Thứ Tư, 16 tháng 9, 2026

Sáu Dân – Cái giá của người cầm đèn chạy trước ô tô

 

Ảnh: cố TT VVK, bên nguyên CTN TTS và tác giả TVT

Tô Văn Trường
Trong hành trình đổi mới và phát triển đất nước, có những con người không chỉ đứng trước thời cuộc mà còn phải đối diện với những giới hạn của nó. Võ Văn Kiệt – người con của Nam Bộ, vị Thủ tướng được nhân dân gọi bằng cái tên thân thương “Sáu Dân” là một trong những nhà lãnh đạo như thế. Ông nổi tiếng bởi tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Thế nhưng, phía sau những quyết sách mang dấu ấn mở đường là những trăn trở, những va chạm và cả cái giá phải trả của người dám nhìn xa hơn hiện tại.
Bức thư gửi Bộ Chính trị ngày 9/8/1995 không chỉ là một văn bản trao đổi về đường hướng phát triển đất nước, mà còn là minh chứng sắc nét nhất cho tư duy đột phá và tiếng nói trách nhiệm trước vận mệnh dân tộc của ông.
Bức thư 9/8/1995 và tầm nhìn vượt thời đại
Bức thư ngày 9/8/1995 ra đời trong thời điểm đất nước vừa trải qua gần một thập niên đổi mới, những thành tựu ban đầu đem lại niềm tin lớn nhưng cũng đặt ra bài toán hóc búa về việc hội nhập sâu rộng. Với tư duy của một nhà hoạt động thực tiễn sâu sát, Thủ tướng Võ Văn Kiệt không né tránh những câu hỏi khó.
Điểm đột phá của bức thư nằm ở việc ông thẳng thắn đề cập đến những vấn đề cốt lõi mang tính định hướng chiến lược. Trong bối cảnh Việt Nam vừa gia nhập ASEAN và bình thường hóa quan hệ với Mỹ, bức thư mạnh dạn đặt ra yêu cầu cấp bách phải đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế.
Hơn thế nữa, ông kiến nghị phải đẩy mạnh cải cách thể chế, xây dựng Nhà nước pháp quyền, nâng cao năng lực quản trị quốc gia và quyết liệt đổi mới khu vực kinh tế nhà nước.
Những kiến nghị ấy phản ánh một phương pháp tư duy vượt trước thời đại: đặt lợi ích lâu dài của quốc gia lên trên hết, coi thực tiễn là thước đo chân lý và xem chất lượng bộ máy quản lý là yếu tố quyết định sự tồn vong. Đó là tiếng nói của một người từng trải qua những năm tháng gian khó nhất, hiểu rõ rằng mọi chủ trương nếu không xuất phát từ đòi hỏi thực tế của cuộc sống thì sẽ không có sức mạnh bền vững.
Va đập của đổi mới và cái giá của sự tiên phong
Tuy nhiên, trong đời sống chính trị, những người đi trước thường phải đối mặt với một nghịch lý: họ nhìn thấy nhu cầu thay đổi trước khi sự thay đổi ấy trở thành nhận thức chung. Vì vậy, tư tưởng mới luôn đi kèm với sự tranh luận, hoài nghi, thậm chí là phản kháng.
Chính vì chạm đến những vấn đề quá căn bản và mới mẻ, bức thư 9/8/1995 đã tạo nên những luồng phản ứng trái chiều. Bên cạnh sự đồng tình, có không ít ý kiến thận trọng, phê phán. Áp lực khi đó không chỉ bủa vây người đứng đầu Chính phủ mà còn trút xuống những người cộng sự gần gũi của ông.
Điển hình là ông Nguyễn Trung – trợ lý của Thủ tướng Võ Văn Kiệt lúc bấy giờ. Trước những diễn biến phức tạp, ông Nguyễn Trung đã chủ động làm đơn xin thôi nhiệm vụ để không trở thành "điểm nghẽn" gây thêm khó khăn cho ông Sáu Dân. Sự hy sinh thầm lặng ấy không chỉ là một quyết định cá nhân, mà còn là khí chất của một người trí thức: sẵn sàng rời bỏ vị trí quyền lực để bảo vệ lẽ phải và giảm tải áp lực cho người lãnh đạo mình tin tưởng.
Cái giá của sự tiên phong còn lan sang cả những người đồng hành khác. Một số cá nhân có uy tín trong xã hội khi tiếp cận, lưu giữ hoặc trao đổi tài liệu liên quan đến bức thư đã phải gánh chịu những hệ lụy nghiêm trọng, có người bị xử lý, thậm chí phải trải qua những năm tháng tù đày.
Nhìn lại từ khoảng cách thời gian, ta thấy rõ quy luật khắc nghiệt của sự đổi mới: người khai phá luôn phải đi trước để soi đường, và chính vì thế, họ phải hứng chịu những va đập tổn thương mà những người đi sau không bao giờ phải trải qua.
Di sản tinh thần và ánh sáng còn lại
Thời gian trôi qua, nhiều nhận định có thể thay đổi, nhưng những câu hỏi lớn mà Võ Văn Kiệt đặt ra từ năm 1995 về năng lực quản trị quốc gia và khả năng thích ứng của đất nước vẫn vẹn nguyên tính thời sự.
Di sản lớn nhất mà Sáu Dân để lại không chỉ là những công trình mang dấu ấn lịch sử, mà cao cả hơn là một tinh thần: tuyệt đối không bằng lòng với sự trì trệ. Ông để lại một hệ quy chiếu cho các thế hệ sau: làm thế nào để Việt Nam tiến nhanh hơn, mạnh hơn và bền vững hơn giữa một thế giới luôn biến động?
Hình ảnh "người cầm đèn chạy trước ô tô" tuy gợi lên sự cô đơn, gian truân của người mở đường, nhưng cũng là sự tri ân sâu sắc của lịch sử dành cho ngọn cờ đầu dám thắp lên ánh sáng của tư duy mới. Ánh sáng ấy không xuất phát từ danh vọng cá nhân, mà được thắp lên từ ngọn lửa trách nhiệm.
Như nhà thơ Việt Phương từng nghẹn ngào viết khi tiễn biệt ông:
“Người có biết đời yêu người đến thế
Đời cần người lúc này bao xiết kể
Người đừng đi, đừng đi, đừng đi…”
Những vần thơ ấy là tình cảm chân thành nhất dành cho một nhân cách chính trị lớn. Hình ảnh Sáu Dân sẽ mãi ngự trị trong dòng chảy lịch sử dân tộc như một biểu tượng bất diệt về lòng can đảm, tinh thần đổi mới và trách nhiệm thiêng liêng của một nhà lãnh đạo trước vận mệnh quốc gia. Ánh đèn ấy không chỉ soi đường cho một thời kỳ, mà còn nhắc nhở chúng ta rằng: muốn đưa đất nước tiến lên, luôn cần những con người dám nhìn xa hơn ngày hôm nay.
*

