Thứ Tư, 28 tháng 10, 2026

Tòa soan báo Bình Minh số 201 Nguyễn Thái Học. Ảnh đăng trên tạp chí Trẻ tập 1 số 12 năm 1967.

 

VÕ VĂN VÂN (tên ở bảng hiệu phía trên cùng)
Bình Minh (bảng lớn góc trái)
209 (số nhà góc trên bên phải bảng Bình Minh)
BỐ CÁO
KỂ TỪ 1er THÁNG 02 NĂM 1966
SỞ BÀO CHẾ THUỐC VÕ VĂN VÂN
DỜI VỀ 62 LÝ-THƯỜNG-KIỆT, BÌNH-DƯƠNG.
YÊU CẦU QUÝ VỊ THÂN CHỦ ĐẠI LÝ
LIÊN LẠC VỚI 5 ĐỊA CHỈ SAU ĐÂY
• (I) THUỐC LẺ: VẠN AN ĐƯỜNG, 126 ĐỒI VIỆT, Saigon (chưa chắc chắn)
• (II) SỈ: HOÀNG SƠN. 145 LÊ-THÀNH-TÔN, Saigon
PHƯỚC LINH, 110bis KHỔNG TỬ, Chợlớn.
(Bảng nhỏ cạnh cửa ra vào)
BÁN BÁO
CHÍNH ĐỨC

Đường Nguyễn Thái Học và giai thoại văn nhân

 Là con đường ngắn thuộc phường Bến Thành và phường Cầu Ông Lãnh của TP.HCM, dài 727m, lộ giới 40m, ban đầu đường mang tên Abattoir. Ngày 29.3.1917 đường đổi tên thành Kitchener. Ngày 22.3.1955 chính quyền Việt Nam Cộng hòa đổi thành đường Nguyễn Thái Học và được giữ đến nay.

    Nhắc đến con đường này, dân Sài Gòn lớp xưa nghĩ ngay đến các địa chỉ nổi tiếng như Yiễm Yiễm Thư trang số 113 - 115, nhà in Võ Văn Vân số 201 - 211, nhà in Phạm Văn Sơn số 25, trường tư thục Nguyễn Văn Khuê số 72 - 80 (năm 1970 địa chỉ này là trường trung tiểu học Bồ Đề), trường dạy lái xe Auto-Ecole Cholon số 163, trường học Thành Chí số 75, hãng Cosunam Film ở số 175.

    Xưa hơn nữa, cuối thập niên 1930, trên đường có trường nội trú Huỳnh Công Phát ở số 19 đến 35, trường Shung Chi của người Hoa Phước Kiến ở số 95 và trường Shan Shir cũng của người Hoa số 52. Còn có tiệm ảnh Chấn Hưng số 62.  

     Tòa soan báo Bình Minh số 201 Nguyễn Thái Học. Ảnh đăng trên tạp chí Trẻ tập 1 số 12 năm 1967.


    Ở địa chỉ 201 là tòa soạn nhật báo Bình Minh của ông Võ Văn Ứng, thường được gọi là Bầu Ứng, chủ nhà thuốc đông y Võ Văn Vân rất nổi tiếng nằm ở góc đường Phạm Ngũ Lão - Nguyễn Thái Học. Ông ở trong ban chấp hành, có lúc là chủ tịch Tổng cục Bóng tròn (bây giờ gọi là Liên đoàn Bóng đá), cũng là một nhà mạnh thường quân thể thao của đất Sài Gòn.

    Theo nhà báo Lý Quý Chung tức Chánh Trinh trong Hồi ký không tên, sau vụ đảo chánh ông Ngô Đình Diệm, ông Ứng được cấp giấy phép làm tờ báo Bình Minh nhờ thân thiết với tướng Dương Văn Minh. Thời trẻ ông Ứng là bầu của đội banh Thủ Dầu Một, còn ông Minh làm thủ môn đội banh và tình bạn của họ kéo dài qua năm tháng. Sau khi lập tờ báo Bình Minh, ông Ứng chiêu mộ anh em tờ báo Thanh Việt trước đây từng được ông giúp đỡ tài chánh về làm, trong đó có Lý Quý Chung. 

    Giai thoại vui ở tiệm Khoan Ký

    Thời Pháp thuộc, có một tiệm hút thuốc phiện trên đường này mang tên Khoan Ký. Thú đi mây về gió này thời đó là công khai, chính quyền thực dân cho sản xuất, phân phối và cho phép mở tiệm. Thường dân, trong đó có giới văn nghệ sĩ tham gia hút được xem là bình thường.

    Bài báo Làng báo Sài thành trên 10 năm trước - vài tay kiện tướng đăng trên báo xuân Việt Thanh Tết 1952 kể tiệm này là nơi tập hợp những cây bút nổi tiếng làng báo như Phan Khôi, ông cử Tùng Lâm Lê Cương Phụng, Bùi Thế Mỹ, Hồng Tiêu… Lúc làm tờ báo Đông Thinh, ban đêm ông Phan Khôi ngụ tại nhà ông Bùi Thế Mỹ, còn ban ngày ông đóng “trụ sở” ở tiệm Khoan Ký này vì gần nhà ông Bùi Thế Mỹ.

    Nhiều kỳ, ngày Chúa nhựt báo ra mà thứ Năm ông Phan Khôi vẫn chưa có bài nào hết. Ông Hồng Tiêu phải đến tiệm Khoan Ký lấy bài về cho thợ sắp chữ và vì đó mà có chuyện. Tại tiệm, ông Phan Khôi có một chỗ nằm nhất định, lên thang gác, khi khỏi chỗ bán thuốc là đến “trụ sở” của ông ở đó, bên một đống sách và nhựt trình Việt lẫn Hoa, trong đó có bộ sách Vương Dương Minh.

