Tu Do Xuan Nham Dan 1962.pdf < == click để xem hay right click để download
CAO - LÃNH
VƯƠNG HỒNG SỂN
Ngày nay, người mới cũng như người cũ, không ai còn xa lạ gì với danh-từ «Cao-Lãnh» Có danh nhứt, ai ai cũng công nhận, là : gà Cao-Lãnh, có tài đá hay đâm lẹ ; đòn đã dữ thêm cựa rất nhạy, mỗi cú đá đều có máu rơi ; nói về nhân-vật thì đặc-tính của đàn ông Cao-Lãnh là vừa bí mật gan lì, thêm rất ưa làm quốc sự : Xưa đời Tây đến đến Tây đi, dân Cao-Lãnh ngồi tù ra khám như ăn cơm bữa...
Nhưng nói gì thì nói, đến như danh từ « mỹ-phẩm đệ nhứt hảo hạng » thì phải dành riêng để tặng đàn bà Cao Lãnh. Gái Cao Lãnh giỏi tài đảm đang tháo vác, thêm được hình vóc mảnh mai, tuy mảnh mai nhưng chàng trai xứ lạ chớ khinh mà lầm.Quanh năm sinh sống trên Sông Cái, buông tay giặm bắt tay chèo, sông trong nước ngọt mà chờ, thêm cha mẹ vốn nhà dầu óc, Cao Lãnh có miễu thờ Thần-Nông Từ lại cũng có thầy dạy nghề võ, cho nên gái Cao Lãnh, Trời phú cho một sắc đẹp thiên nhiên, thêm cô nào cô nấy đều « có miếng » tùy thân, nói cho mà biết ! Trước khi mất hạnh, mất bù-câu vào đấy, làm gì các cô nước mặn làm cho lại cô nước ngọt. Miệt Cà mau, Sóc trăng, xuống nước phèn ăn chưa nứt nẻ, các cô ở đây phải có thật nhiều giấy xăng, giấy năm trăm, để đắp lên trên dấu vết hà ăn. Nói chính đáng, làm trai sao khỏi tính hiếu sắc? Trai Miền Nam luôn luôn ao ước muốn kén vợ Cao Lãnh,Nhà-Mân. Tuy vậy hễ trời sanh voi thì sanh cỏ dâm khuyên các cô «bị hà ăn chân» khoan vội giận tôi, tội nghiệp, và nên nhớ : đời nay người ta có mắt nhung, mũi dọc dừa, chưa chắc gì hơn lúa bồ, muối đụn.
Gót son thì mặc gót son,
Giầy bạc cuốn tròn, đuổi gót chạy ngay !
☆
Bấy lâu quen dùng danh từ « Cao Lãnh » rời nhằm tai. Đời là đời tranh đấu, cũng không ai hơi đâu tìm tòi căn cội những danh từ ấy làm chi cho mệt. Công hay tội, báo Xuân báo hải, cứ châm tiền giả khiến phải điên đầu chạy cho ra bài nạp cho họ mới được yên thân. Và bài dành cho báo Xuân Tự-Do năm Nhâm-Dần (1962) là gốc tích « Chợ Cao-Lãnh ».
Ông Câu Lãnh, tên thật là Đỗ Công Tường. Không biết quê quán của ông ở xứ nào, duy biết vào đời vua Minh-Mạng (1821-1840), ông nhận lãnh làm Câu-đương làng Mỹ-Trà thuộc thuộc tổng Phong-Thạnh, tỉnh An-Giang (Sa-đéc).
Lạ thay, có nhiều danh từ xét ra chưa hơn trăm năm mà đã cũ kỹ xa xôi. Lâu ngày không dùng trở nên lạ tai, mỗi khi nhắc đến, khiến người đời vừa cười hình mùi, và tai hại thay, lại còn hiểu lầm là khác. Đốt không chịu dốt, nghi oan cho người, cái mới bậy dừ ! Tỷ dụ như mới đây tôi than phiền với một ông bạn Bác hà, rằng đường Võ Tánh có một ngôi mộ của một người tử vì đạo mà không ai bảo tồn, để cho nhà cửa tân tạo xây cất gần che bít. Trong câu tôi nói, tôi dùng hai chữ « Lái Găm », chưa chi ông bạn tôi đã xua tay giây nảy, trách tôi sao xấc xược, dám phạm thượng, nhè một vị Á-Thánh của đạo Da Tô mà gán cho nghề « lái nọ mới kia » ! Tôi phải cầu cứu với ông Huỳnh Tịnh Của, lật bộ « Đại Nam Quấc Âm Tự Vị », gí vào tận mặt bạn tôi, khi ấy bạn tôi mới chịu nhe răng cười mà đọc lân với tôi :
« Lái : ..., người làm chủ dưới thuyền ; nhà nghề ».