Thứ Hai, 14 tháng 9, 2026

“Détail d'un fort chinois couvrant la route de Bac-Ninh” (Chi tiết một đồn lũy Trung Hoa khống chế/bảo vệ con đường đi Bắc Ninh.) Bảo tàng George Eastman cũng xác nhận ảnh này thuộc bộ ảnh Hocquard, niên đại 1884–1885.

 “Tại sao năm 1884 lại có quân Thanh ở Bắc Ninh – tức ngay giữa miền Bắc Việt Nam?” Câu chuyện phía sau khá quan trọng, vì đây chính là một phần của cuộc đối đầu Pháp–Thanh dẫn tới Chiến tranh Pháp–Thanh 1884–1885.




1. Trước hết, chú thích bức ảnh là có cơ sở

Đây là ảnh của bác sĩ quân y Pháp Charles-Édouard Hocquard, trong bộ ảnh Le Tonkin – Vues photographiques, chụp trong khoảng 1884–1885.

Chú thích nguyên văn:

“Détail d'un fort chinois couvrant la route de Bac-Ninh”

nghĩa là:

“Chi tiết một đồn lũy Trung Hoa khống chế/bảo vệ con đường đi Bắc Ninh.”

Bảo tàng George Eastman cũng xác nhận ảnh này thuộc bộ ảnh Hocquard, niên đại 1884–1885.

Vì vậy, đây không phải là một đồn quân Nguyễn thông thường, mà người Pháp lúc đó xác định là công sự của lực lượng Trung Hoa.


2. Nhưng tại sao quân Thanh lại vào Bắc Kỳ?

Điểm mấu chốt nằm ở quan hệ Việt Nam – Trung Quốc thời Nguyễn.

Trong thế kỷ XIX, triều Nguyễn vẫn nằm trong hệ thống triều cống của nhà Thanh. Khi Pháp bắt đầu mở rộng quân sự ở Bắc Kỳ, triều đình Huế đã nhiều lần cầu viện nhà Thanh.

Đồng thời, Bắc Kinh coi việc Pháp chiếm Bắc Kỳ là một vấn đề an ninh ngay sát biên giới phía nam của Trung Quốc.

Đặc biệt sau khi Pháp đánh chiếm Hà Nội năm 1882, rồi mở rộng hoạt động quân sự, nhà Thanh bắt đầu đưa quân xuống Bắc Kỳ.

Một tài liệu nghiên cứu về cuộc chiến ghi nhận rằng vì Việt Nam vẫn được Trung Quốc xem là một nước chư hầu/triều cống, những thắng lợi của Pháp ở Bắc Kỳ khiến nhà Thanh lo ngại Pháp sẽ áp sát biên giới phía nam Trung Quốc.


3. Bắc Ninh năm 1884 thực sự có khoảng 20.000 quân Thanh

Đây là chi tiết rất đáng chú ý.

Đầu năm 1884, quân Pháp chuẩn bị đánh Bắc Ninh. Khi ấy Bắc Ninh không chỉ có quân Nguyễn.

Quân Quảng Tây của nhà Thanh đã đóng tại khu vực này với khoảng 20.000 quân, dưới quyền Tổng đốc Quảng Tây Từ Diên Húc (徐延旭); ông này đóng tại Lạng Sơn và giao việc chỉ huy trực tiếp ở Bắc Ninh cho các tướng dưới quyền.

Quân Thanh bố trí:

  • một bộ phận dọc đường cái quan phía tây nam Bắc Ninh;
  • một bộ phận ở Trung Sơn – Đáp Cầu;
  • xây dựng nhiều công sự, đồn lũy, trận địa pháo;
  • phối hợp với lực lượng Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc.

Có nguồn nghiên cứu ghi nhận Bắc Ninh lúc ấy là một căn cứ lớn của quân Thanh, với khoảng 20.000 quân.

Vì vậy bức ảnh ông đưa lên hoàn toàn phù hợp với bối cảnh quân sự lúc đó.


4. Và đây chính là nguyên nhân dẫn đến trận Bắc Ninh 1884

Pháp không chấp nhận việc quân Thanh hiện diện ở Bắc Kỳ.

Sau khi chiếm Sơn Tây cuối năm 1883, quân Pháp tiếp tục tiến về Bắc Ninh.

