Thứ Năm, 16 tháng 7, 2026

Vài hình ảnh đầu tiên từ xưởng sản xuất thiết bị can thiệp mạch não

 Nguyễn Tuấn 

Hôm qua, SIS mở cửa cho “bà con” vào tham quan xưởng sản xuất thiết bị can thiệp mạch não tại Khu Công nghệ cao TP.HCM.
Tôi may mắn được chứng kiến cái mà tôi gọi là “thời điểm lịch sử”.
Năm ngoái, nơi đây còn hoang sơ. Năm nay, đã thành hình hài. Phòng sạch, kính hiển vi, máy cuốn coil, dây chuyền kiểm tra chất lượng — tất cả đã vận hành.
Đây là Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo Chuyên sâu Điều trị Đột quỵ S.I.S tại TP.HCM. Tên hơi dài, nhưng tầm vóc thì xứng đáng. 🙂
Các chuyên gia và kĩ sư từ Mĩ, đa số là người Mĩ gốc Việt, đã về giúp SIS thiết lập xưởng này.
Máy móc nhập từ Mĩ và Châu Âu. Qui trình sản xuất theo chuẩn Mĩ. Kiểm tra chất lượng cũng theo chuẩn Mĩ. Thiết kế và sản xuất 100% do các chuyên gia Việt đảm nhận.
Nói gọn: đây là một xưởng công nghệ Mĩ, do người Việt xây dựng, trên đất Việt, cho người Việt.
Mà nói người Việt làm stent thì cũng không có gì lạ. Ít ai biết rằng khoảng 70-80% stent sản xuất và bán ra thế giới từ Mĩ là do công nhân và kĩ sư gốc Việt đảm nhận. Vậy nên, một xưởng stent ở Việt Nam không phải là giấc mơ, mà là logic.
Ngon lành chưa.
Trong buổi tham quan, có cả các giáo sư từ Thái Lan, Mã Lai, Ấn Độ, Mĩ. Họ hỏi rất kĩ về cách thiết kế và qui trình sản xuất. Và họ không giấu được sự ngạc nhiên: một xưởng sản xuất coil và stent não đạt chuẩn quốc tế, nằm ngay giữa Sài Gòn, vận hành hoàn toàn bởi đội ngũ người Việt.
Xưởng này là xưởng đầu tiên thuộc loại hình này tại Việt Nam. Nó sẽ giúp bệnh nhân đột quị tiếp cận công nghệ điều trị tiên tiến — từ coil cho đến stent — với chi phí dễ thở hơn nhiều so với hàng nhập khẩu.
Nhưng với tôi, điều ý nghĩa còn nằm ở câu chuyện phía sau. Sự ra đời của xưởng này là biểu tượng của “ra đi và trở về”. Những người mang công nghệ này về Việt Nam chính là những người (hoặc con cái của những người) đã ra đi hơn 40 năm trước. Nay họ là chuyên gia, là kĩ sư, là những người đã lớn lên ở California. Và họ chọn trở về.

Nguyễn Tuấn                                                                                                                                                                      Xin nói thêm rằng đây là một trung tâm khá đặc biệt. Từ thiết kế, sản xuất stent; thử nghiệm trên động vật; và bệnh viện đều dưới một mái nhà. Do đó, thiết kế nghiên cứu có thể đi từ cơ bản lên lâm sàng rất thuận tiện. Nên là mô hình cho các bệnh viện trong tương lai.

Đây là một dự án rất đáng kỳ vọng. Nếu đúng như giới thiệu là chuyển giao công nghệ từ Hoa Kỳ, trong thời gian tới, cộng đồng y khoa sẽ rất mong được xem các tài liệu kỹ thuật và chứng nhận liên quan. Một dây chuyền sản xuất thiết bị y tế can thiệp hiện đại thường được đánh giá qua các tiêu chí như:
Chuyển giao thiết kế (Technology Transfer).
Chuyển giao và thẩm định quy trình sản xuất (Process Validation).
IQ/OQ/PQ.
Hệ thống quản lý chất lượng ISO 13485 và các yêu cầu quản lý chất lượng của FDA (QSR hoặc hệ thống tương đương hiện hành).
Hồ sơ thiết kế (Design History File – DHF).
Hồ sơ sản xuất chuẩn (Device Master Record – DMR).
Quản lý rủi ro theo ISO 14971.
Đánh giá tương hợp sinh học theo ISO 10993.
Nếu các nội dung này được công bố hoặc chứng minh đầy đủ, đây sẽ là một cột mốc rất đáng tự hào của ngành thiết bị y tế Việt Nam.