    Có lần ông Phan Khôi đang xem tờ nhật báo Sài Gòn nơi mục “Tranh xã hội”, bỗng vụt ngồi dậy chỉ cho ông Hồng Tiêu xem mấy cái lỗi về chánh tả rồi nói: “Anh em các ông viết quốc ngữ theo giọng Quảng Ngãi, chánh tả không chịu khó phân biệt, có g hay không g cũng không cần. Bây giờ các ông nên tập theo lối này thì có lẽ viết trúng: Mát mẻ đọc mát tờ, thì phía sau chữ mát phải viết chữ t. Dao mác đọc mác cờ, thì phía sau chữ mác phải viết chữ c…”. Động tới lòng tự ái, ông Hồng Tiêu nổi nóng cự lại: “Tôi hỏi ông, ông đọc bài Tranh xã hội của tôi có hiểu hết ý nghĩa không? Ông là người Việt chớ đâu phải thứ người gì mà tiếng Việt không hiểu?”.

    Ký giả Lý Quý Chung (trái) làm việc với chủ nhiệm báo Bình Minh - ông Võ Văn Ứng tại tòa soạn. Ảnh đăng trên tạp chí Trẻ tập 1 số 12 năm 1967.


    Nghe nói mình là “thứ người gì”, ông Phan Khôi đổ mồ hôi trán, nói lớn: “Anh là một người viết quốc ngữ trật nhứt nước Nam!”.
    Hồng Tiêu đáp trả: “Anh là một người tánh khí kỳ khôi nhứt nước Nam!”.

    Thế là cả tiệm hút từ dưới đất lên trên lầu, người ta đổ xô lại can, người lớn có, kẻ nhỏ có, Hoa đông mà Việt cũng lắm.

    Hai chuyện tao nhã ở Yiễm Yiễm Thư trang

    Nhà thơ Đông Hồ, chủ nhân Yiễm Yiễm Thư trang ở số 115 đường Kitchener kể trong bài viết Tôi đã biết gì về Nhất Linh một chuyện lưu giữ cảm xúc nhẹ nhàng: 

    Giữa năm 1951, nhà văn Nhất Linh từ hải ngoại về đến thăm ông ở Yiễm Yiễm Thư trang. Năm đó, Đông Hồ vừa thành lập nhà xuất bản Bốn Phương được hơn một năm. Nhất Linh đến để mượn các ấn phẩm cũ của Tự lực Văn đoàn xuất bản thời tiền chiến mà ông biết Đông Hồ còn giữ được và bàn việc hợp tác. Nhưng rồi sau việc không thành và Nhất Linh tự chủ trương nhà xuất bản Phượng Giang. Từ đó luôn trong mấy năm, cứ gần Tết thì Nhất Linh phải đến để thăm chừng Đông Hồ đã làm xong bài thơ năm mới và đã in xong chưa “những cánh thiếp Tết xinh xinh”. 

    Ban đầu Đông Hồ cũng không hiểu tại sao nhà văn Nhất Linh lại có cái vui thích được nhìn cánh thiếp Tết của Yiễm Yiễm Thư trang vừa in xong chưa kịp gởi để tự tay cầm về một tấm. Mãi lâu về sau ông được nghe Nhất Linh nói rằng từ khi còn ở nước Tàu, trong một dịp Tết xa nhà, tình cờ được nhìn thấy cánh thiếp của Yiễm Yiễm Thư trang ở phòng khách một đồng chí xuất bôn. Đông Hồ viết: “Mấy dòng chữ đẹp in trên cánh hoa tiên trong dịp đầu năm đã cho Nhất Linh một niềm hoài vọng quê hương. Rồi lòng cứ còn giữ mãi ấn tượng thân yêu và mối cảm tình êm đẹp đó”. 

    Khách sạn Nam Đô trên đường Nguyễn Thái Học năm 1969. Ảnh tư liệu


    Cũng ở thư trang này, năm 1959, nhà thơ Đông Hồ tiếp ông K.R. Kripalani trong Viện Hàn lâm Ấn Độ. Ông sang Việt Nam với mục đích sưu tầm tài liệu, kỷ niệm về thi hào Rabindranath Tagore ở nước Việt mà Tagore từng đến năm 1929 và ngỏ ý muốn đến thăm riêng một nhà thơ Việt Nam để nói chuyện cho có tình thân mật hơn, phía Việt Nam đề nghị ông Đông Hồ tiếp. Ban đầu Đông Hồ từ chối nhưng vị đại diện Nha Văn hóa khăng khăng giữ đề nghị. Cuối cùng Đông Hồ phải nhận tiếp. 

    Yiễm Yiễm Thư trang nghỉ bán hai hôm để thu xếp cho thành một thư trai, vừa là một khách sảnh. Phòng ốc trang hoàng bằng tranh thủy mặc, lọ hoa lò hương; những bức tứ bình, hoành phi, quyện tỏa khói trầm thơm ngất. Khí vị toàn thể rất Á Đông, rất cổ điển. 

    Buổi chiều, giám đốc Nha Văn hóa đưa ông K.R. Kripalani đến cùng một số giáo sư phía Việt Nam. Khách cho biết rất cảm động thấy được tiếp ở một khung cảnh trang nhã khả ái. Ông khen bộ quốc phục Đông Hồ mặc và bất ngờ khi có bức ảnh thi hào Tagore mặc quốc phục Việt Nam mà ông chưa xem.