6–24/3/1884: Chiến dịch Bắc Ninh.

Quân Pháp khoảng 10.000–11.000 người tiến đánh lực lượng Thanh khoảng 20.000 quân, cộng với một số lực lượng Cờ Đen.

Ngày 12/3/1884, Bắc Ninh thất thủ.

Quân Thanh rút chạy và bỏ lại nhiều vũ khí, trong đó có cả pháo Krupp mới.

Điều đặc biệt là sau thất bại này, Pháp tiếp tục tiến lên và chiếm thêm Hưng Hóa, Thái Nguyên...


5. Có một điều rất thú vị: lúc ấy Pháp và Thanh chưa chính thức tuyên chiến

Đây là chỗ lịch sử khá phức tạp.

Năm 1884, tình trạng lúc đầu là một kiểu “chiến tranh không tuyên chiến”.

Sau trận Bắc Ninh, hai bên còn cố gắng thương lượng.

Ngày 11/5/1884, Pháp và Trung Quốc ký Hiệp ước Thiên Tân, theo đó Trung Quốc đồng ý rút quân khỏi Bắc Kỳ và thừa nhận sự bảo hộ của Pháp đối với Việt Nam.

Nhưng việc rút quân không diễn ra suôn sẻ.

Ngày 23/6/1884, quân Pháp và quân Thanh đụng độ tại Bắc Lệ (Bắc Lệ/Bắc Lệ, Lạng Sơn).

Sau đó quan hệ hai nước hoàn toàn đổ vỡ.

Đến tháng 8/1884, chiến tranh Pháp–Thanh chính thức bùng nổ.


6. Vì vậy, cần hiểu “quân Thanh ở Bắc Ninh” như thế nào?

Không nên hiểu đơn giản rằng:

“Nhà Thanh sang chiếm Bắc Việt Nam.”

Mà chính xác hơn là:

Trong bối cảnh triều Nguyễn vẫn thuộc hệ thống triều cống của nhà Thanh, khi Pháp dùng quân sự mở rộng quyền kiểm soát Bắc Kỳ, nhà Thanh đưa quân sang hỗ trợ phía Việt Nam và đồng thời bảo vệ lợi ích, an ninh của chính Trung Quốc ở biên giới phía nam.

Nhưng trên thực tế, quân Thanh đã trực tiếp tham chiến chống quân Pháp trên đất Bắc Kỳ.

Vì vậy trong các tài liệu Pháp người ta thấy những cụm từ như:

  • troupes chinoises – quân Trung Hoa;
  • armée du Kouang-Si – quân Quảng Tây;
  • fort chinois – đồn/lũy Trung Hoa;
  • soldats réguliers chinois – binh lính chính quy Trung Hoa.

Bộ ảnh của Hocquard thậm chí còn có cả ảnh ghi “Soldats réguliers chinois” – binh lính chính quy Trung Hoa, “Fort chinois à Hong-Hoa”, “Fort chinois à Dong-Son”, và “Détail d'un fort chinois couvrant la route de Bac-Ninh”.

Một chi tiết rất đáng chú ý về chính bức ảnh ông gửi

Dòng chữ dưới ảnh là “Bac-Vinh” hay “Bac-Ninh”?

Tôi kiểm tra bản gốc của bộ ảnh Hocquard thì xác nhận là:

“…couvrant la route de Bac-Ninh”

tức đường đi Bắc Ninh, không phải Bắc Vinh.

Cho nên nếu ông định đăng bức ảnh này lên Facebook, tôi đề nghị sửa chú thích thành:

Đồn lũy của quân Thanh khống chế đường đi Bắc Ninh, 1884.
Ảnh của bác sĩ quân y Pháp Charles-Édouard Hocquard.

Vì sao quân Thanh lại có mặt ở Bắc Kỳ?
Năm 1884, khi Pháp tiến hành chiến dịch đánh Bắc Ninh, khoảng 20.000 quân Quảng Tây của nhà Thanh đã hiện diện tại Bắc Kỳ, cùng lực lượng Cờ Đen chống quân Pháp. Bắc Ninh trở thành một trong những chiến trường quan trọng của cuộc đối đầu Pháp–Thanh, ngay trước khi Chiến tranh Pháp–Thanh 1884–1885 chính thức bùng nổ.

'Cú sốc' của cựu hiệu trưởng đại học ngày đầu vào Sài Gòn

 "Sự phát triển của TP sau này do chính những công dân được sinh ra ở đây, những công dân chọn nơi này để làm việc và sinh sống quyết định". 

-  PGS.TS Nguyễn Kim Hồng, nguyên Hiệu trưởng Trường ĐH Sư phạm TP.HCM, là một trong hàng ngàn trí thức được điều động vào giảng dạy, xây dựng miền Nam sau năm 1975.

Năm 1978, khi vừa tốt nghiệp ĐH Sư phạm Hà Nội, ông Nguyễn Kim Hồng được Bộ GD-ĐT phân công vào trường ĐH Sư phạm TP.HCM công tác.

“Cảm giác đầu tiên là rất lạ, mà nói thật là cú sốc. Tôi không nghĩ là Sài Gòn lại lớn và đẹp đến như vậy.

Khi vào làm việc, sự khác biệt đầu tiên mà tôi thấy là cơ sở vật chất. Ở Hà Nội, nơi tôi học, phòng thực hành địa chất nhỏ và ít mẫu vật hơn nhiều so với tại ĐH Sư phạm TP.HCM. Giảng đường với các camera truyền hình ảnh trực tiếp với tôi cũng là điều chưa có ở miền Bắc thời điểm đó”, PGS.TS Hồng nói.

