng xã đặt tên « Mỹ-Trà » như nay còn nghe thấy, nhưng làm gì thì làm, cái tên nôm - na « Chợ Cao - Lãnh » dân không bỏ và vẫn tiếp tục dùng mãi với nhau cho đến bây giờ. Đã nói ấy là vì quen miệng, cũng như thiên hạ, đến nay, trong xóm quê, quen nói « ngày An-nam » hoặc vắn hoa chút nữa thì nói: « ngày theo âm lịch », chớ ít nghe ai gọi «ngày Việt Nam» ! Tính ra độ non một trăm năm chục năm (1818-1961), thì Mỹ-Trà còn hoang-vu, dân cư thưa thớt, nhà cửa lèo-hèo Đêm không hết hai bàn tay, vì đất tuy mầu-mỡ và vốn là đất phù-sa béo tốt không đất nào bì kịp, nhưng thảm một nỗi nhơn-công tay cày tay cấy không đủ chống với nạn nước lớn, nạn rắn rết trộm cướp cũng như nạn sợ ma dắt hoang đồng vắng. May sao vợ chồng ông Câu Lãnh ra gương tốt, thì thân, xuất của tư, khai phá hoang-địa mở mang thành khoảnh, lập nên chợ búa, dâng mật « tiền hiền », vì vậy dân trong thôn-xã, tôn lên làm chức câu-đương nên gọi là ông Câu-Lãnh.

 

Xóm vừa đông đúc, chợ nhóm vừa có mồi thạnh vượng, tính từ năm Mậu Dần (1818) đến năm Canh Thìn (1820), bỗng trong xứ bị nhơn. Mà thuở ấy, thuốc men làm gì có nội với giặc trời (thiên tai), Bịnh dịch lệ, ôn hoàng, thiên hoa trái trời, đều rất sợ, sợ đến cứ tên không dám nói và gặp đến thì cho rằng « đụng », « trời kêu ai nấy dạ », đó là thiên tai, vô phương cứu chữa. Mỗi khi trong xóm bị nhơn, thì chỉ biết vái van, ở hiền gặp lành, thành tâm khẩn nguyện, làm lễ tống ôn tống gió, làm tàu kết bè chuối cúng tam sênh dâng đầu heo, « đưa chúa Ôn » đi chỗ khác, hoặc cầu xin nơi đấng thiêng liêng phù hộ phò trì... Dịch khí năm 1820 hoành hành chợ Cao Lãnh, bảo hại trong xóm người hao hơn phẩn nửa, thiên hạ náo động, nhưng đều thúc thủ vô sách. Giữa lúc nhơn dân kinh tâm tán đởm ấy, tội nghiệp vợ chồng ông Câu Lãnh lo lắng nhiều hơn ai hết. Thấy đồng bào hao quá nhiều, cầm lòng không đậu, vợ chồng bèn đặt bàn giữa trời, ngay sân chợ, cầu xin thế tử cho nhơn dân bổn xã, miễn sao giặc Trời sớm dứt, mau mau yên ổn trong xóm trong làng. Khẩn nguyện như vậy rồi, bát câu từ bữa đó, vợ chồng trường trai. Lòng thành tất nhiên hữu cảm : vái nguyện ngày mồng sáu, đêm được ngày mồng bảy rồi mồng tám... Bước qua ngày mồng chín, bà dụng giặc Trời buổi sáng, đến mười giờ tối đêm đó thì bà tất hơi. Trong nhà lo việc tẩn liệm chưa xong, thì đến lượt ông Câu cũng ơn mình, tay bắt chim - chim, qua mồng mười khoảng hai giờ sáng, cũng tắt thở theo bà trót thê. Khi cất đám đưa hai ông bà ra đồng an táng, trở về làng lạ thay cũng giờ ấy bịnh dịch dứt tiệt, bá tánh được bình yên như cũ. Mười người như một đều qui công cho vợ chồng ông Câu Lãnh cho rằng nhờ sự hy sinh cao cả của ông bà mà nhơn dân được mạnh lành. Ơn của hai ông bà xét ra rất lớn và để tưởng niệm công đức của nhị vị cứu tinh này, dân chúng từ ấy đều gọi chợ này là Chợ Câu Lãnh, tuy trong giấy tờ sở tấu chạy lên quan, thì dùng ba chữ « Mỹ-Trà thôn ».

 

Nhưng cũng ác nghiệt thay, miệng người dân Miền Nam ăn mắm ăn muối đã quen, nên có tật rất lớn là « tật nói đớt » hay nói không sửa giọng, dùng giọng. Vì lười cũng có, để tránh « khò độc » khó nói cũng có, vì tưởng như vậy là « theo người theo ta » cũng có, hay vì nhiều nguyên do bí ẩn tôi xin chịu dốt, mà người miền Nam phát âm ít khi đúng giọng đúng chữ, và thường nói trại ra : thay vì « Câu Lãnh », húy kỵ thét rồi gọi « Cao Lãnh » cho đến nay đã thành danh, dẫu muốn sửa sai cũng muộn rất khó.

Năm tôi còn ở Sa đéc, tôi có lên Cao Lãnh chơi, lối 1928—1932, thì thấy tại Mỹ Trà có miễu thờ nguy nga, không biết nay còn chẳng hay đã bị đốt phá mấy năm tao loạn mất rồi. Theo tài liệu tôi còn giữ được hình như miễu ấy tạo lập vào năm Đinh-mùi (1907) do lòng thiện tâm của hai ông Huỳnh kim Ngưu quen gọi « hội đồng Ngưu » (nghị-viên địa-hạt) và ông Bùi Hữu-Giảng, hương-chủ Mỹ-Trà thuở đó, kẻ bằng tâm người bằng sản, quyên tiền, xin phép, mua đất lập nên miễu-võ thờ ông Đỗ Công Tường, tục danh ông Câu Lãnh. Miễu xây trên bờ kinh Quản Khánh trổ qua sông Cái Sao, cách chợ Cao Lãnh không xa, và sau miễu có ngôi mộ chung của hai ông bà mắt năm xưa cách nhau không mấy ngày.

 

Câu liễn trước cửa miễu, tôi còn chép năm xưa là :

Mỹ kiểng Câu Đường, hữu chí lập thành sanh bửu cuộc,

Trà giang Lãnh thị, triêm ân thương mãi nhựt vinh ba.