    Ông Kripalani hỏi về năm 1929 khi thi hào Tagore sang đây và những ảnh hưởng của thi hào ở Việt Nam. Khi được hỏi có kỷ niệm gì về Tagore, Đông Hồ chỉ lên giá sách đang treo một bức chữ khổ 50 x 120cm là bức giấy dó nhuộm màu hoa hòe vẽ long phụng. Bài thơ chép trên đó là bài dịch trong sách Gitanjali, được giải Nobel năm 1913. Còn một bài nữa viết trên chiếc quạt giấy nan tre. Một mặt quạt vẽ điểm vài nét sơn thủy, một mặt chép bài thơ dịch, cũng là bài dịch ở Gitanjali của Tagore. Đây là hai bài thơ mà thi hào Tagore lấy làm đắc ý. Thuở sinh thời, thi hào thường ngâm luôn.

    Ra về, bức tranh dó hòe long phượng, chép bài Quê hương nhân loại thì Đông Hồ nhờ ông Kripalani mang về tặng Viện Hàn lâm Ấn Độ. Còn chiếc quạt chép bài Lời cầu nguyện thì riêng tặng cho ông để làm duyên văn hóa. Ông Kripalani đứng lên, chắp hai tay trước trán, cúi đầu như lối nhà sư niệm kinh, cung kính đáp: “Tôi không dè được hậu đãi như thế này: bức chữ thì tôi mang về giao cho Viện Hàn lâm, chắc chắn là nó sẽ được để vào Bảo tàng viện Tagore. Còn chiếc quạt, ồ chiếc quạt quý hóa lắm. Chiếc quạt tôi sẽ mang về tặng lại cho bà Kripalani, vợ tôi. Bà là cháu gái độc nhất của thi hào Tagore. Vợ tôi sẽ cảm động biết bao khi nhận được chiếc quạt thanh nhã do tôi từ xa mang về. Vừa là kỷ niệm của một bạn văn hóa, vừa là kỷ niệm của tổ phụ”.

    Đêm đó, bác sĩ Gupta, Lãnh sự Ấn Độ mời ông Kripalani ăn cơm; đến dự có một số ít khách Việt. Tiệc xong, ông Kripalani nhờ thi sĩ Đông Hồ ngâm hai bài thơ dịch Gitanjali của Tagore và nhờ Lãnh sự Gupta thu thanh để ông mang về Ấn Độ. Đông Hồ cất giọng ngâm bài Quê hương nhân loại với những câu đầu:

    Đó là chốn lăng tằng khí cốt
    Đó là nơi khoáng đạt tâm hồn
    Là nơi bác ái chứa chan
    Là nơi chẳng biết tương tàn tương ly… 

    Phạm Công Luận

    Thứ Ba, 13 tháng 10, 2026

    TP.HCM duyệt hướng tuyến metro số 2 Thủ Dầu Một - TP.HCM

     TP.HCM duyệt hướng tuyến metro số 2 Thủ Dầu Một - TP.HCM, dài khoảng 33,2km đi qua 16 phường, theo Quyết định 6569/QĐ-UBND ngày 03/10/2026
















    Thứ Tư, 7 tháng 10, 2026

    TẤN CÔNG ĐẠI SỨ QUÁN HOA KỲ TẠI SÀI GÒN

    Tết Sài Gòn – Chuyên đề về các cuộc tấn công vào trung tâm đô thị

    Thời điểm: 2 giờ 47 phút sáng, ngày 31 tháng 1 năm 1968

    Vào lúc 2 giờ 47 phút sáng ngày 31-1-1968, các chiến binh Việt Cộng mở cuộc tấn công vào khuôn viên Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Sài Gòn.

    1. Diễn biến cuộc tấn công

    Tại một tiệm sửa chữa ô tô cũ kỹ, cách Đại sứ quán Hoa Kỳ khoảng năm dãy phố, 19 chiến sĩ đặc công thuộc Tiểu đoàn C-10 lên một chiếc xe tải nhỏ hiệu Peugeot và một chiếc taxi, bắt đầu quãng đường ngắn tiến đến mục tiêu.

    Một cảnh sát Việt Nam Cộng hòa phát hiện các xe chạy không bật đèn. Ông chọn cách tránh rắc rối và không làm gì cả.

    Các xe rẽ vào đại lộ Thống Nhất, nơi họ gặp lớp bảo vệ bên ngoài của Đại sứ quán, gồm bốn cảnh sát Việt Nam Cộng hòa. Những người này cũng bỏ chạy mà không nổ súng.

    Đoàn xe tiếp tục tiến đến tuyến phòng thủ thứ hai: một bức tường cao khoảng 8 feet (2,44 mét), bao quanh khuôn viên Đại sứ quán.

    Khi đến cổng phụ dành cho ban đêm, họ gặp hai quân cảnh Mỹ (Military Police – MP). Mặc dù các cuộc tấn công đã diễn ra trên khắp Sài Gòn hơn một giờ trước đó, hệ thống thông tin liên lạc giữa các lực lượng đồng minh yếu kém đến mức những người bảo vệ Đại sứ quán vẫn không biết rằng lực lượng đối phương đã phá vỡ tình trạng yên tĩnh.

    Trong lúc hai bên đấu súng, hai quân cảnh Mỹ lùi vào bên trong khuôn viên và đóng cánh cổng thép, ngăn cách Đại sứ quán với thế giới bên ngoài.

    Đến 2 giờ 47 phút sáng, một người lính gác nhận ra tín hiệu báo rằng Đại sứ quán đang bị tấn công.

    2. Đặc công phá tường, tiến vào khuôn viên

    Trong khi đó, ngoài đường, các chiến sĩ tấn công dỡ vũ khí và chất nổ xuống xe.