{keywords}
PGS.TS Nguyễn Kim Hồng

Theo thầy Hồng, hình ảnh ấn tượng đầu tiên là sinh viên nữ mặc áo dài đi học, điều chỉ được thấy ở các hội diễn văn nghệ của sinh viên miền Bắc.

"Sinh viên Sài Gòn rất lễ phép. Đa phần sinh viên Sài Gòn thời điểm đó đều xưng con với tôi, mặc dù tôi chỉ hơn họ 3-4 tuổi thôi. Việc khoanh tay để chào khách, chào thầy, cô ở miền Bắc được coi là hiếm nhưng ở Sài Gòn lại như một điều tất nhiên. Tôi cảm giác nhà trường và các gia đình Nam Bộ chú ý nhiều hơn đến việc dạy lễ cho con em mình”, PGS.TS Hồng nói.

{keywords}
Nữ sinh Sài Gòn trong tà áo dài. Ảnh: Bill Mullin

Theo vị nguyên hiệu trưởng, nguyên nhân, có thể do miền Bắc tuy có thời gian dài chịu ảnh hưởng của lễ giáo phong kiến nhưng sau năm 1954, sự thay đổi lại quá nhanh chóng khiến những lễ giáo lẽ ra cần được duy trì lại bị mai một, trong khi ở miền Nam vẫn giữ được.

Nói về đồng nghiệp, thầy Hồng cho hay, phần lớn trí thức ở Sài Gòn trước năm 1975 mà ông gặp đều được đào tạo hoặc tu nghiệp ở Anh, Mỹ, Pháp... nói chung là ở các nước phát triển. 

“Trong lĩnh vực khoa học xã hội, theo tôi những giảng viên trước 1975 ở miền Nam được đào tạo tốt hơn. Trừ một số giảng viên từ các trường đại học ở miền Bắc tăng cường cho các đại học phía Nam có trình độ phó tiến sĩ, tiến sĩ khoa học, còn lại phần lớn là sinh viên vừa tốt nghiệp đại học.

Những trí thức còn ở lại khi đó thường ít nói về quan điểm riêng, đặc biệt là vấn đề chính trị. Có tình trạng thâm hụt khá lớn trong giới trí trức khoa học xã hội có trình độ cao ở miền Nam lúc đó khi nhiều người đã rời bỏ đất nước”, thầy Hồng nhớ lại.

Xách 20kg gạo trong vali bị “bắt”

Theo thầy Hồng, cuộc sống tầng lớp trí thức khi mới bước chân vào Sài Gòn rất khó khăn. Sinh viên mới ra trường chỉ hưởng 85% của bậc một (64 đồng/tháng), phải sống rất tằn tiện, nghỉ hè không có tiền về quê, cũng chẳng đủ tiền mua tài liệu, sách vở.

Những năm ấy, giảng viên phải đi trồng củ mì, tăng gia sản xuất ở Bình Phước. Ngày Tết, cán bộ công đoàn trường phải lặn lội xuống miền Tây mua gạo thơm, nếp, thịt heo, dưa hấu…cho cán bộ ăn Tết. Việc mua lương thực và thực phẩm không giản đơn vì chính sách “ngăn sông, cấm chợ”.

Nhiều trí thức ở miền Nam lúc đó còn phải bán cả đồ dùng trong gia đình như chén, đĩa... để có thể đảm bảo cuộc sống hàng ngày.

{keywords}
Thầy Hồng kể lại những câu chuyện ngay khi mới đặt chân vào miền Nam

“Còn nhớ có lần đi xuống dạy ở Cà Mau, tôi đã dùng toàn bộ tiền mời giảng và lương để mua gạo thơm và nếp, bỏ vào vali mang về ăn Tết. Giữa đường về thì bị quản lý thị trường kiểm tra, bắt lại. May tôi là giáo viên lại có có công lệnh đi dạy nên họ thông cảm mà cho qua. Thế là có một cái Tết có gạo trắng, nếp thơm”, thầy Hồng nhớ lại.

Về cuộc sống hàng ngày, thầy Hồng kể, điều ông thích nhất là con người Nam Bộ không can thiệp vào chuyện cá nhân. Họ không đưa chuyện cá nhân, cuộc sống mưu sinh vào công việc, chính trị...đó là điểm rất khác đối với người miền Bắc.

"Tôi cho rằng trước năm 1975, họ đã được dạy về những giá trị cá nhân của con người nên không bao giờ để chuyện này xen vào công việc, vào đời sống chính trị. Đó là những điểm văn hóa rất khác với người miền Bắc”, lời thầy Hồng.

{keywords}
Trường ĐH Sư phạm TP.HCM xưa. Ảnh: Tư liệu

Thầy Hồng cho rằng, những năm đầu sau khi đất nước thống nhất, những sinh viên ưu tú, nhiệt huyết đã được chọn, bù lấp cho khoảng trống thiếu giáo viên. Đội ngũ trí thức miền Bắc nói chung và giáo viên nói riêng đã làm “tròn vai” tại thời điểm đó. Sau này, cùng đội ngũ trí thức ở lại khi đó góp phần làm cho thành phố vượt khó và phát triển như hiện nay.

“Cũng giống như các địa phương khác, đội ngũ tri thức luôn có những đóng góp lớn vào sự phát triển kinh tế, xã hội. Họ có những đóng góp thiết thực tại thời điểm đó.