Thứ Hai, 13 tháng 7, 2026

Phùng Gia Lộc - Cái đêm hôm ấy... đêm gì?

Theo Báo Văn Nghệ

Sau loạt bài "Đêm trước đổi mới", rất nhiều bạn đọc đã gọi đến Tuổi Trẻ yêu cầu đăng lại bài ký sự một thời gây sóng gió "Cái đêm hôm ấy.... đêm gì?" của nhà văn Phùng Gia Lộc.

Tác giả Phùng Gia Lộc, tháng 6-1988 - Ảnh tư liệu
Tác giả Phùng Gia Lộc, tháng 6-1988 - Ảnh tư liệu

Ngày ấy, khi xuất hiện trên báo Văn Nghệ, những dòng chữ rút ruột từ nỗi uất ức, cay đắng, ngỡ ngàng của Phùng Gia Lộc đã tạo nên một "cơn địa chấn".

Nhiều người đã phải giật mình, phải tự nhìn lại mình, nhìn lại những việc mình làm và đang hô hào người khác làm... Một hơi gió của đổi mới cũng bắt đầu từ đó, góp vào cơn gió sẽ đổi mới cả một đất nước, đổi đời cho hàng chục triệu con người.

Theo yêu cầu của độc giả, Tuổi Trẻ xin đăng lại toàn văn bài ký sự "Cái đêm hôm ấy... đêm gì?" của nhà văn Phùng Gia Lộc trên Tuổi Trẻ Online. Xin bạn đọc thông cảm cho việc không thể đăng trên báo ngày, vì các trang còn phải dành cho tin, bài thời sự.

Đọc “Đêm trước”, nhớ Phùng Gia LộcTrở lại miền quê “Cái đêm hôm ấy đêm gì…”

Cái đêm hôm ấy... đêm gì?

Cuối năm 1983, tôi được ở nhà chờ quyết định về nghỉ chế độ. Chiều chủ nhật, thằng Học con tôi rủ rỉ nói:

- Con bắt được bác Quang ăn bánh cuốn ở hàng anh Minh. Bác đi thồ sắn ở chợ Phúc Địa về. Bác cho mấy bó nhưng con không lấy. Bác dặn con về đừng nói với bố mẹ là đã gặp bác. Nói, hôm nào sang bác đánh chết.

- Hừ! Lại thế nữa...

Tôi buột miệng bảo với con thế, rồi thừ ra. Bạn bè anh em cùng một phòng với nhau mà đi qua không vào. Có điều gì nhỉ?

Sáng thứ hai tôi sang cơ quan ứng mấy cân gạo và định bụng sẽ gặp, trút sấm sét lên đầu anh ấy. Nghe tôi trách, Lê Trung Quang, trưởng phòng tổ chức Ủy ban huyện Thọ Xuân, cười hà hà làm lành thật đôn hậu, dễ yêu:

- Giá có một mình thì tôi vào. Đằng này những bốn binh, khao được, anh cũng liệt. Vả lại, bốn cái xe nặng è, sợ tối.

Là trưởng phòng tổ chức ủy ban huyện, anh cũng để gia đình vợ con đói thiếu. Ra anh còn kém cỏi hơn cả tôi, một kẻ chân chim trần trụi, một tay sắp trở thành "phó thường dân". "Nhà mình cũng bí. Nộp sản đi rồi, lúa đã cạn. Khó mà ăn thấu tết được". Quang lắc đầu bảo thế.

Anh gạn tôi:

- Ông ở đây với tôi đêm nay cho vui. Tôi buồn quá.

Tôi chỉ vào mấy cân gạo đã bó buộc sau xe, bảo anh Quang:

- Phải mang "hàng chiến lược" này về chứ.

Nếu nghe lời Lê Quang Trung nằm lại với anh một đêm, thì tôi đã không thể nào hình dung nổi ở Phú Yên xã tôi Cái đêm hôm ấy là đêm gì...

Có cái "các" quá giang của Lê Trung Quang cho mượn, tôi không phải mất ba đồng tiền đò. Qua sông Chu gió vù vù bên tai, tôi phải kéo vành mũ len, trùm thấp cho đỡ run. Tôi về đến nhà, trời đã sẩm tối, con mực xông ra í a í ẳng vờn chân lên hông. Vợ tôi bế thằng Văn ngủ khì trong lòng, ngồi bên bếp than vỏ cao su um khói. Bên cạnh, thằng cu Thức bốn tuổi đang liến láu. Còn Học - thằng con nhớn đang học bài ở nhà trên.