    Một chiến sĩ Việt Cộng dùng khối thuốc nổ phá một lỗ rộng khoảng 3 feet (91 cm) trên tường.

    Thể hiện lòng dũng cảm đáng kể nhưng chiến thuật chưa hợp lý, hai sĩ quan Việt Cộng dẫn đầu lực lượng xông qua lỗ thủng.

    Tiếng nổ đã báo động cho hai người lính gác. Họ lập tức quay lại và bắn hạ hai sĩ quan chỉ huy.

    Một người hét vào máy vô tuyến:

    “Chúng đang tràn vào! Chúng đang tràn vào! Cứu! Cứu!”

    Đó là thông điệp cuối cùng của anh.

    Nhờ loạt đạn chính xác, hai quân cảnh Mỹ đã loại khỏi vòng chiến những người chỉ huy của đối phương. Tuy nhiên, cả hai cũng nhanh chóng thiệt mạng dưới làn đạn bắn trả.

    3. Quân tiếp viện Mỹ bị chặn đánh

    Một xe Jeep tuần tra của quân cảnh Mỹ, chở hai người, nhận được báo động và lập tức lao về phía Đại sứ quán.

    Cả hai cũng thiệt mạng trong làn đạn dày đặc từ những chiến sĩ Việt Cộng còn ở bên ngoài bức tường.

    Trong khi đó, hai người lính gác khác bên trong khuôn viên Đại sứ quán đã khóa chặt những cánh cửa gỗ tếch nặng nề của tòa nhà.

    Chỉ vài giây sau, một quả đạn rocket có khả năng xuyên phá đập vào phiến đá granite treo Quốc huy Hoa Kỳ. Vụ nổ cuối cùng cũng khiến người lính gác ở khu vực này phải rời vị trí.

    Hai quả rocket khác tiếp tục phát nổ tại sảnh chính, sau đó là một quả lựu đạn sát thương.

    4. Người lính gác còn lại chống trả

    Được trang bị một khẩu súng ngắn cỡ nòng .38, một khẩu súng săn nòng 12 gauge và một súng tiểu liên, người lính gác còn lại quyết tâm chiến đấu đến cùng trong khi chờ đợt xung kích đầu tiên của Việt Cộng.

    Người lính gác duy nhất khác ở khu vực Đại sứ quán buộc phải ẩn nấp. Từ trên mái nhà, anh chĩa súng săn xuống những người đang tấn công trong sân.

    Nhưng súng bị kẹt đạn, khiến lực lượng Việt Cộng có cơ hội tự do di chuyển trong khuôn viên.

    5. Vì sao cuộc tấn công không đạt được mục tiêu ban đầu?

    Tuy nhiên, theo phần kết của bài báo, việc mất đi những người chỉ huy đã sớm khiến lực lượng du kích đánh mất cơ hội khai thác thành công ban đầu.

    Chú thích các vị trí trên sơ đồ

    File:US Embassy Saigon chancery building 1967.jpg - Wikimedia Commons

    Chancery Building – Tòa nhà chính của Đại sứ quán

    Nơi đặt các văn phòng làm việc của Đại sứ quán Hoa Kỳ.

    Tropical Comforts in Vietnam

    Embassy compound wall – Tường bao khuôn viên

    Bức tường bao quanh khu đất Đại sứ quán; trên sơ đồ có vị trí bị phá thủng.

    Sự chỉ đạo chiến lược của Đảng trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân

    Night gate – Cổng ban đêm

    Cổng phụ nơi lực lượng tấn công chạm trán hai quân cảnh Mỹ.

    Các nhãn khác trên sơ đồ:

    • Helicopter pad: Bãi đáp trực thăng.

    • Rooftop grenade strikes: Những vị trí bị lựu đạn tấn công trên mái.

    • Rooftop MP guard: Vị trí quân cảnh Mỹ gác trên mái.

    • Main gate: Cổng chính.

    • Vietnamese Police post (abandoned): Chốt cảnh sát Việt Nam Cộng hòa đã bị bỏ trống.

    • VC truck and taxicab: Xe tải và taxi của lực lượng tấn công.

    • Breach blown in wall: Lỗ thủng được phá trên tường.

    • Thống Nhất Boulevard: Đại lộ Thống Nhất.

    • Mạc Đĩnh Chi Street: Đường Mạc Đĩnh Chi.

    Lưu ý về tư liệu lịch sử: Đây là bản dịch dựa trên hình ảnh bác cung cấp. Do chữ ở phần dưới ảnh có độ phân giải thấp, một vài câu và chi tiết nhỏ có thể chưa hoàn toàn chính xác. Bản dịch phản ánh cách thuật lại của bài báo, không có nghĩa mọi nhận định của tác giả đều đã được kiểm chứng độc lập.


    Dưới đây là bản dịch chi tiết toàn bộ nội dung trong hình ảnh đồ họa sơ đồ cuộc tấn công vào Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn (Mậu Thân 1968) sang tiếng Việt:

    MỤC TIÊU VÀ TIÊU ĐỀ CHÍNH

    • TẾT SÀI GÒN | CÁC CUỘC TẤN CÔNG VÀO TRUNG TÂM ĐÔ THỊ
    • TẤN CÔNG ĐẠI SỨ QUÁN, SÀI GÒN
      • 2 giờ 47 phút sáng, ngày 31 tháng 1 năm 1968. Du kích Việt Cộng mở cuộc tấn công vào khu phức hợp Đại sứ quán Hoa Kỳ.