Tuy nhiên, sự phát triển của thành phố sau này do chính những công dân được sinh ra ở đây, những công dân chọn nơi này để làm việc và sinh sống quyết định. Chính họ mỗi ngày làm cho TP trở nên đáng sống hơn”, PGS.TS Nguyễn Kim Hồng nói.

Chuyện với một nhà tư sản Sài Gòn như tôi biết

 

Khác với tất cả những gì tôi đã hình dung một nhà tư sản được mô tả bóc lột, quan cách, ăn chơi, Lê Hoàng trước mặt tôi là một người hiểu biết, lịch lãm, nhân từ và phóng khoáng.

 - Khác với tất cả những gì tôi đã hình dung một nhà tư sản được mô tả bóc lột, quan cách, ăn chơi, Lê Hoàng trước mặt tôi là một người hiểu biết, lịch lãm, nhân từ và phóng khoáng.

Ngày 30/4/1975, Sư đoàn 5 tiến vào giải phóng Long An và quân quản Sài Gòn. Một tháng sau, chúng tôi lại hành quân về đứng chân ở căn cứ Bến Kéo (Tây Ninh) khi biên giới Việt Nam và Campuchia đang biến động.

Để chuẩn bị cho Đại hội thi đua Sư đoàn vào cuối năm 1975, tôi được Ban tuyên huấn sư đoàn phân công trở lại Sài Gòn in tập sách “Dũng sỹ đường 4” nói về những chiến công của Sư đoàn trong chiến dịch Hồ Chí Minh, làm nhiệm vụ cắt đứt đường 4, cô lập miền Tây, tiến vào giải phóng Sài Gòn.

Tôi được Ban quản lý in ấn TP.HCM lựa chọn và giới thiệu đến in sách tại nhà in Khắc Hạnh số 318 đường Trần Quý Cáp (nay là đường Võ Văn Tần), quận 3, TP.HCM.

{keywords}
Tác giả Lê Doãn Hợp (hàng đứng, thứ hai từ phải sang) và đồng đội trước giờ tiến vào Sài Gòn. Ảnh do tác giả cung cấp

Tại đây, tôi được tiếp cận và làm việc nhiều với nhà tư sản trẻ Lê Hoàng. Khác với tất cả những gì tôi đã hình dung về một nhà tư sản qua sách báo và thông tin truyền miệng là bóc lột, quan cách, ăn chơi… Lê Hoàng trước mặt tôi là một con người hiểu biết, lịch lãm, nhân từ và phóng khoáng.

Là một cán bộ tuyên huấn, tôi say sưa định hướng cho anh về CNXH và CNCS trong tương lai của Việt Nam. Anh nghe rất chăm chú, tiếp thu chứ không bình luận.

Tôi cứ nghĩ là anh đã ngấm dần những nguyên lý cơ bản nhất của chủ nghĩa Mác Lênin. Sau hơn 2 tuần in sách, khi sắp chia tay để trở về đơn vị, anh mời tôi lên Lái Thiêu (Bình Dương - Thủ Dầu Một) xem trang trại cây ăn quả khoảng 10ha của anh.

Có 7 công nhân vun trồng chăm sóc. Ngồi ở tầng 2, tòa nhà 3 tầng nằm giữa một rừng cây ăn quả, anh tâm sự với tôi nhiều điều thú vị, mà đã có lần tôi đem ra phát biểu tại kỳ họp thứ 5 BCH TƯ Đảng khóa 9.

Lê Hoàng trầm tư nói: Bức tranh về CNXH và CNCS mà anh Hai (Lê Hoàng gọi tôi là anh Hai vì biết tôi là con đầu của gia đình) đã nói với tôi là một bức tranh rất đẹp, nhưng trở thành hiện thực thì không dễ. Vì hơn nửa năm sau ngày giải phóng, nền kinh tế Sài Gòn cứ sa sút mãi, chưa có điểm dừng. Đặc biệt những người giỏi, người giàu đang ngấm ngầm rủ nhau vượt biên.

Một dân tộc mà người giàu không yên ổn làm ăn, tìm cách trốn chạy ra nước ngoài thì đất nước khó thịnh, dễ suy. Chế độ của anh Hai có thể trẻ em đỡ hư hơn, người già được quan tâm hơn, nhưng làm giàu trước mắt khó hơn. Vì thế nguồn lực để đóng góp cho Nhà nước và giúp người nghèo sẽ hạn hẹp hơn.

3 dấu ấn

Nửa tháng làm việc và quen biết Lê Hoàng, tôi còn có thêm 3 dấu ấn khó quên:

Một hôm tôi đang ăn sáng, thấy anh gọi một công nhân trong số hơn 70 công nhân trong nhà máy mà anh quản lý đến gặp và nói: Hôm nay là ngày giỗ cụ thân sinh của chú, tôi cho chú nghỉ một ngày để lo hương khói cho cụ, tôi có chuẩn bị một ít trái cây và chai rượu, nhờ chú đặt lên bàn thờ kính viếng cụ.

Người công nhân cảm động nhận quà, cúi gập người xuống cảm ơn cả anh và tôi. Tôi cảm động về hành vi đẹp của một ông chủ đối với người giúp việc.

Một kỷ niệm nữa là ngày 16/3/1976, tôi được về Bắc nghỉ phép sau gần 9 năm xa nhà. Chúng tôi chờ lịch bố trí xe ở trạm quân chính điều phối T67 (nay là nhà khách Quân khu 7). Chờ 2 ngày vẫn chưa có xe để đi, dù đã sắp xếp xong đội hình quân nhân cho từng xe một.