Vì tài liệu viết tay, không sao câu chữ Hán, nên không dám viết lại bằng Hán Tự, để tránh lỗi lầm. Lại nữa, vì dốt chữ, nên không dám lấn mặt làm tàng.

 

(Viết tại Gia Định, số 5 đường Nguyễn-thiện-Thuật, ngày 5 tháng 11 dl. năm 1961)

 


TỰ DO XUÂN NHÂM DẦN 1962 — TRANG 21

TIẾNG « KHẤU » TRONG TỪ-NGỮ « SÂN - KHẤU » NGHĨA LÀ GÌ? Xuan_Viet Nam_1965

 


Xuan_Viet Nam_1965 (microfilm).pdf         64401

Trở về Kho Sách Xưa 1

HCD: Đây là bản OCR, nhận mặt chữ trên hình trang báo Xuân Viet Nam và đánh máy lại, tôi chưa dò từng chữ, nếu cần thì các bạn nên so lai với trang sách trong microfilm có thể download từ Quán Ven Đường link bên trên

Dưới đây tôi dùng OCR (Optical Character Recognition) viết lại thành dạng text cho dễ đọc. Bài dài quá tôi không dò hết được từng chữ máy làm OCR sai. Bạn nào nghiên cứu hay tham khảo xin đọc bản in chánh dạng PDF download từ link trên.

 

TIẾNG « KHẤU » TRONG TỪ-NGỮ « SÂN - KHẤU » NGHĨA LÀ GÌ ?

(Lời tòa soạn: Thế theo lời mời của mấy bạn trẻ trong bộ biên-tập, chủ-trương báo Xuân, ngoài mấy chuyện vui lạ, những hồi-ký, dật-sử, nên có những bài biên-khảo sưu-tầm về phong-tục văn-hóa Việt-Nam, chúng tôi đăng tải bài này, mong được giúp ích các bạn hiếu-học, nhất là những bạn sinh viên môn ngữ-học, hằng để tâm nghiên cứu và phát-huy tinh thần tiếng mẹ đẻ.)

LÊ-NGỌC-TRỤ

(Giáo sư ngôn ngữ học tại Đại học Văn khoa Saigon. Rất thiết tha những gì thuần túy tốt đẹp của Việt-Nam.)

 

Trong ngôn-ngữ, sự mượn tiếng lẫn nhau là việc thông-thường giữa các dân tộc có liên hệ với nhau về lịch sử địa-dư, về chính trị văn-hóa và xã-hội sinh hoạt. Song mỗi dân tộc có mỗi giọng phát âm riêng biệt, có mỗi tinh thần ngôn-ngữ thích-đáng, nên thường khó nói lại đúng y như giọng ngoại-ngữ, vì vậy, âm-điệu các tiếng mượn lắm khi biến-trại cách xa với chính âm của nó. Phát-âm đã chẳng được đúng như ngoại-ngữ, mà còn ráng uốn sửa đồng hóa tiếng mượn cho hợp với âm-hưởng của tiếng mình, dân-tộc nào cũng có xu-hướng ấy.

Tiếng Việt mượn nhiều tiếng của mấy dân-tộc láng-diềng, nhất là của Trung-Hoa, mà lối mượn lại càng đặc-biệt. Nhà nho mượn chữ Hán của kinh-điển sách-vở Trung-Hoa, nhưng không đọc theo giọng Tàu, lại phát-âm bằng giọng Việt. Kết-quả là tiếng Hán-Việt ngày nay. Rồi lại vịn vào tiếng Hán-Việt, ta biến-trại uốn-sửa âm-thanh của nó mà tạo nên nhiều tiếng Việt mới khác, để nó đủ ngôn-ngữ cung-ứng cho nhu-cầu xã-hội sinh-hoạt. Trong lúc ấy, bình-dân đại-chúng giao-thiệp tiếp-xúc với người Trung-Hoa, thì mượn thẳng ngay nơi giọng nói của họ, — giọng người Trung-Hoa miền Nam cũng như giọng người miền Bắc —, rồi cũng uốn-sửa Việt-hóa các tiếng mượn ấy. Kết-quả lâu đời được thông-dụng các tiếng mượn đã trở thành tiếng Việt-Nam thiệt-thọ, ngày nay khó nhận ra là mượn nữa.

Và tiếng Việt nhờ cấu-tạo theo hai lối nói trên, — lối nho-hóa là lối mượn của giới trí-thức đã khai-thác kho-tàng chữ Hán, và lối dân-hòa là lối mượn của giới bình dân —, mà được trở nên phong-phú dồi-dào. Chỗ đặc-biệt là các sự biến trại tiếng mượn đã theo một hệ-thống tinh thần Việt-ngữ.

Vì vậy, khi khảo-sát tiếng Việt, ta nên chú-trọng đến phương-diện Việt-hóa tiếng mượn, và hệ-thống biến âm của tiếng mẹ đẻ.

Trong lúc tìm hiểu nghĩa mỗi tiếng, mỗi từ ngữ để chuẩn bị công việc biên soạn một quyển tự-điển Việt-Nam, tôi thắc mắc không biết tiếng « khấu » trong từ ngữ « sân khấu » nghĩa là gì, nó là tiếng Việt thuần túy, tiếng Hán-Việt hay là một tiếng mượn đã Việt-hóa.

Tra mấy tự-điển của Paulus Của, Génibrel, Việt-Nam tự-điển của Hội Khai trí, không thấy ghi tiếng Khấu này. Từ-điển của Cordier, Đào văn Tập, Thanh-Nghị ghi trơn từ-ngữ « sân-khấu » và giải thích đại đề : « khoảng rộng trong rạp hát để diễn trò (scène). » Có lẽ mấy tác giả này chỉ vịn vào công dụng của sự vật mà giải-nghĩa từ-ngữ sân-khấu, chứ chắc không nhận-thức được ý-nghĩa của chữ khấu riêng rẽ.

