VIỆT NAM (2006 – 2015)
**Thủ tướng Chính phủ
NGUYỄN TẤN DŨNG
(2006 – 2016)**
Những thành tựu nổi bật
Mười năm, tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng gấp 4,4 lần, từ 1.135,3 nghìn tỷ đồng lên 5.191,3 nghìn tỷ đồng; tốc độ tăng bình quân 6,29%/năm.
GDP bình quân đầu người tăng gấp 2,9 lần, từ 908 USD lên 2.596 USD. Ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm các nước đang phát triển có thu nhập trung bình và hoàn thành sớm nhiều Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ.Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực: tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ trong GDP từ 73,5% lên 76,5%. Lao động công nghiệp, xây dựng và dịch vụ trong tổng lao động xã hội từ 44,9% lên 56,4%.
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng gấp 4,7 lần, từ 69,2 tỷ USD lên 327,8 tỷ USD. Kim ngạch xuất khẩu tăng gấp 5 lần, từ 32,4 tỷ USD lên 162 tỷ USD, tăng bình quân 17,45%/năm. Dự trữ ngoại hối đến cuối tháng 6 năm 2016 là 35 tỷ USD.
Thu ngân sách Nhà nước tăng gấp 4,5 lần; bảo đảm các khoản chi theo kế hoạch. Nợ công đến hết năm 2015 bằng 61% GDP (quy định không quá 65% GDP); tất cả các khoản đầu tư đều tăng.
Tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng gấp 3,9 lần, từ 451,7 nghìn tỷ đồng lên 1.756,2 nghìn tỷ đồng. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tăng gấp 4,4 lần, từ 3,3 tỷ USD lên 14,5 tỷ USD.
Tổng số doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh tăng gấp 4,2 lần, từ 106.616 lên 442.485 doanh nghiệp.
Sản lượng lương thực tăng gấp 1,3 lần, từ 39,6 triệu tấn lên 50,4 triệu tấn, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia và mỗi năm xuất khẩu trên 6 triệu tấn gạo.
Đến tháng 9/2016 có 2.061 xã và 27 đơn vị cấp huyện được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới.
Tỷ lệ che phủ rừng từ 37% lên 40,8%.
Được công nhận 1 công viên địa chất toàn cầu, 6 khu dự trữ sinh quyển và 5 khu Ramsar thế giới.Thực hiện hiệu quả các đột phá chiến lược: hoàn thiện thể chế; phát triển nguồn nhân lực gắn với ứng dụng khoa học, công nghệ; xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng thúc đẩy phát triển nhanh – bền vững.
Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành 186 luật, 34 pháp lệnh; Chính phủ ban hành 657 nghị định; Thủ tướng Chính phủ ban hành 323 quyết định tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế thị trường, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền, tạo hành lang pháp lý cho hội nhập hiệu quả và phát triển toàn diện kinh tế – xã hội, bảo vệ môi trường.Quy mô và chất lượng giáo dục – đào tạo ngày càng tăng. Năm 2010 hoàn thành phổ cập trung học cơ sở.
Sinh viên đại học, cao đẳng tăng gấp 1,3 lần.
Tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 25% lên 51,6%.
Nhiều công nghệ, kỹ thuật cao được ứng dụng, nhất là trong nông nghiệp, y tế.Năng suất lao động tăng gấp 1,2 lần; giá trị sản phẩm trên 1 ha đất trồng trọt tăng gấp 3,5 lần; trên mặt nước nuôi trồng thủy sản tăng gấp 3,8 lần.
Sản xuất được 10/12 loại vắc-xin cho Chương trình tiêm chủng mở rộng.Đạt kết quả nổi bật trong ghép tạng; ứng dụng tế bào gốc, nội soi, sử dụng rô-bốt trong phẫu thuật; ứng dụng công nghệ sinh học phân tử; chuyển giao nhiều kỹ thuật cao trong khám chữa bệnh xương khớp, tim mạch…
Nhiều công trình hạ tầng quan trọng được đầu tư đồng bộ: giao thông, điện, thủy lợi, thông tin truyền thông, khu công nghiệp, thương mại, du lịch, nhà ở, y tế, giáo dục.
Đầu tư mới, nâng cấp, mở rộng 1.948 km đường quốc lộ, 2.232 km đường Hồ Chí Minh, 704 km đường cao tốc, khoảng 100.000 km đường bộ.
Giao thông nông thôn, nhiều cảng biển, sân bay, đội tàu bay, đội tàu biển, từng bước hình thành các vận tải hiện đại.Sản lượng điện tăng gấp 3 lần, đáp ứng yêu cầu phát triển và dự phòng; đưa điện lưới quốc gia ra 9/12 huyện đảo.
Tỷ lệ hộ dân được sử dụng điện từ 90,4% lên 98,5%.Bảo đảm tưới tiêu cho 3,5 triệu ha đất canh tác; tạo nguồn nước sinh hoạt cho hơn 1 triệu ha.
Phóng thành công, đưa vào sử dụng vệ tinh Vinasat-2 và VNREDSat-1; nâng tốc độ và chất lượng kết nối internet, di động băng rộng; tổng số thuê bao di động đạt 8,7 triệu lên 124 triệu.
Tỷ lệ người sử dụng Internet từ 12,9% lên 54%.Số khu công nghiệp được thành lập từ 131 lên 309.
Khách quốc tế đến Việt Nam tăng gấp 2,3 lần.
Diện tích nhà ở bình quân đầu người từ 14,1 m² lên 21,8 m².
Tỷ lệ hộ sử dụng nước hợp vệ sinh từ 84,9% lên 93,2%.Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân trên 2%/năm, đến cuối năm 2015 còn dưới 4,5%.
Tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị giảm từ 5,3% xuống 3,56%.Số lượng bệnh viện tăng gấp 1,2 lần.
Cải tạo, mở rộng, nâng cấp 598 bệnh viện/trung tâm y tế cấp huyện và 168 cơ sở y tế tuyến tỉnh và Trung ương.
Số bác sĩ trên 1 vạn dân từ 6,2 lên 8,0.
Số giường bệnh trên 1 vạn dân từ 17,7 lên 26,5.
Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế từ 28,1% lên 74,9%.Được UNESCO công nhận, ghi danh 45 di sản thế giới, 8 di sản văn hóa phi vật thể, 4 di sản tư liệu.
Có 517 di tích được xếp hạng cấp quốc gia, trong đó 73 di tích quốc gia đặc biệt.Đối ngoại tiếp tục tăng cường hiệu quả và an ninh.
Vị thế, uy tín quốc tế ngày càng cao.
Quan hệ ngoại giao, thương mại, đầu tư với hầu hết các quốc gia và vùng lãnh thổ.
Thiết lập đối tác chiến lược 11 nước, trong đó có 2 nước đối tác chiến lược toàn diện; đối tác toàn diện 10 nước.Lần đầu tiên được bầu làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc.
Tổ chức thành công Năm APEC Việt Nam 2006 và Năm Chủ tịch ASEAN 2010.
Tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc.
Gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
Ký 8 hiệp định thương mại tự do (FTA) và kết thúc đàm phán 2 FTA thế hệ mới.
Là đối tác thương mại tự do với 55 nền kinh tế.
Có 62 nước công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường.
Nguồn số liệu:
Nguyễn Tấn Dũng, Tuyển tập, tập VI (2014 – 2016),
NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2024, tr. 1034 – 1037.