Sang ngày thứ 3, tôi tranh thủ đến thăm Lê Hoàng, hai anh em trò chuyện rồi ăn trưa, gần 3 giờ chiều tôi mới trở về trạm, thì được tin anh em đã lên xe ra Bắc từ lúc 10 giờ. Đồ đạc của tôi anh em đã đưa hết lên xe, tôi chỉ kịp hỏi số xe, rồi vẫy xe lam một mạch chạy đến trao đổi với Lê Hoàng.

Thấy tôi lo lắng, Lê Hoàng cười vui và trấn an: Anh Hai yên tâm, chờ tôi xử lý mấy việc xong, tôi sẽ lấy xe nhà chở anh Hai đuổi kịp đoàn. Hai anh em chạy cả ngày lẫn đêm, mãi đến gần TP Nha Trang mới gặp đoàn. Tôi lên xe của đơn vị, chia tay Lê Hoàng trong nỗi niềm đầy cảm mến.

Một dấu ấn nữa là khi tôi in xong sách trở về đơn vị, Lê Hoàng cho xe ô tô chở cả người và sách về tận Tây Ninh, có cả hoa quả, bánh kẹo, rượu bia, thuốc lá nói là quà Sài Gòn để anh Hai vui vẻ với đồng đội sau 15 ngày đi công tác xa, trở về đơn vị.

Đó là dấu ấn của một nhà tư sản dân tộc, có trí thức thời cuộc, luôn quan tâm đến người lao động, chu đáo với khách hàng và rất quý trọng Bộ đội cụ Hồ.

Về đất Bắc bề bộn bao việc sau giải ngũ, mãi đến đầu năm 1980, biết tôi thông thạo đất và người phương Nam, các đồng chí lãnh đạo Sở Xây dựng Nghệ Tĩnh cử tôi đi mua gạo cải thiện đời sống cho cơ quan.

Tôi mới có dịp tìm và ghé thăm Lê Hoàng. Tôi đến đúng số nhà và ngỡ ngàng khi đọc dòng chữ: “Hợp tác xã tiêu thụ quận 3”. Tôi e ngại không dám hỏi thăm gia đình Lê Hoàng qua những người bán hàng tại đó mà bước sang ngôi nhà đối diện bên kia đường, nơi trước đây là quán cà phê mà tôi và Lê Hoàng thường hay ngồi mỗi sáng.

Tôi hỏi bà chủ về Lê Hoàng và nhà in Khắc Hạnh. Bà cho biết, sau khi ông nội của Lê Hoàng qua đời, lo hương khói, lăng mộ cho ông xong, cả nhà Lê Hoàng đã vượt biên sang Tân Gia Ba (Singapore ngày nay) từ đầu năm 1979.

Tôi lặng người đi vì hối tiếc, thế là tôi đã mất một người bạn tốt, thành phố mang tên Bác mất một nhà tư sản trẻ yêu nghề và tâm huyết đối với đất nước, hơn 70 công nhân không có việc làm và mất đi một ông chủ đáng quý.

Hơn 40 năm rồi, dấu ấn về một nhà tư bản trẻ Sài Gòn vẫn hiện hữu trong tôi.

Tôi viết mấy dòng này và nuôi hy vọng một ngày nào đó tôi được gặp lại Lê Hoàng và những người thân của anh; với tâm thế là Việt kiều yêu nước trở về đầu tư xây dựng quê hương trong sự nghiệp đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế hôm nay.

Lê Doãn Hợp

Chủ tịch Hội Truyền thông số Việt Nam, nguyên cựu chiến binh Sư đoàn 5, Quân khu 7

Thứ Sáu, 11 tháng 9, 2026

LÀM SAO PHÂN BIỆT ĐỂ VIẾT “DÒNG” và “GIÒNG

   