 

Hai ông Lý-văn-Hùng và Thôi-tiêu-Nhiên trong quyển Mô-phạm Việt-Hoa từ-điển, nơi chữ

khấu có ghi và giải thích bằng Hán-văn từ-ngữ sân-khấu : « Khấu đầu tạ ân chi trường, kim tả dụng chỉ hỉ trường », đại ý nghĩa là : « chỗ (ban hát) « khấu đầu » (cúi đầu) tạ ân (khán giả), nay mượn dùng để chỉ trường hát. » Có lẽ tác-giả muốn dùng từ-ngữ khấu đầu để gợi ý-nghĩa của chữ khấu trong từ-ngữ « sân khấu » chăng ? Như thế, thì mặc nhiên tác giả cho tiếng khấu là tiếng Hán-Việt và nó là một tiếng của từ-ngữ « khấu đầu ».

Chúng tôi không vừa ý với câu giải-thích trên về chữ khấu, và suy cứu theo khía cạnh khác, cho rằng đây là một tiếng mượn đã bị biến âm, lâu đời khó truy ra tiếng gốc, nên không hiểu được ý nghĩa chính-xác của nó.

 

Theo sử, nghệ-thuật hát bội được truyền sang nước ta từ thời nhà Trần, Việt-Nam sử-lược Trần-Trọng-Kim ghi : « khi quân nhà Trần đánh được quân nhà Nguyên (1284-1288) có bắt được một tên hát bội là Lý-Nguyên-Cát. Sau nó ở lại nước ta lấy cổ truyện mà đặt thành bài tuồng rồi dạy người mình hát. Khi con hát làm trò thì mặc áo gấm, áo vóc, theo dịp đàn, dịp trống mà hát. Sự hát tuồng của người Việt-Nam khởi đầu từ đấy. » Vậy lối hát này do người Nguyên truyền sang, và người Nguyên là dân Mông-Cổ nói giọng Trung-Hoa miền Bắc.

Theo dữ-kiện ấy, tôi tìm tài liệu trong sách Hán, thấy bộ Từ Hải nơi chữ khoa bạch 科白, giải thích như vầy : « Hí kịch trung hữu khoa bạch. Thủy ư Nguyên nhơn khúc bản, khoa vi cử chỉ, vị dĩ động tác biểu tình giả ; bạch vi ngôn đàm, vị dĩ ngôn ngữ biểu tình giả » : Đại ý là : « Lối hát tuồng có khoa bạch, khởi đầu từ thời nhà Nguyên. Trong bản tuồng, khoa là cử-chỉ kể khi dùng điệu bộ động-tác để biểu diễn tình cảm ; bạch là nói-năng, kể khi dùng lời nói đối-đáp hát xướng để biểu diễn tình-cảm ». Quyển Hán-Việt tự-điển của Thiều Chửu, nơi chữ Khoa nghĩa thứ 9, cũng giải-thích rằng : « Trong các bản tuồng chia ra từng tấn gọi là khoa bạch, khoa là chỉ về phần cử-động, bạch là chỉ về phần nói năng. » Vậy khoa là cử-động, là điệu bộ múa-men khi diễn kịch.

 

Chữ khoa  phát âm theo giọng Hán-Việt, giọng Tàu miền Bắc phát-âm là « khỏ » (!) hoặc « khổ » hay « khớ ». Và khoa bạch là « khớ bái ». Có lẽ khi xưa đã mượn âm khổ, khớ rời Việt-hóa thành ra tiếng khấu ngày nay chăng. Và nếu quả như vậy, ta mới hiểu được lọn nghĩa từ-ngữ « sân khấu » là : « nơi kép hát khoa bạch, cử-động múa-men hát xướng để diễn kịch ». Xét về âm với nghĩa của tiếng khấu, chuyển gốc ở từ ngữ « khoa bạch » là lối hát của người Nguyên bày ra, thì nó phù-hợp với lịch-sử đã ghi về lai-lịch lối hát bội, chúng tôi cho có thể là hợp lý lắm, xin thỉnh-giáo quý vị cao minh.

Vả chăng, do chữ « khoa » với nghĩa « cử-động », ta cũng mượn thẳng bên âm và nghĩa của tiếng Hán-Việt mà tạo thành tiếng khoa, trong câu « khoa chân khoa tay » là « múa chân múa tay » (Việt-Nam tự-điển). Hoặc đã biến âm tiếng khoa của Hán-Việt thành tiếng khua, trong câu « khua tay múa chân » « khua môi khua mỏ »

« Khua tay múa chân », trong Nam cũng nói « Huơ tay múa chân » hoặc « Huơi tay múa chân », hai tiếng huơ, huơi này cũng có nghĩa là « cử-động » song thuộc về tự-nguyên khác, do gốc chữ huy . Còn câu « khua môi khua mỏ » cũng có ngụ-ý « khoe-khoang lớn lối, nên tiếng khua một phần cũng bị ảnh-hưởng liên-hệ của tiếng khoa là « khoe ».

Nhân tiếng khua, chúng tôi tìm thấy một tự-nguyên khác, khi khua nghĩa là « cử-động mà có tạo nên tiếng động, như « khua động », « khua chén », « khua bát », « khua chuông gõ mõ »

« Tiếng tiều khua như đứt buồng gan » (chinh phụ)

« Gió cây khua phách, nước khe dạo đàn » (Phương Hoa) thì tiếng khua này chuyển nơi chữ tiếng khấu  là « gõ », « khỏ », là « khảy » hoặc « gảy » đàn. Hán-Việt tự-điển Thiều Chửu nơi khấu, nghĩa thứ 4, ghi : khấu môn : gõ cửa ; nghĩa thứ 6 : « gảy, lấy tay gảy đàn gọi là khấu huyền. »

Căn-cứ vào âm và nghĩa mà truy nguyên, ta thấy tiếng khấu  cho ra tiếng khỏ (gõ)khua và khảy (gảy), hay nói ngược trở lại, các tiếng Việt « khảy (gảy) đàn, khỏ (gõ), « khua động » chuyển nơi tiếng khấu  của Hán Việt.

Và tiếng khoa  cho ra các tiếng Việt : khoa, khua cử động và khấu, nếu khấu  cho ra « khua động » thì khoa cho ra khua (cử-động) và khấu, có thể hiểu được lắm. Sự liên-quan suy-loại này giúp chúng tôi vững tin rằng tiếng khấu trong từ-ngữ « sân-khấu » chuyển gốc nơi từ-ngữ Hán-Việt : khoa bạch.