    CHÚ THÍCH CÁC VỊ TRÍ TRÊN SƠ ĐỒ (Từ trái sang phải)

    • THONG NHUT BOULEVARD: Đại lộ Thống Nhất (nay là đường Lê Duẩn).
    • Main gate: Cổng chính.
    • Vietnamese Police post (abandoned): Chốt Cảnh sát Dã chiến Việt Nam (đã bỏ vị trí).
    • Two-man MP jeep patrol reacting to attack: Xe jeep tuần tra của 2 Cảnh vệ Quân sự (MP) phản ứng với cuộc tấn công.
    • Chancery Building: Tòa nhà Đại sứ quán (Tòa nhà làm việc chính).
    • Lobby: two MPs holed up: Sảnh chính: 2 Cảnh vệ Quân sự đang cố thủ.
    • Helicopter pad: Bãi đáp trực thuẫn (trên tầng thượng).
    • Rocket grenade strikes: Các vết trúng đạn B40/B41 (RPG).
    • Rooftop MP guard: Cảnh vệ Quân sự gác trên tầng thượng.
    • Embassy compound wall: Bức tường bao quanh khu phức hợp Đại sứ quán.
    • Night gate: Cổng phụ / Cổng đêm.
    • Military Police post: Chốt Cảnh vệ Quân sự.
    • Dead MPs: Các Cảnh vệ Quân sự đã tử trận.
    • Vietnamese Police post (abandoned): Chốt Cảnh sát Dã chiến Việt Nam (đã bỏ vị trí).
    • VC bombarding lobby: Việt Cộng đang bắn phá sảnh chính.
    • Dead VC officers: Các chỉ huy Việt Cộng đã hy sinh.
    • MAC DINH CHI STREET: Đường Mạc Đỉnh Chi.
    • Breach blown in wall: Lỗ thủng bị bộc phá đánh sập trên tường bao.
    • VC truck and taxicab: Xe tải và xe taxi của Việt Cộng.

    NỘI DUNG VĂN BẢN BÊN DƯỚI

    Đoạn 1 (Cột ngoài cùng bên trái)

    Tại một xưởng sửa chữa ô tô xập xệ cách Đại sứ quán Mỹ 5 dãy nhà, 19 chiến sĩ đặc công thuộc Đội C-10 đã lên một chiếc xe tải Peugeot nhỏ và một chiếc xe taxi để bắt đầu chặng đường ngắn đến mục tiêu. Một cảnh sát Việt Nam Cộng hòa phát hiện các xe chuyển động không bật đèn. Ông ta chọn cách tránh rắc rối và không làm gì cả. Các xe rẽ vào Đại lộ Thống Nhất, nơi họ gặp lớp bảo vệ bên ngoài của đại sứ quán gồm thêm bốn cảnh sát Việt Nam nữa. Họ cũng bỏ chạy mà không bắn một phát súng nào.

    Đoạn 2 (Cột thứ 2)

    Các xe tiến dọc theo tuyến phòng thủ thứ hai: một bức tường cao 8 foot (khoảng 2,4m) bao quanh khu đại sứ quán. Khi đến gần cổng đêm, họ gặp hai Cảnh vệ Quân sự (MP) Mỹ. Mặc dù các cuộc tấn công đã diễn ra khắp Sài Gòn hơn một giờ đồng hồ, nhưng do tình trạng liên lạc yếu kém của phe đồng minh, những người bảo vệ đại sứ quán không hề biết rằng phía Việt Cộng đã phá vỡ lệnh ngừng bắn.

    Đoạn 3 (Cột thứ 3)

    Giữa tiếng súng giao tranh, hai MP đã lùi vào trong khuôn viên và đóng chặt cổng thép, cắt đứt đại sứ quán với thế giới bên ngoài. Lúc 2:47 sáng, một cảnh vệ đã phát tín hiệu qua bộ đàm thông báo đại sứ quán đang bị tấn công.

    Trong khi đó, ở ngoài đường, những người tấn công dỡ vũ khí và thuốc nổ xuống. Một chiến sĩ Việt Cộng đã dùng bộc phá ống để đánh thủng một lỗ rộng 3 foot trên tường. Cho thấy lòng quả cảm phi thường nhưng thiếu sót về mặt kỹ chiến thuật, hai chỉ huy Việt Cộng đã dẫn đầu xông qua lỗ thủng. Vụ nổ đã báo động cho hai cảnh vệ bên trong. Họ xoay người lại và bắn gục hai người chỉ huy.

    Đoạn 4 (Cột thứ 4)

    Một người hô vào bộ đàm: "Chúng đang vào! Chúng đang vào! Cứu tôi! Cứu tôi!" Đó là tin nhắn cuối cùng của anh ta. Với những loạt súng chính xác, họ đã tiêu diệt lực lượng chỉ huy của đối phương; nhưng ngay sau đó họ cũng gục xuống trước hỏa lực đáp trả.

    Một chiếc xe jeep tuần tra gồm 2 MP đã phản ứng lại báo động và lao tới đại sứ quán. Họ cũng gục ngã dưới mưa đạn từ phía Việt Cộng đang ở bên ngoài tường. Trong khi đó, hai cảnh vệ nữa bên trong đại sứ quán đã kịp khóa chặt cánh cửa gỗ dán dày của tòa nhà.

    Đoạn 5 (Cột thứ 5 - bên phải)

    Vài giây sau, một quả đạn B40/B41 xuyên qua tấm đá hoa cương treo Quốc huy Hoa Kỳ. Vụ nổ làm một cảnh vệ bị thương nặng. Thêm hai quả đạn nữa nổ tung ở sảnh chính, tiếp theo là một quả lựu đạn mỏ vịt.