« Ông Lái : người làm chủ dưới ghe buôn ».
« Lái buôn : người đi buôn thuyền, buôn bộ »
« Lái phụ : người giúp cho chánh lái buôn ; người lãnh việc coi lái ».
(Đại-Nam Quấc-âm Tự-vị Huỳnh-tịnh-Của).
Trở lại, và để tìm hiểu danh-từ « Cao-Lãnh » thì xét ra trước trước, dường :
« Câu : » lánh lấy, gánh lấy ».
« Câu đương : » chức việc làng coi sóc các việc trong làng ».
« Câu họ, nguyên là câu đương họ đạo, chức thứ hai coi việc trong họ (nói về đạo Thiên Chúa) ».
(Đại Nam Quấc Âm Tự Vị Huỳnh tịnh Của).
Như vậy, Câu Lãnh là ông hương chức làng có tên như vậy, và bởi húy trọng tên người, nên gọi ông bằng chức.
Theo lời một vị cố lão, nay đã khuất, thuật lại với tôi lối ba mươi năm về trước, nay nhờ lúc ấy tôi đã có tật ghi chép, đến nay giây má còn đây, dạy rằng : « khoảng năm Mậu Dần triều vua Gia Long (1818) có hai vợ chồng ông Đỗ công Tường tự xuất của nhà tao lập ra một nhà dài để cho bà con trong xóm có chỗ ấm cúng tụ tập mua bán, khỏi lo lắng nắng táp mưa sa.
Lâu ngày chợ thêm sung-túc, làng xã đặt tên « Mỹ-Trà » như nay còn nghe thấy, nhưng làm gì thì làm, cái tên nôm - na « Chợ Cao - Lãnh » dân không bỏ và vẫn tiếp tục dùng mãi với nhau cho đến bây giờ. Đã nói ấy là vì quen miệng, cũng như thiên hạ, đến nay, trong xóm quê, quen nói « ngày An-nam » hoặc vắn hoa chút nữa thì nói: « ngày theo âm lịch », chớ ít nghe ai gọi «ngày Việt Nam» ! Tính ra độ non một trăm năm chục năm (1818-1961), thì Mỹ-Trà còn hoang-vu, dân cư thưa thớt, nhà cửa lèo-hèo Đêm không hết hai bàn tay, vì đất tuy mầu-mỡ và vốn là đất phù-sa béo tốt không đất nào bì kịp, nhưng thảm một nỗi nhơn-công tay cày tay cấy không đủ chống với nạn nước lớn, nạn rắn rết trộm cướp cũng như nạn sợ ma dắt hoang đồng vắng. May sao vợ chồng ông Câu Lãnh ra gương tốt, thì thân, xuất của tư, khai phá hoang-địa mở mang thành khoảnh, lập nên chợ búa, dâng mật « tiền hiền », vì vậy dân trong thôn-xã, tôn lên làm chức câu-đương nên gọi là ông Câu-Lãnh.