Đây là một thí-dụ trong muôn vàn để chứng minh khả-năng đồng-hóa tiếng mượn trong ngôn ngữ ta, là sức biến-hóa phát-triển của tiếng Việt nó tiêu-biểu sức sống mãnh-liệt trường-tồn và tinh-thần bất-khuất, tự-chủ, vượng-tiến của dân tộc Việt-Nam.

Với chủ-trương « xây dựng quốc-học » của Chánh-phủ và Bộ Văn-hóa giáo-dục, chúng tôi hy-vọng và tha-thiết được thấy thực-hiện một Viện Ngữ học để đôn-đốc khảo-cứu tiếng mẹ để thâu-thập và điển-chế ngôn-ngữ, hầu soạn nên bộ tự-vị Việt Nam.

Có hiểu thấu được tinh-thần ngôn-ngữ, hồn thiêng của đất nước, mới ý-thức sâu-xa tinh-thần quốc-gia, nghĩa đồng-bào, mới cảm-thông lẽ sống còn của dân-tộc mà thương yêu đoàn kết với nhau.

 

Xuan_Viet Nam_1965 - Xuan_Viet Nam_1965

 

Xuan_Viet Nam_1965 (microfilm).pdf         64401< == click để xem hay right click để download 

Tờ báo Xuân nầy xuất bản năm 1965 được lưu trử dưới dạng microfilm trong một trường Đại học Mỹ. Download link trên nếu thích. Còn mấy mươi tờ báo Xuân ngày xưa nơi đây Báo Xuân

Dưới đây tôi dùng OCR (Optical Character Recognition) viết lại thành dạng text cho dễ đọc. Bài dài quá tôi không dò hết được từng chữ máy làm OCR sai. Bạn nào nghiên cứu hay tham khảo xin đọc bản in chánh dạng PDF download từ link trên.

 

TIỂU THUYẾT TRUNG HOA

Nguyên tác: LÂM NGỮ ĐƯỜNG

Dịch giả: NGUYỄN XUÂN DÂNG

 

Tiểu thuyết gia ở Trung quốc thường có 1 lối tâm lý đặc thù, họ không sáng tác tiểu thuyết là vì Nho giáo, làm cho kẻ không đáng kể và sợ các hiện đại phương tây bài xích nữa, cho nên họ thường đặt tên mà không dám lộ cho ai biết. Xin lấy việc gán đầy làm tỉ dụ : ông Thị Nhị Minh về thế kỷ thứ 18 viết 18 quyển « Đã tấu bộc ngôn ». Vẫn nói tiểu thuyết là thật hay có nhiều ý kiến trác tuyệt cao cùng những tư tưởng lớn, cũng giống lối ký chuyện truyền thuyết, văn chương ông cũng giống như những văn chương điển hình của các văn nho gia chính thống hiện còn ghi chép trong bộ Hạ Mậu Tư toàn tập. Tuy cũng là soạn giả cuốn « Đã tấu bộc ngôn » không dám đề tên người soạn, nhưng ta thấy chính ông là soạn giả cuốn « Đã tấu bộc ngôn » vì căn cứ trên những văn chương trọn vẹn và toàn bộ của sách mà chứng minh thì rõ. Mùa thu năm 1890 đăng trên một tạp chí văn học, bộ Hạ Mậu Tư toàn tập, khiến cho ai cũng được lưu truyền mãi mãi, không biết vì tánh tò mò hay là không muốn đem bộ tiểu thuyết này vào trong tạp chí, kỳ thực bộ tiểu thuyết này là tác phẩm văn học rất hay của Hạ Quân. Lại như bộ « Hồng lâu mộng » mãi đến năm 1917 mới do lỗi khắc chương các bác sĩ Hô Chân xác nhận tác giả là Tào Tuyết Cần. Ông là trong các trí thức gia tàn dư của triều đại cũ Trung quốc và có thể nói là Tân văn đại gia duy nhất không thiên tuyệt hẳn (nói về lối văn và bạch thoại). Đến nay chúng ta vẫn chưa hiểu rõ tác giả Kim Bình Mai là ai. Và đến nay chúng ta cũng chưa quyết định trong 2 người Thị Nhị Am cùng La Quán Trung, ai là tác giả chính của bộ Thủy Hử.

Đoạn mở đầu kết của bộ « Hồng lâu mộng » đó là 1 thứ đặc trưng trong thái độ đối với tiểu thuyết, ta hãy xem họ nói ra sao :

“Nói chuyện lúc bà Nữ Oa luyện đá vá trời, bà đã luyện thành 36501 khối đá (ngoan thạch cao 12 trượng, rộng 24 trượng ở tây khe núi thuộc Đại hoang sơn). Bà Nữ Oa chỉ dùng hết 36500 khối, còn thừa 1 khối bỏ dưới Thanh canh phong. Sau khối đá này được 1 tăng 1 đạo mang xuống hồng trần 1 chuyến, lại trải qua không biết mấy đời mấy kiếp, nhân có Không Không đạo nhân đem tạo điêu đầu tiên, nên đi qua dưới Thanh canh phong. Vô kể Đại hoang sơn này, chợt thấy 1 khối đá lớn, nét chữ trên mặt rất phân minh, bên chép rõ ràng, kể rõ ngọn xuống, chốn đâu cùng những việc vân vật trong gia đình, cảnh nhân tình như thế cả. Không Không đạo nhân xem qua 1 lượt được biết khối đá này có chép lại hiện sao lại từ đầu đến cuối đem truyền cho người đời. Sau này nhân Tao Tuyết Cần xem xét trong 10 năm ở Điêu hồng hiên thêm bớt 5 lần soạn thành mạc lục chia ra chương hồi và đề là « Hồng lâu mộng ». Trên đây tức là duyên do của bộ Thạch đầu ký.”

Thơ :

Đầy dẫy lời hoang đường
Một mớ lệ đau khô
Đều do tác giả si,
Ai hiểu mùi trong đó.