    Với khẩu súng ngắn .38, súng bắn đạn hoa xòe (12-gauge shotgun) và một khẩu súng tiểu liên, người cảnh vệ còn lại quyết tâm chiến đấu đến cùng khi chờ đợi đợt xung phong cuối cùng của Việt Cộng. Người bảo vệ duy nhất khác trong đại sứ quán cố gắng hỗ trợ: từ trên tầng thượng, anh ta nhắm khẩu súng bắn đạn hoa xòe vào những người tấn công dưới sân. Tuy nhiên, súng bị kẹt đạn, để mặc lực lượng Việt Cộng tự do di chuyển trong khuôn viên.

    Tuy nhiên, việc mất đi các chỉ huy ngay từ đầu đã khiến các chiến sĩ du kích mất đi cơ hội khai thác thành công ban đầu.

     

     

    Dưới đây là bản dịch chi tiết toàn bộ nội dung trong hình ảnh đồ họa sơ đồ cuộc tấn công vào Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn (Mậu Thân 1968) sang tiếng Việt:

    MỤC TIÊU VÀ TIÊU ĐỀ CHÍNH

    • TẾT SÀI GÒN | CÁC CUỘC TẤN CÔNG VÀO TRUNG TÂM ĐÔ THỊ
    • TẤN CÔNG ĐẠI SỨ QUÁN, SÀI GÒN
      • 2 giờ 47 phút sáng, ngày 31 tháng 1 năm 1968. Du kích Việt Cộng mở cuộc tấn công vào khu phức hợp Đại sứ quán Hoa Kỳ.

    CHÚ THÍCH CÁC VỊ TRÍ TRÊN SƠ ĐỒ (Từ trái sang phải)

    • THONG NHUT BOULEVARD: Đại lộ Thống Nhất (nay là đường Lê Duẩn).
    • Main gate: Cổng chính.
    • Vietnamese Police post (abandoned): Chốt Cảnh sát Dã chiến Việt Nam (đã bỏ vị trí).
    • Two-man MP jeep patrol reacting to attack: Xe jeep tuần tra của 2 Cảnh vệ Quân sự (MP) phản ứng với cuộc tấn công.
    • Chancery Building: Tòa nhà Đại sứ quán (Tòa nhà làm việc chính).
    • Lobby: two MPs holed up: Sảnh chính: 2 Cảnh vệ Quân sự đang cố thủ.
    • Helicopter pad: Bãi đáp trực thuẫn (trên tầng thượng).
    • Rocket grenade strikes: Các vết trúng đạn B40/B41 (RPG).
    • Rooftop MP guard: Cảnh vệ Quân sự gác trên tầng thượng.
    • Embassy compound wall: Bức tường bao quanh khu phức hợp Đại sứ quán.
    • Night gate: Cổng phụ / Cổng đêm.
    • Military Police post: Chốt Cảnh vệ Quân sự.
    • Dead MPs: Các Cảnh vệ Quân sự đã tử trận.
    • Vietnamese Police post (abandoned): Chốt Cảnh sát Dã chiến Việt Nam (đã bỏ vị trí).
    • VC bombarding lobby: Việt Cộng đang bắn phá sảnh chính.
    • Dead VC officers: Các chỉ huy Việt Cộng đã hy sinh.
    • MAC DINH CHI STREET: Đường Mạc Đỉnh Chi.
    • Breach blown in wall: Lỗ thủng bị bộc phá đánh sập trên tường bao.
    • VC truck and taxicab: Xe tải và xe taxi của Việt Cộng.

    NỘI DUNG VĂN BẢN BÊN DƯỚI

    Đoạn 1 (Cột ngoài cùng bên trái)

    Tại một xưởng sửa chữa ô tô xập xệ cách Đại sứ quán Mỹ 5 dãy nhà, 19 chiến sĩ đặc công thuộc Đội C-10 đã lên một chiếc xe tải Peugeot nhỏ và một chiếc xe taxi để bắt đầu chặng đường ngắn đến mục tiêu. Một cảnh sát Việt Nam Cộng hòa phát hiện các xe chuyển động không bật đèn. Ông ta chọn cách tránh rắc rối và không làm gì cả. Các xe rẽ vào Đại lộ Thống Nhất, nơi họ gặp lớp bảo vệ bên ngoài của đại sứ quán gồm thêm bốn cảnh sát Việt Nam nữa. Họ cũng bỏ chạy mà không bắn một phát súng nào.

    Đoạn 2 (Cột thứ 2)

    Các xe tiến dọc theo tuyến phòng thủ thứ hai: một bức tường cao 8 foot (khoảng 2,4m) bao quanh khu đại sứ quán. Khi đến gần cổng đêm, họ gặp hai Cảnh vệ Quân sự (MP) Mỹ. Mặc dù các cuộc tấn công đã diễn ra khắp Sài Gòn hơn một giờ đồng hồ, nhưng do tình trạng liên lạc yếu kém của phe đồng minh, những người bảo vệ đại sứ quán không hề biết rằng phía Việt Cộng đã phá vỡ lệnh ngừng bắn.

    Đoạn 3 (Cột thứ 3)

    Giữa tiếng súng giao tranh, hai MP đã lùi vào trong khuôn viên và đóng chặt cổng thép, cắt đứt đại sứ quán với thế giới bên ngoài. Lúc 2:47 sáng, một cảnh vệ đã phát tín hiệu qua bộ đàm thông báo đại sứ quán đang bị tấn công.

    Trong khi đó, ở ngoài đường, những người tấn công dỡ vũ khí và thuốc nổ xuống. Một chiến sĩ Việt Cộng đã dùng bộc phá ống để đánh thủng một lỗ rộng 3 foot trên tường. Cho thấy lòng quả cảm phi thường nhưng thiếu sót về mặt kỹ chiến thuật, hai chỉ huy Việt Cộng đã dẫn đầu xông qua lỗ thủng. Vụ nổ đã báo động cho hai cảnh vệ bên trong. Họ xoay người lại và bắn gục hai người chỉ huy.