 GS Trần Huy Bích

Chúng ta cùng biết các nhà văn trong Tự Lực Văn Đoàn viết “giòng sông, giòng nước”:
Nhất Linh: Giòng Sông Thanh Thủy
Tú Mỡ: Giòng Nước Ngược
Thạch Lam: Theo Giòng
Các nhà văn, trí thức lớp sau viết “dòng sông, dòng nước”:
Doãn Quốc Sỹ: Dòng Sông Định Mệnh (1959)
Nhật Tiến: Tặng Phẩm Của Dòng Sông (1972)
Đằng Phương Nguyễn Ngọc Huy: Dòng Nước Sông Hồng (viết 1945, in vào thi tập 1985)Ngô Thế Vinh: Mekong, Dòng Sông Nghẽn Mạch (2007)
Vậy chúng ta nên theo các nhà văn lớp trước hay lớp sau?
1) Trước hết, ba cuốn tự điển Việt ngữ có thẩm quyền nhất của Việt Nam cho tới hiện nay: Việt Nam Tự Điển của Hội Khai Trí Tiến Đức (trang 155), Tự Điển Việt Nam của Lê Văn Đức & Lê Ngọc Trụ (quyển Thượng, trang 376), Đại Nam Quấc Âm Tự Vị của Huỳnh Tịnh Của (quyển I, trang 243) cùng viết là “dòng”. Cuốn Việt Ngữ Chánh Tả Tự Vị do nhà ngữ học Lê Ngọc Trụ biên soạn cũng viết “dòng” (trang 141).
2) Các tự điển do những học giả có uy tín khác biên soạn như Vietnamese-English Dictionary của giáo sư Nguyễn Đình Hòa cũng viết “dòng” (trang126). Giúp đọc Nôm và Hán Việt của linh mục Trần Văn Kiệm (trang 388) cũng viết như thế. Hầu hết tự điển Việt ngữ xuất bản ở trong nước hiện nay và tự điển chữ Nôm (ở trong nước cũng như ở hải ngoại) cùng viết “dòng”:
Tự điển chữ Nôm trích dẫn (Westminster, CA, 2009): Trang 299.
Tự điển chữ Nôm dẫn giải (Hà Nội, 2012): Trang 452.
3) Các nhà biên soạn tự điển có lý do để viết “dòng” (với D). Trong chữ Nôm, chữ ấy được viết như sau:
Phía trước là bộ Thủy 氵(nước) để cho biết có liên quan đến nước.
Phía sau là chữ Dụng 用 (dùng) để chỉ cách phát âm.
Vậy đó là một chữ “có liên quan đến nước” và phát âm giống chữ “dụng” (trong chữ Nôm đọc là “dùng”). Vì phát âm giống “dụng” và “dùng”, chúng ta cùng thấy âm “dòng” gần và tự nhiên hơn. Khi phát âm là “dòng” thì viết với D là đúng.
Vì lẽ đó, những ai năng tra cứu tự điển hoặc biết qua chữ Nôm (các giáo sư Doãn Quốc Sỹ, Trần Trọng San… và những người tốt nghiệp Văn khoa sau các ông) có khuynh hướng viết là “dòng”.
Giáo sư/nhà văn Doãn Quốc Sỹ là con rể nhà thơ Tú Mỡ. Là một giáo sư Quốc văn, dạy về Tự Lực Văn Đoàn, ông biết rất rõ nhạc phụ đã viết Giòng Nước Ngược (cũng như Nhất Linh, Thạch Lam đã viết Giòng Sông Thanh Thủy, Theo Giòng) nhưng ông không theo. Trong cương vị một nhà giáo, ông viết Dòng Sông Định Mệnh, vì nghĩ rằng như thế đúng hơn. Nhà văn Nhật Tiến có giao tình thân với văn hào Nhất Linh. Ông là người đọc lời vĩnh biệt khi hạ huyệt trong tang lễ Nhất Linh ở Sài Gòn ngày 13-7-1963. Tuy biết rất rõ Nhất Linh đặt tên cho tác phẩm cuối đời của mình là Giòng Sông Thanh Thủy, năm 1972 Nhật Tiến vẫn đặt tên cho một tập truyện của ông là Tặng Phẩm của Dòng Sông.
Trong Việt Nam thi văn hợp tuyển, khi cho in các tác phẩm văn học, giáo sư Dương Quảng Hàm cũng viết “dòng”:
– Sông Lục đầu sáu khúc nước chảy xuôi một dòng (Ca dao)
– Bình bạc vỡ tuôn đầy dòng nước (bản dịch Tỳ bà hành)
Khi phiên âm Truyện Kiều, các học giả Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim, Đào Duy Anh cũng đều viết “dòng”:
– Nao nao dòng nước uốn quanh (câu 55)
– Đem mình gieo xuống giữa dòng trường giang (câu 2636)
Các học giả của miền Nam trước 1975 như giáo sư Trần Trọng San trong cuốn Văn Học Trung Quốc Đời Chu Tần, cũng luôn luôn viết: “ngược dòng, xuôi dòng, dòng dõi…”.
4) Tại sao các nhà văn trong Tự Lực Văn Đoàn viết “giòng”?
Khi các nhà văn trong Tự Lực Văn Đoàn viết Giòng Nước Ngược và Theo Giòng, tuy Tự Điển Việt Nam của Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ; cùng Việt Ngữ Chánh Tả Tự Vị của Lê Ngọc Trụ chưa ra đời, nhưng hai bộ tự điển của Huỳnh Tịnh Của và Hội Khai Trí Tiến Đức đã xuất hiện (1895 và 1931). Rất có thể các vị không lưu tâm đúng mức đến bộ tự điển của Huỳnh Tịnh Của (xuất bản ở trong Nam), nhưng nhiều phần vì các vị có thành kiến với Hội Khai Trí Tiến Đức. Báo Phong Hóa đã đăng rất nhiều thơ văn giễu cợt, châm biếm Hội này. Trong khung cảnh ấy, việc theo những đề nghị về phương diện chính tả do tự điển Khai Trí Tiến Đức đưa ra là điều khó xảy ra.
5) Tự Lực Văn Đoàn cũng có những sai lầm khác về phương diện chính tả.
Khi xuất bản lần đầu năm 1936, tập truyện ngắn của Khái Hưng mà nay chúng ta gọi là “Dọc Đường Gió Bụi” được in với nhan đề Giọc Đường Gió Bụi. Thời nay chúng ta cùng biết rằng viết như thế là sai. Câu đầu bài “Chí Làm Trai” của Nguyễn Công Trứ vẫn được phiên âm là: Vòng trời đất dọc ngang, ngang dọc.