 

Đoạn kết thúc của câu này, chẳng ngay vào lúc hoạt kịch trong đời đến tối lúc rất bi thảm, khi mà vai chính Giả Bảo Ngọc gột đầu đi tu, cái linh tính đa tình thiện cảm của Bảo Ngọc đã trở lại nguyên hình khối ngoan thạch của bà Nữ Oa luyện khi xưa, mà vì Không-Không đạo nhân vừa nói lại gì sau dưới Thanh canh phong, ông nhìn thấy khối đá khắc chép bao nhiêu là câu chuyện nhân duyên kết quả, nhân lại soạn thành 1 bản, tìm đến Điêu hồng hiên trao cho Tao Tuyết Cần. Tao tuyết Cần cười nói : « Đã là giả cũng thơm ngon (lời nói quả mùa) nhưng không có cho nhân gian trái ngược. Vui được cũng 2, 3 bạn đồng chí, rượu say cơm no, rượu đã đến khuya, cũng tiêu khiển đôi chút, thì cần gì những bậc đại nhân hay tiên sinh mà để truyền cho đời. Cứ như cái lối tìm gốc xét nguồn xa người thì có khác gì kẻ khát vọng mà tìm không ? »

Không-Không đạo-nhân nghe xong ngửa mặt lên trời cả cười, ném bản sao xuống đất rồi lẳng lặng đi ra. Vừa đi ông vừa nói : « Quả nhiên là phù hoa hoang đường, không những tác giả không biết, sao giả không biết mà duyệt giả cũng không biết. Chẳng qua là văn chương chủ yếu mua vui mà thôi. Lại nghe nói người đời sau này bàn truyện ký này cũng có 4 câu thơ, để làm lời nói về duyên do của tác giả :

Nói đến chỗ đau khổ
Hoang đường thật đáng bi
Cuộc đời là cảnh mộng
Chớ nên cười người si »

 

Đây tuy là những câu nói hoang đường không thể tra xét vào đâu được, nhưng kể ra thật là cái động lòng người, bởi vì lại điểm lại thì tinh thần nhân vật trong chương này có chỗ hư thực và tìm vui thích mà ra. Sáng tác của họ hoàn toàn do động cơ sáng tác chân thành mà ra không phải vì danh vọng hay danh dự. Những người sáng tác tiểu thuyết không được đến giải thưởng hay danh dự mà còn vì sợ sáng tác tiểu thuyết nguy đến sinh mạng nữa.

 

Giang âm là quê quán của Thị Nhị Am, tác giả truyện Thủy Hử, đến nay vẫn còn lưu truyền một câu chuyện nói về Thị Nhị Am vì sao đã tránh khỏi sự nguy hiểm đến tính mạng. Cứ lối truyện thuyết thì Thị Nhị Am quả không hề ở vị trí đã biết trước những việc xảy ra. Nguyên lai trước đó ông không muốn làm quan với triều nhà Minh mà viết bộ tiểu thuyết này để tiêu khiển trong thời gian rỗi. Một hôm Chu thái Tổ cùng với Lưu Bá Ôn du hành đến Giang án. Lưu Bá Ôn là bậc đại học sĩ khôn ngoan, khi đó vì giúp nhà Minh có công, nên được triều đình coi vào bậc cột trụ. Bản thảo bộ Thủy Hử của Thị Nhị Am để trên bàn, không may bị Lưu Bá Ôn nhìn thấy. Bá Ôn với bút mực tài ba bỗng đọc thấy truyện sinh động ghê gớm nên lập tức tâu lên hoàng đế, nói rằng đây là chuyện có thể làm loạn lòng người. Thị Nhị Am bị bắt đem ra tra hỏi. Khi hỏi đến tác giả, ông giả vờ không biết chữ, chỉ nói là người chép thuê. Nhờ đó mới thoát chết. Cho nên có thể nói rằng : tiểu thuyết là một thứ văn chương nguy hiểm nhất.

Từ đó về sau tiểu thuyết ở vào hoàn cảnh không được coi là văn học chính thống. Những nhà nho chỉ coi tiểu thuyết là trò mua vui, không đáng kể. Nhưng vì vậy mà tiểu thuyết Trung Hoa mới có thể phát triển theo một hướng rất riêng, giàu sức tưởng tượng, nhiều tình cảm, nhiều sáng tạo, và cũng nhờ đó mà sinh ra những tác phẩm bất hủ cho đến ngày nay.

 

Theo lời bình luận của ký giả thì Hồng lâu mộng không hồ danh là một trong các tác phẩm vĩ đại của thế giới. Sự miêu tả nhân vật trong tác phẩm, nhân tình thấn thiết mà phong phú, đề tài cùng cố sự đều hoàn mỹ. Có thể xứng đáng với sự suy tôn sùng bái mà không hồ thẹn. Nhân vật của tác phẩm rất sống động so với bạn bè còn sống của chúng ta đối với chúng là còn thân cận thực tất khẩn thiết hơn, mà mỗi một nhân vật chỉ cần chúng nghe giọng điệu của lời nói là chúng ta đã có thể hiểu rõ là ai rồi. Tóm lại tác phẩm này đã cho chúng ta một câu chuyện cũ vĩ đại.

 