Xóm vừa đông đúc, chợ nhóm vừa có mồi thạnh vượng, tính từ năm Mậu Dần (1818) đến năm Canh Thìn (1820), bỗng trong xứ bị nhơn. Mà thuở ấy, thuốc men làm gì có nội với giặc trời (thiên tai), Bịnh dịch lệ, ôn hoàng, thiên hoa trái trời, đều rất sợ, sợ đến cứ tên không dám nói và gặp đến thì cho rằng « đụng », « trời kêu ai nấy dạ », đó là thiên tai, vô phương cứu chữa. Mỗi khi trong xóm bị nhơn, thì chỉ biết vái van, ở hiền gặp lành, thành tâm khẩn nguyện, làm lễ tống ôn tống gió, làm tàu kết bè chuối cúng tam sênh dâng đầu heo, « đưa chúa Ôn » đi chỗ khác, hoặc cầu xin nơi đấng thiêng liêng phù hộ phò trì... Dịch khí năm 1820 hoành hành chợ Cao Lãnh, bảo hại trong xóm người hao hơn phẩn nửa, thiên hạ náo động, nhưng đều thúc thủ vô sách. Giữa lúc nhơn dân kinh tâm tán đởm ấy, tội nghiệp vợ chồng ông Câu Lãnh lo lắng nhiều hơn ai hết. Thấy đồng bào hao quá nhiều, cầm lòng không đậu, vợ chồng bèn đặt bàn giữa trời, ngay sân chợ, cầu xin thế tử cho nhơn dân bổn xã, miễn sao giặc Trời sớm dứt, mau mau yên ổn trong xóm trong làng. Khẩn nguyện như vậy rồi, bát câu từ bữa đó, vợ chồng trường trai. Lòng thành tất nhiên hữu cảm : vái nguyện ngày mồng sáu, đêm được ngày mồng bảy rồi mồng tám... Bước qua ngày mồng chín, bà dụng giặc Trời buổi sáng, đến mười giờ tối đêm đó thì bà tất hơi. Trong nhà lo việc tẩn liệm chưa xong, thì đến lượt ông Câu cũng ơn mình, tay bắt chim - chim, qua mồng mười khoảng hai giờ sáng, cũng tắt thở theo bà trót thê. Khi cất đám đưa hai ông bà ra đồng an táng, trở về làng lạ thay cũng giờ ấy bịnh dịch dứt tiệt, bá tánh được bình yên như cũ. Mười người như một đều qui công cho vợ chồng ông Câu Lãnh cho rằng nhờ sự hy sinh cao cả của ông bà mà nhơn dân được mạnh lành. Ơn của hai ông bà xét ra rất lớn và để tưởng niệm công đức của nhị vị cứu tinh này, dân chúng từ ấy đều gọi chợ này là Chợ Câu Lãnh, tuy trong giấy tờ sở tấu chạy lên quan, thì dùng ba chữ « Mỹ-Trà thôn ».
Nhưng cũng ác nghiệt thay, miệng người dân Miền Nam ăn mắm ăn muối đã quen, nên có tật rất lớn là « tật nói đớt » hay nói không sửa giọng, dùng giọng. Vì lười cũng có, để tránh « khò độc » khó nói cũng có, vì tưởng như vậy là « theo người theo ta » cũng có, hay vì nhiều nguyên do bí ẩn tôi xin chịu dốt, mà người miền Nam phát âm ít khi đúng giọng đúng chữ, và thường nói trại ra : thay vì « Câu Lãnh », húy kỵ thét rồi gọi « Cao Lãnh » cho đến nay đã thành danh, dẫu muốn sửa sai cũng muộn rất khó.
☆
Năm tôi còn ở Sa đéc, tôi có lên Cao Lãnh chơi, lối 1928—1932, thì thấy tại Mỹ Trà có miễu thờ nguy nga, không biết nay còn chẳng hay đã bị đốt phá mấy năm tao loạn mất rồi. Theo tài liệu tôi còn giữ được hình như miễu ấy tạo lập vào năm Đinh-mùi (1907) do lòng thiện tâm của hai ông Huỳnh kim Ngưu quen gọi « hội đồng Ngưu » (nghị-viên địa-hạt) và ông Bùi Hữu-Giảng, hương-chủ Mỹ-Trà thuở đó, kẻ bằng tâm người bằng sản, quyên tiền, xin phép, mua đất lập nên miễu-võ thờ ông Đỗ Công Tường, tục danh ông Câu Lãnh. Miễu xây trên bờ kinh Quản Khánh trổ qua sông Cái Sao, cách chợ Cao Lãnh không xa, và sau miễu có ngôi mộ chung của hai ông bà mắt năm xưa cách nhau không mấy ngày.
Câu liễn trước cửa miễu, tôi còn chép năm xưa là :
Mỹ kiểng Câu Đường, hữu chí lập thành sanh bửu cuộc,
Trà giang Lãnh thị, triêm ân thương mãi nhựt vinh ba.
Vì tài liệu viết tay, không sao câu chữ Hán, nên không dám viết lại bằng Hán Tự, để tránh lỗi lầm. Lại nữa, vì dốt chữ, nên không dám lấn mặt làm tàng.
(Viết tại Gia Định, số 5 đường Nguyễn-thiện-Thuật, ngày 5 tháng 11 dl. năm 1961)
TỰ DO XUÂN NHÂM DẦN 1962 — TRANG 21