    Đoạn 4 (Cột thứ 4)

    Một người hô vào bộ đàm: "Chúng đang vào! Chúng đang vào! Cứu tôi! Cứu tôi!" Đó là tin nhắn cuối cùng của anh ta. Với những loạt súng chính xác, họ đã tiêu diệt lực lượng chỉ huy của đối phương; nhưng ngay sau đó họ cũng gục xuống trước hỏa lực đáp trả.

    Một chiếc xe jeep tuần tra gồm 2 MP đã phản ứng lại báo động và lao tới đại sứ quán. Họ cũng gục ngã dưới mưa đạn từ phía Việt Cộng đang ở bên ngoài tường. Trong khi đó, hai cảnh vệ nữa bên trong đại sứ quán đã kịp khóa chặt cánh cửa gỗ dán dày của tòa nhà.

    Đoạn 5 (Cột thứ 5 - bên phải)

    Vài giây sau, một quả đạn B40/B41 xuyên qua tấm đá hoa cương treo Quốc huy Hoa Kỳ. Vụ nổ làm một cảnh vệ bị thương nặng. Thêm hai quả đạn nữa nổ tung ở sảnh chính, tiếp theo là một quả lựu đạn mỏ vịt.

    Với khẩu súng ngắn .38, súng bắn đạn hoa xòe (12-gauge shotgun) và một khẩu súng tiểu liên, người cảnh vệ còn lại quyết tâm chiến đấu đến cùng khi chờ đợi đợt xung phong cuối cùng của Việt Cộng. Người bảo vệ duy nhất khác trong đại sứ quán cố gắng hỗ trợ: từ trên tầng thượng, anh ta nhắm khẩu súng bắn đạn hoa xòe vào những người tấn công dưới sân. Tuy nhiên, súng bị kẹt đạn, để mặc lực lượng Việt Cộng tự do di chuyển trong khuôn viên.

    Tuy nhiên, việc mất đi các chỉ huy ngay từ đầu đã khiến các chiến sĩ du kích mất đi cơ hội khai thác thành công ban đầu.

     

    Thứ Hai, 28 tháng 9, 2026

    TIỀN THỜI VIỆT NAM CỘNG HÒA 1954–1975

     Việt Nam Cộng Hòa tiền thân kế thừa từ Quốc Gia Việt Nam do [vua] Bảo Đại đứng đầu làm Quốc Trưởng từ năm 1949–1955. Quốc Gia Việt Nam độc lập nằm trong Liên Hiệp Pháp nhưng quyền về in tiền và quân sự đều do Pháp nắm.


    Đến đời Thủ tướng Bửu Lộc đã ký hiệp ước Matignon với Thủ tướng Pháp về việc trao trả độc lập lại cho Việt Nam, trong đó có quyền tự chủ tiền tệ vào ngày 6/4/1954. Nhưng không may, hiệp định Geneva được ký kết, Việt Nam bị chia đôi, chính phủ Quốc Gia chỉ còn quản lý từ vĩ tuyến 17 vào Nam. Theo đó viện phát hành tiền Đông Dương sẽ bị giải tán và thành lập Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam vào ngày 21/12/1954.

    Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam có trụ sở ở số 17 bến Chương Dương Sài Gòn. Tiền Đông Dương của viện phát hành sẽ bị thu hồi từ 30 tháng 9 năm 1954, đến ngày 7 tháng 11 cùng năm. Tỷ giá hối suất qui đổi 1 đồng tiền Ngân Hàng Quốc Gia bằng 10 đồng tiền Đông Dương Việt–Miên–Lào.
     
     
    Tiền giấy Việt Nam Cộng hòa phát hành không theo bộ mà rải rác từng mệnh giá bao gồm 4 giai đoạn:

    – Giai đoạn 1 từ năm 1954–1955,

    – Giai đoạn 2 từ năm 1955–1963,

    – Giai đoạn 3 từ năm 1964–1966, và

    – Giai đoạn cuối cùng là từ năm 1966 cho đến khi cuộc chiến tranh Việt Nam kết thúc vào năm 1975.

    Thời Quốc Gia Việt Nam 1954–1955

    Ở giai đoạn 1, ngân hàng giới thiệu các mệnh giá tiền quốc gia Việt Nam gồm 1 đồng, 5 đồng, 10 đồng, 20 đồng để đổi trước vì tiền của viện phát hành lớn nhất là tờ 200,000 đồng với hình vua Bảo Đại. Bốn tờ tiền này có kích thước như tiền Pháp rất lớn và gần như hình vuông. Bộ tiền này cũng được lưu hành sau ngày thành lập Việt Nam Cộng hòa nên vẫn được tính chung.
     


     
    Thời Đệ Nhất Cộng Hòa 1955–1963

    Cũng trong năm 1955 biến cố xảy ra. Bảo Đại bị Hội đồng Nhân dân Cách mạng quốc gia tại miền Nam Việt Nam lật đổ, yêu cầu thay thế Thủ tướng Ngô Đình Diệm làm Quốc Trưởng. Ngô Đình Nhiệm trở thành tổng thống, thành lập Việt Nam Cộng hòa trên toàn cõi miền Nam.

    Bộ tiền giấy Việt Nam Cộng hòa thứ hai được phát hành bao gồm các mệnh giá 1, 2, 5, 100, 200, và 500 đồng. Bộ cũ vẫn tiếp tục được sử dụng song song cùng bộ mới.
     
     
    Đến năm 1956 ngân hàng cho ?bác? Hàng bổ sung mệnh giá 50 đồng, 1 mục đồng xỏ mũi trâu có hình màu tím hoặc sau là nông dân phơi thóc.