       Dao đài, quỳnh quán một tòa Đại-quan-viên huy hoàng tráng lệ phú quí vinh hoa, một họ nhà quan đời đời trâm anh, bốn chị em gái cùng một cậu con trai lại thêm một người con gái có tư-dung diễm-lệ cùng sinh trưởng một nơi tóc tai cọ sát với những cảnh sinh hoạt vui chơi đùa giỡn; vài chục tì nữ rất mực thông minh, có kẻ tính tình ôn hòa nhã nhặn, có kẻ nồng nảy ngay thẳng, cũng có mấy người đem lòng luyến ái chủ nhân, cũng có mấy người tôi tớ không trung thành với chủ lại xen vào những vụ đánh ghen bêu xấu. Một vị lão thái gia cả năm chỉ mải lo việc quan ít khi ở nhà bao nhiêu công việc vật đều giao cho hai ba người con dâu nhưng cũng thu xếp đâu vào đấy cả. Một người thạo công việc, rất thông minh làm liều, đanh thép, là Phượng-Thư. Chủ động Gia-bảo-Ngọc là một cậu bé đang vào thời kỳ xuân tính phát động, vốn tính thông minh, linh lợi, thích len lỏi trong bọn phấn sáp. Cứ như trong truyện Gia-bảo-Ngọc ở trên cõi tiên sa xuống cõi trần trải qua kiếp vận để hiểu rõ tình duyên tức là nghiệp chướng trong cõi đời này. Cách sinh hoạt của Gia-bảo-Ngọc cũng giống như những đứa con một của những nhà đại gia ở Trung-Quốc, được săn sóc nuông chiều hết sức, hơn nữa là sự nịnh ái của bà nội. Bà nội là một vị lão thái thái uy quyền rất cao trong gia tộc. Nhưng Gia-bảo-Ngọc cũng có sợ một người đó là phụ thân của chàng. Bảo-Ngọc một khi nhìn thấy phụ thân thì không dám cựa. Bọn chị em trong Đại quan viên người nào cũng yêu quý Giả-bảo-Ngọc mà sự ăn uống thực ngủ của Gia-bảo-Ngọc đều do mấy người nữ tì quản cố, thậm chí họ phải hầu hạ chàng tắm rửa, và trông nom cho chàng thức, ngủ thâu đêm. Giả-bảo-Ngọc chung tình với Lâm-đại-Ngọc, Lâm-đại-Ngọc là một vị tiểu cô nương không cha mẹ ở nhờ nhà họ Giả, và là biểu muội của Giả-bảo-Ngọc. Nàng là một cô gái đa sầu hay ốm, nàng phải chứng tiêu hóa không tốt. Cứ phải dùng yên sào nhưng nhan sắc kiều diễm cùng tài thơ của nàng thì hơn hẳn bọn chị em, nàng yêu Giả-bảo-Ngọc với một tấm lòng hoàn toàn thuần khiết chân thật của xử nữ. Bảo-Ngọc lại có một người chị họ là Tiết-Bảo-Thoa nàng cũng yêu Bảo-Ngọc, nhưng nhiệt tình của nàng chỉ ngấm ngầm mà không bộc lộ, tính nàng ưa chuộng thiết thực, theo sự nhận xét của bậc già cả thì nàng so với Đại-Ngọc, có thể là người vợ xứng đáng hơn. Nên sau cùng do mưu vị lão thái thái làm chủ, dầu Bảo-Ngọc cùng Đại-Ngọc mà định việc hỏi Tiết-Bảo-Thoa cho Giả-bảo-Ngọc. Đại-Ngọc mãi đến lúc Bảo-Ngọc cùng Bảo-Thoa sắp thành hôn mới được biết tin này, làm cho nàng quá đau đớn mà phát ra tiếng cười cuồng loạn 1 hồi rồi hồn lìa khỏi xác. Thế mà Giả-bảo-Ngọc không hề biết gì cả, mãi đến đêm thành hôn Bảo-Ngọc mới nhận ra mưu mô của cha mẹ, nên biến thành con người ngây ngô hình như bị lạc mất hồn phách. Sau cùng chàng bỏ nhà đi tu.

 

Những việc kể lại rất rõ ràng kỹ lưỡng trên đây đều là miêu tả sự hưng suy của 1 đại gia tộc. Cái hoàn cảnh bất hạnh trong gia đình cứ lần lượt diễn tiến cho đến đoạn cuối làm cho người phải nghẹn hơi. Sự hoan lạc trong thời kỳ toàn thịnh qua đi, hiện tượng khuynh gia bại sản cứ phảng phất trên nét mặt mọi người không còn những bữa tiệc dưới trăng trong Tiết Trung thu, mà chỉ nghe những tiếng quì khóc than gào của những nơi đình viện tịch liêu; những cô gái mỹ miều xưa kia đều lớn lên và lấy chồng về các gia đình khác; những thị nữ hầu cận Bảo-Ngọc hoặc bị đuổi hoặc theo bôi giá hết, mà không may nhất là Tình-Văn vì có giữ tình khiết cùng chân tình thì lại hương tàn ngọc nát. Hết thảy ảo ảnh đều tiêu diệt.

Vì như có người phê bình là Hồng-lâu-Mộng có thể làm hủy diệt 1 quốc gia, nếu như thế thì nó đã hủy diệt Trung-quốc từ lâu rồi. Đại-Ngọc cùng Bảo-Ngọc đã thành người tình của toàn dân tộc, nhưng cũng có nhiều nhân vật đáng làm gương mẫu để cho người nhận biết: tính nhiệt liệt của Tình-Văn tính ôn nhu của Tập Nhân, tính hào sảng của Thỉ-Tương-Vân, tính đoan trang của Thám-Xuân-Tính linh tuệ của Diệu-Ngọc, tính biến bác của Phượng-Thư, mỗi người có 1 tính cách, mỗi người có điềm đáng quí, mỗi người đại biểu 1 khuôn màu đặc thù. Muốn thử tính khí của 1 người Trung-quốc phương pháp rất dễ dàng là hỏi xem họ thích Đại-Ngọc hay là thích Bảo-Thoa. Nếu họ thích Đại-Ngọc tức là họ theo chủ nghĩa lý tưởng; như họ tán thành Bảo-Thoa là họ theo chủ nghĩa hiện thực; như họ thích Tình-Văn thì họ có thể là 1 sáng tác gia tương lai; như họ thích Thỉ-Tương-Vân thì họ cũng thích thơ Lý-Bạch. Nhưng chính kỷ giả đây thì lại thích Thám-Xuân vì nàng có cả tính chất nhu hòa của 2 người là Đại-Ngọc cùng Bảo-Thoa, nên sau này nàng được hạnh phúc kết hôn làm một người vợ hiền khuôn mẫu. Cá tính của Bảo-Ngọc rõ ràng là mềm yếu không có 1 chút khí khái anh hùng nào thật không đáng được thanh niên sùng bái. Nhưng không kể khí khái ra sao, thanh niên nam nữ Trung-quốc đều đọc đi đọc lại 7, 8 lần bộ tiểu thuyết này mà còn thành lập một môn học vấn chuyên môn gọi là « Hồng học » với cái địa vị tôn sùng cùng những cuốn sách nghiên cứu trước tác rất nhiều, thật không kém gì những sách bình chú về trước tác của Shakespeare cùng Goethe.