Tự Lực Văn Đoàn có những đóng góp rất quý giá về phương diện văn học và xã hội. Về văn học, đóng góp của Tự Lực Văn Đoàn cho nền văn xuôi Việt Nam (và cho cả Thơ Mới) rất đáng kể. Nhưng cách viết chữ quốc ngữ ở thời Tự Lực Văn Đoàn chưa hoàn hảo về phương diện chính tả. Đọc lại báo Phong Hóa, chúng ta thấy lỗi chính tả khá nhiều. Vì những lẽ ấy, tuy vẫn nên viết tên các tác phẩm của Nhất Linh, Tú Mỡ, Thạch Lam là Giòng Sông Thanh Thủy, Giòng Nước Ngược, Theo Giòng (đó là những danh từ riêng, tên các tác phẩm đã có địa vị trong văn học sử), chúng ta vẫn nên viết “dòng” (dòng nước, dòng dõi, dòng tu …) trong những trường hợp khác.
+ Góp ý của nhà văn Nhật Tiến, California:
Dĩ nhiên ta tôn trọng các tác phẩm đã in thành sách như của Nhất Linh (Giòng Sông Thanh Thủy), Tú Mỡ (Giòng Nước Ngược)…, và biết ơn công trình làm mới văn chương của Tự Lực Văn Đoàn từ giữa thế kỷ trước, nhưng phải nói rằng trong hai cơ quan ngôn luận của văn đoàn này, tờ Phong Hóa và tờ Ngày Nay hãy còn chứa đầy rẫy lời văn thô sơ hay lỗi chính tả. Như một số mục chính trên tờ Phong Hóa đã dùng những từ mà cho đến nay không còn ai dùng nữa như “Chuyện Ngắn” thay vì “Truyện Ngắn”, “Từ Nhỏ Đến Nhớn” thay vì “Từ Nhỏ Đến Lớn”, “Hạt Đậu Dọn” thay vì “Hạt Đậu Nhọn”, tòa soạn quảng cáo: “Xem Phong Hóa số Tết, 20 trang. In mùi, có bìa giấy trắng” thay vì “Xem Phong Hóa số Tết, 20 trang. In mầu, có bìa giấy trắng”… Cho nên tôi hoàn toàn đồng ý với những nhận định xác đáng của anh Trần Huy Bích về việc viết chữ “dòng sông,” thay vì viết “giòng sông”.
+ Góp ý của bác sĩ Hà Ngọc Thuần, Brisbane, Úc:
Bài viết của Anh Trần Huy Bích có thể gọi là “tường-tận”: Tường là nói rõ ràng, và tận là đã nói tới cùng. Có hai hệ-luận như sau: một là trong tương-lai chúng ta nên cùng đồng ý viết “dòng”, nhưng vì Việt Nam không có Hàn Lâm Viện để quy định chính tả nên việc này tuy dễ mà khó. Vả lại trong văn chương chẳng nên có sự bức bách, bắt người viết phải theo ý kiến mình, dù đó là ý kiến của số đông. Cũng không nên có sự chê trách vội vã đối với một bài văn vì một vài “lỗi” chính tả mà quên đi ý tưởng của toàn thể bài viết. Việc này thường đưa đến những mối bất hòa không cần thiết. Hai là sau này khi tái bản chúng ta có dám, hay có nên, thay đổi tựa đề của tác giả mà in là “Dòng Sông Thanh Thủy” (Nhất Linh), “Theo Dòng” (Thạch Lam) và “Dòng Nước Ngược” (Tú Mỡ), hay là chúng ta bắt buộc phải tôn trọng các tác giả và giữ nguyên tựa đề như đã viết trong quá khứ.
+ Góp ý của nha sĩ Nguyễn Thị Mỹ Ngọc, Columbus, Ohio:
Bản thân tôi nhiều khi cũng lúng túng vì chữ “dòng sông” và “giòng sông”. Cám ơn anh Huy Bích đã tra cứu và giảng giải rất cặn kẽ. Từ nay tôi sẽ dùng chữ “dòng” mà không còn phải lưỡng lự gì nữa. Còn chữ “giòng” coi như chữ cổ, vì ngôn ngữ theo thời gian có thể đọc khác đi một chút, như “ông trời” ngày trước ta gọi là “ông giời” vậy.
+ Góp ý của nhà văn Huy Văn Trương, Bellflower, California:
Tôi thường viết “dòng sông, dòng dõi, dòng họ” vì tôi dựa theo tự điển của Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ do nhà sách Khai Trí xuất bản năm 1970 tại Sài Gòn. Trong cuốn tự điển này không có chữ “giòng” nào hết. Tôi dùng cuốn tự điển này vì tôi thấy nó tạm đủ so với nhiều cuốn khác. Tuy vậy trong đó cũng có nhiều chữ, theo tôi nghĩ vẫn còn trong vòng tranh cãi, như người ta thường viết là “chia sẻ” thì trong Tự Điển Lê Văn Đức viết là “chia xẻ”… Từ trước tới giờ tôi viết “dòng sông” vì theo tự điển nhưng vẫn thấy lấn cấn thế nào đó. Đọc bài viết của anh xong, tôi không còn thấy lấn cấn nữa, mọi thắc mắc đã được giải tỏa. Đề nghị anh đăng bài này lên nhiều tờ báo để mọi người cùng được đọc.
+ Góp ý của cô Nguyễn Thị Ngọc Dung, cựu giáo sư Trung Học Võ Tánh, Nha Trang:
Xin cảm ơn anh đã gửi một câu chuyện thú vị về văn chương, ngôn ngữ Việt Nam, cách viết chữ “Giòng” hay “Dòng”. Ngọc Dung cũng xin mạo muội chen vào, bày tỏ một vài ý kiến riêng, nho nhỏ: Ngọc Dung cũng quen với chữ “Dòng” để chỉ “dòng sông” hay “dòng đời,” và chữ “giòng” để chỉ “giòng dõi”. Tuy nhiên, theo thiển ý, dù viết “giòng đời” hay “dòng dõi” cũng vẫn được. Điều quan trọng là KHÔNG SAI về ý nghĩa. Riêng về chữ “dòng” hay “giòng,” nếu suy từ chữ Nôm (dùng chữ “Dụng” thêm bộ “Thủy”) thì “dòng” nghe có lý hơn là “giòng”.
THB, Jun 12, 2021
Tố Ngọc Trần Sưu tầm