    Năm 1958 do chính phủ thấy sự bất hợp lý về hình ảnh tờ 200 đồng với hình ảnh người lính một súng nên đã phát hành thay thế bằng tờ 200 đồng màu tím kích thước lớn, mặt trước của tiền là hình ảnh Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam, mặt sau là tàu cá neo đậu.
     
     
    Đến năm 1962, Chính phủ phát hành thêm ba mệnh giá 10, 20, 500 đồng, và dần dần thu hồi bộ tiền cũ, như vậy tiền sau đó đồng bộ. Riêng tờ 500 đồng năm ?1982? là tờ lớn nhất thuộc dòng hiếm, chỉ có 3 triệu tờ được phát hành gồm 3 Block A1, B1, và C1. Bóng chìm là Tổng thống Ngô Đình Diệm, mặt trước là dinh Độc lập trên nền kiến trúc cũ thời Pháp, mặt sau là hình nông dân với trâu đi cày, tờ này hay gọi là 500 đồng trâu xanh.
     


     
    Ngày 1 tháng 11 năm 1963, chính biến đảo chánh đã xảy ra, quân đội tấn công vào dinh Gia Long nơi tổng thống đang ở. Sáng ngày 2 tháng 11 thì phía quân đội thảm sát hai anh em ông Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu. Cách Mạng 1 tháng 11 thành công, kết thúc nền Đệ nhất Cộng hòa bắt đầu thời kỳ quân quản.

    Thời Quân quản 1963–1967

    Trong thời kỳ này bộ tiền giấy Việt Nam Cộng Hòa năm 1964 mới được phát hành, bao gồm các mệnh giá 1, 20, 100 và 500 đồng.
     


     
    Không bao lâu sau các anh hùng dân tộc được đưa lên bộ tiền Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa vào năm 1966. Tiền bộ tướng bao gồm 3 vị tướng đại diện cho 3 miền Bắc, Trung, và Nam; gồm 100 đồng Tả quân Lê Văn Duyệt, 200 đồng Vua Quang Trung [Nguyễn Huệ], và 500đ Hưng Đạo đại vương [Trần Hưng Đạo]. Đây là bộ tiền xưa Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa được rất nhiều người dân ưa thích bởi sự uy dũng tôn trọng lịch sử và tiền nhân.
     


     
    Thời Đệ Nhị Cộng Hòa 1969–1975

    Năm 1967 hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa được thay đổi, để thành lập nền Đệ Nhị Cộng Hòa, ông Nguyễn Văn Thiệu trở thành tổng thống thứ hai, đỉnh điểm cuộc chiến tranh Việt Nam leo thang tới trận Mậu Thân năm 1968. Kinh tế miền Nam bị ảnh hưởng, đồng tiền bị mất giá, có những chuyển biến thay đổi về thời cuộc, bộ tiền Việt Nam Cộng hòa năm 1969 ra đời. Lần này bộ tiền mới phát hành tăng dần theo các mệnh giá, không còn in mệnh giá nhỏ.

    Bộ tiền Việt Nam Cộng Hòa năm 1969 hay còn được gọi là bộ hoa văn bao gồm 6 mệnh giá với 6 màu khác nhau. 20, 50, 100, 200, 500, và 1000 đồng.
     




     
    Sáng ngày 25/8/1972, Ngân hàng phát hành bộ tiền năm 1972 lưu hành song song cùng bộ hoa văn cũ. Bộ tiền này hay còn được gọi là bộ tiền thú vì mỗi tờ là một con thú khác nhau. Bộ gồm 5 mệnh giá 50, 100, 200, 500, và 1000 đồng.
     





     
    Đến cuối năm 1974, cuộc chiến ngày càng leo thang, vật giá ngày càng trượt dốc, chính phủ đã ban hành hai mẫu tiền giấy mới gồm 5000 đồng hình con beo và 10000 đồng hình con trâu. Đây là hai tờ lớn nhất và cũng là hai tờ cuối cùng của chế độ. Ngân khố quốc gia đã dự trữ sẵn một lượng lớn hai mệnh giá này và đã phát hành lương cho các công chức sĩ quan tại Biên Hòa vào đầu năm 1975.
     
     
    Nhưng tình thế thay đổi, Sài Gòn sụp đổ, Ngân Hàng Quốc Gia được chính quyền mới tiếp quản nên hai tờ tiền trên đã không được lưu hành rộng rãi, chỉ một số ít được tuồn ra ngoài nên giá trị rất cao vì khan hiếm.

    Sau ngày 30 tháng tư
    [năm 1975] tiền giấy Việt Nam Cộng Hòa tiếp tục được lưu hành thêm năm tháng nữa. Đến ngày 22/9/1975, chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam đưa ra quyết định đổi tiền trên toàn miền Nam. Đồng tiền mới hay còn gọi là tiền “giải phóng” hay tiền Cộng Hòa miền Nam Việt Nam (CHMNVN). Tiền này lấy tên mới là “Ngân Hàng Việt Nam”, tỷ lệ quy đổi cũng khác.
     
     
    Từ Quảng Nam – Đà Nẵng đổ về Nam thì 500 đồng VNCH bằng 1 đồng CHMNVN.

    Từ Thừa Thiên–Huế đổ ra Bắc thì 1000 đồng VNCH đổi thành 3 đồng CHMNVN.

    Mỗi gia đình chỉ được đổi tối đa 100000 đồng VNCH, với tiểu thương hay nhà máy phải ký thác vào ngân hàng. Tiền VNCH chính thức kết thúc sứ mạng.

    Nguồn: D–money