 

Hồng-lâu-Mộng có thể đại biểu cho nghệ thuật tá-tác tiểu thuyết 1 mức độ khá cao của Trung-quốc. Nói tóm lại căn cứ vào nội dung của các tiểu thuyết của Trung-quốc có thể chia ra mấy loại điển hình. Những loại tiểu thuyết rất nổi tiếng có thể làm đại biểu cho các loại xin kể dưới đây:

1 — Hiệp nghĩa tiểu thuyết - « Thủy hử truyện »

2 — Thần quái tiểu thuyết - « Tây du ký »

3 — Lịch sử tiểu thuyết - « Tam quốc chí »

4 — Ái tình tiểu thuyết - « Hồng lâu mộng »

5 — Dâm đãng tiểu thuyết - « Kim bình mai »

6 — Xã hội phúng thích tiểu thuyết - « Nho lâm ngoại sử »

7 — Lý tưởng tiểu thuyết - « Kính hoa duyên »

8 — Xã hội tả thực tiểu thuyết - « Nhị thập niên mục đổ quái hiện trạng »

Chia ra từng loại 1 cách nghiêm chính đâu phải là dễ. Như Kim bình mai tuy 4 phần năm là những văn tự dâm đãng, nhưng cũng thề cho là 1 bộ tiểu thuyết xã hội tả thực rất hay. Tiểu thuyết này dùng ngòi bút vô tình và linh hoạt miêu tả những chuyện bình dân phổ thông, bề dâng hạ lưu, thô hào liệt thân, nhất là địa vị của phụ nữ Trung-quốc ở về triều nhà Minh. Trên bộ loại chính qui của các loại tiểu thuyết, nếu theo nghĩa rộng chúng ta còn phải vào 1 loại « cố sự bút ký » nữa. Cố sự này là những truyền thuyết trải qua rất lâu đời. Loại « cố sự bút ký » này thì nên đem Liêu trai chí dị cùng Kim cổ kỳ quan làm đại biểu. Kim cổ kỳ quan là 1 tác phẩm ưu tú nhất trong loại « cố sự bút ký » lưu hành từ đời xưa, và phần nhiều là cố sự lưu truyền trải qua bao thời đại.


Trước giả từng đem rất nhiều tiểu thuyết Trung-quốc cứ theo thế lực lưu hành cao hay thấp mà chia từng bậc, nếu đem những thứ tiểu thuyết lưu hành trên các đường phố mà biên thành mục lục thời rõ là những tiểu thuyết mạo hiểm, mà người Trung-quốc gọi là tiểu thuyết hiệp nghĩa phải đứng đầu mục lục. Đây là một hiện tượng kỳ quái, vì những hành vi hiệp nghĩa cũng đúng cấm thường, bị cha mẹ hoặc giáo sư cấm đoán de-net tâm lý này thật khó giải thích. Ở Trung-quốc những chàng trai hiệp nghĩa thường hay xung đột với những tuần cảnh hoặc huyện quan, làm liên lụy đến cả gia tộc, những hạng con cháu này thường bị đuổi ra khỏi gia đình mà nhập bọn với xã-hội hạ lưu; những người dân trượng nghĩa hành hiệp có nhiều nhiệt tình rất quan tâm đến công chúng nên thường can thiệp vào những công việc của người khác, thay những người nghèo khổ mà ôm nổi bất bình, những người dân này thường bị xã hội đuổi ra và nhập vào bọn lục-lâm. Trung-quốc là một nước không có chế độ hiến chánh làm bảo đảm. Một người thường hay thay người nghèo khổ bị áp bức ôm nổi bất bình mà ở vào xã hội không có hiến pháp để đảm bảo thì nhất định chỉ là một người vong mạng. Những người lương dân an phận trong xã hội mà hoan nghinh những vị hào hiệp trong giới lục-lâm cũng vì như một người đàn bà yếu đuối mà hoan nghinh một đại hán, mặt mũi đen thui, râu quai nón, lông bụng sồm soàm. Ta thử nghĩ xem khi có một người nằm khểnh trong chăn mà đọc truyện Thủy Hử thì sự yên vui, vừa ý phần khởi không thể nói xiết được, đọc đến chỗ nói về hành vi dũng cảm nghĩa hiệp của Lý Quí thì tinh thần khích ngang thư thái đến thế nào.

 

— Nên nhớ tiểu thuyết Trung quốc thường thường nằm ở giường mà đọc. Tiểu thuyết thần quái thì ghi chép toàn những chuyện yêu ma cùng thần tiên cấu phép thuật là đã gom góp được một bộ phận rất lớn những cổ sự lưu truyền trong dân-gian, nhờ thế cổ sự này rất gần với tâm tính người Trung quốc. Trong mục « Trung quốc nhân dịch tâm linh » chương bốn trong bản thư, có nói đến tâm lý người Trung quốc có một quan niệm siêu tự nhiên thường thường lẫn lộn với hiện thực. Bộ Tây du ký, bác sĩ Timothy Richards từng đem dịch ra Anh văn gọi là « thiên-quốc cầu kinh kỷ » (A mission to Heaven) trong đó thuật chuyện mạo hiểm đi cầu kinh ở Ấn-Độ của Hòa-thượng Huyền Trang, nhưng chuyến mạo hiểm của ông có ba nhân vật, nửa vật nửa người làm bạn. Đó là hầu tử Tôn-Ngộ-Không, Trư-ra, Trư Bát Giới cùng một vị Sa Hòa-thượng. Bộ tiểu thuyết này không phải là một sáng tác nguyên thủy mà căn cứ những truyền thuyết trong dân gian về tôn giáo. Chuyện này chỗ rất đáng quí đáng hoan nghinh phải là nhân vật Tôn-Ngộ-Không, vì Ngộ-Không là đại biểu tâm lý ương ngạnh của nhân loại, vì Ngộ Không cứ mãi mãi thử làm những sự nghiệp không thể làm được. Ngộ Không ăn quả cấm ở Thiên cung đó là một quả đào đào như Eva ăn quả cấm trong Ai-đệ lạc-viên, mà phải chịu xử phạt trường kỳ là 500 năm khóa bằng giây sắt giam ở dưới chân núi đá, giống như Prométhée ăn trộm thiên quả mà bị giam. May gặp hạn giam vừa hết và do Huyền Trang tới mở khóa buông tha cho, vì thế Ngộ Không liền bái nhận Huyền Trang làm thầy và đảm nhiệm chức vụ bảo hộ việc đi sang Tây trúc, trên đường đi Ngộ Không phải chịu bao nhiêu yêu ma quỉ quái cố sức chiến đấu để mong lập công chuộc tội, nhưng tính ác độc trước kia vẫn còn tồn tại vì thế nên hiện hình biểu tượng một thứ nhân tính điêu ngoan dữ tợn, tranh đấu cùng với hành vi thánh triết. Trên đầu y đội một chiếc mũ Kim cô bất cứ lúc nào hề thứ tính của y phát tác phạm vào qui luật là Huyền Trang sư phụ của y niệm một câu kinh chú, lập tức mũ Kim cô trên đầu y càng bó càng chặt cho tới khi đầu óc rức rời như muốn nổ tung nên y không muốn phát tác nữa. Đồng thời Trư Bát Giới biểu tượng một căn tính nhân loại thú dục. Cái căn tính thú dục này về sau trải qua sự cảm hóa của của tôn giáo mà dần dần gột sạch. Những nhân vật kỳ dị này làm một chuyến trường chinh kỳ dĩ trên đường đi những dục vọng cùng những cám dỗ mê hoặc tranh giành không ngờ xuất hiện, tạo thành một chuỗi hoàn cảnh thích thú cũng khiến người hàng hai chiến đấu, hiền thần thông, thi ma lực, đấu bão pháp. Ở tai Tôn ngộ Không có dắt 1 cây bồng nhỏ, cây bồng này có thể biến tới một mức độ rất dài, không những thế mà y còn có một bản lĩnh như nhổ một chiếc lông chân có thể biến ra rất nhiều khỉ con để giúp y công kích kẻ địch mà tự thân y cũng có thể biến hóa, biến thành các khí cụ hay các thực dụng vật, đủ các kiểu các màu, y có thể biến ra chim loan chim hạc bay hiện ra con sẻ, con cá hoặc biến thành một tòa miếu, con mắt biến thành cửa, miệng biến thành cái ra vào, lưỡi thì biến ra tượng phật nếu yêu ma không để ý mà bước vào trong tòa miếu này thì sẽ bị miện y ngậm lại và nuốt vào bụng. Sự chiến đấu của Ngộ Không cùng với yêu ma thật là thần diệu, họ đánh đuổi nhau nhưng họ đều biết cưỡi mây nương gió chui xuống dưới đất không vướng, xuống nước không chết đuối, cái cách gánh nhau như thế làm sao em nhỏ nghe mà không thích cho được, ngay đến những hạng thanh niên trưởng thành, chỉ cần họ chưa tới trình độ « chuột » đã không buồn nhìn gạo thì đều lấy làm hứng thú.

 

Cái thói quen thích nói chuyện thần quái không chỉ hạn định trong những bộ tiểu thuyết thần quái, họ chen vào các thứ tiểu thuyết thậm chí như « Dã Tẩu Bộc Ngôn là một tác phẩm hạng nhất cũng không khỏi chịu cái lụy về thói quen này nhân đó mà giảm sắc. Dã Tẩu Bộc Ngôn là một bộ tiểu thuyết hiệp nghĩa kiêm luân lý. Cái thói quen thích nói chuyện thần quái lại làm giảm giá tiểu thuyết trinh thám cổ sự như bộ « Bao-công-Án » và làm cho tiểu thuyết trinh thám không thể phát triển hoàn bị được để cùng so sánh với những kiệt tác Âu Mỹ nhân vì thiếu quan niệm lý luận khoa học Bao-Công có thể là một đại trình thám gia trong lịch sử Trung-quốc và ông lại làm phán quan, ông giải quyết những vụ án ám sát bí ẩn nhờ những chỉ thị trong giấc mơ chứ không dùng đầu óc luận lý để phân tích như Phúc-nhĩ-ma-tư (?) Sự kết cấu lỏng lẻo của Tiểu-thuyết Trung-quốc gần giống như tác phẩm của D. H. Lawrence mà sự dài dòng thì gần giống những tác phẩm của Tolstoy cùng Dostoivsky trong tiểu thuyết Nga. Tiểu thuyết Trung-quốc cùng với Tiểu-thuyết Nga giống nhau rất rõ rệt. Vì họ đều có kỹ thuật tả thực chủ nghĩa, mà họ đều thích tả một cách tường tận họ chỉ thích giảng thuật có sự mà thiếu đặc tính chủ quan của Tây-Âu Cũng có tác giả miêu tả tâm lý rất tinh tế nhưng vì sự hiểu biết về tâm lý học chỉ có hạn. Cho nên nhiều việc cứ theo nguyện việc cũ mà thuật lại. Về sự miêu tả bức chân cải xã hội tà-ác thì Kim-bình-mai dẫu có chịu nhường The Brothers Karamazov. Tác phẩm về loại ái tình tiểu thuyết, kết cấu rất hay, Tiểu thuyết xã hội thịnh hành trong 1 thời từ 60 năm trước đây, kết cấu lan man đi lại giống như một bức gấm hỗn tạp, dệt những chuyện xưa việc lạ bằng đoản thiên ghép lại. Những đoản thiên tiểu thuyết chính thức thì mãi đến 20 năm trước đây cũng chưa có một tác phẩm nào hoàn mỹ ra đời. Các tân tác giả hiện đại đang cố sức miêu tả những tác phẩm giống như văn học Tây Phương mà họ đã đọc qua không kể là phiên dịch hay là sáng tác.

Trên đại thể, thì sự tiến triển mau chóng của tiểu thuyết Trung quốc, có thể phản chiếu sự tiến triển mau chóng trong cuộc sinh hoạt của nhân dân Trung quốc, sự tiến triển này rất to tát và hỗn tạp nhưng sự tiến triển không cốt ở thái độ nhanh chóng, sự sản sinh tiểu thuyết là chỉ để tiêu ma thời gian, nên có những thời gian nhàn hạ để tiêu ma mà độc giả cũng không cần chạy theo hỏa xa, nên cũng không không mong sự kết thúc. Tiểu thuyết Trung quốc cần đọc thong thả, vậy cần phải kiên nhẫn :

Bên đường đã có nhiều hoa nở

Mặc sức ai kia cứ hái hoa.

(Trích ngô quốc ngô dân)