Thấy tôi về thằng Thức reo lên:

- A bố! Bố về là bố về! Có chi không bố?

- Có cái rét cóng đây này!

Tôi nói rồi dắt xe vào nhà, mở túi gạo, vác xuống bếp khoe:

- Ứng được năm cân gạo.

Bà cụ thân sinh ra tôi mệt đã lâu, thấy tôi về, cũng gượng chống gậy xuống bếp sưởi. Cụ bảo:

- Mẹ Học đi nấu cơm cho bố va ăn!

Tôi hỏi:

- Nhà ăn rồi hả mẹ?

Cái thằng Thức đến là hở miệng, cấm có giấu nó được tí gì. Nó nói:

- Chỉ nấu cơm cho bà với em thôi! Mẹ với anh Học, với con ăn cháo rau má rồi. Bữa nay mẹ luộc rõ nhiều rau cải.

Tôi thấy cay sè trong mắt.

- Thế thì nấu thêm vào. Hết thì tao đi bới đất, nhặt cỏ, van ông vái bà. Làm con người mà miếng cơm chín vào bụng vẫn không đủ thì sống thế nào?

Vợ tôi định cãi câu gì đó, nhưng lại thôi, vội trao thằng Văn cho bà rồi lại mở túi gạo đi vo. Bà cụ nói:

- Rau cải ế nhăn! Đói, chả mấy người mua. Hôm nay mẹ va không đong được gạo. May lấy được đấy, không thì mai gác con lên...

Ngoài cửa gió ào ào, tiếng chó sủa ổng oảng ở đầu ngõ. Có tiếng ai hỏi mua rau cải nhà tôi. Cô Hoa vợ chú Được. Hoa cũng người họ Phùng, gọi tôi bằng bác. Chồng cô ấy là đội trưởng đội sản xuất cũ, nay vừa được rút lên làm trưởng ban định mức, rồi phó chủ nhiệm. Cô vào bếp vừa nói, vừa run:

- Sao năm nay rét sớm thế này? Bác bán cho cháu mấy bó rau cải xào.

Vợ tôi bắc nồi cơm lên bếp, mấy bà cháu phải dồn chỗ cho hai người đàn bà tê cóng này ngồi cạnh bếp hơ tay, ngó chẳng khác những viên đạn bị nén trong cái băng lò xo tròn. Tuy gần bằng tuổi vợ tôi, nhưng là hàng cháu họ, nên Hoa vẫn bác bác, cháu cháu ngon ơ.

- Bác có ngan, gà gì để cho cháu vài cân. Giá mấy cũng được, cháu không quản.

- Còn có vài ba con, phải để hôm sau bà...

Tôi lừ mắt chặn lại câu nói hớ, khiến vợ tôi im bặt. Chả là vì mẹ đẻ ra tôi yếu lắm rồi. Cụ đã bảy mươi lăm tuổi, lại phù nề mặt mũi vàng ủng như quả thị rụng. Ai cũng bảo khó qua cái đầu mùa Đông này. Vì vậy gia đình tôi đã lo chuẩn bị ngầm, phòng sau khi cụ về cõi. Cái gì vợ tôi cũng bảo dành để hôm sau bà... thành quen miệng. Cau cũng phơi kỹ bỏ be để hôm sau, thậm chí bọt bẹt được đồng rau nào cũng dồn mua ván đóng sẵn áo quan để hôm sau... Ấy nhưng nói đến cái chết, cụ lại giận và làm nau: Bay trông tao chết à? Tao phải sống để nhìn con cháu được đến lúc sung sướng chứ. Khổ mãi rồi.

Tôi hỏi Hoa để lấp láp câu hớ rồi cho bà cụ khỏi giận:

- Mua đồ nhậu làm gì tối thế này?

- À... mua cho mấy thằng về đội ta thu sản, khuya các hắn đớp. Đội và quản trị thuê khoán cháu nấu.

Vì có chồng ở ban quản trị, cô ấy cũng là loại biết nhiều chuyện "bí mật nội bộ". Hoa thì thò cho vợ tôi biết đêm nay là đêm "đồng khởi" thu sản, tổng vét cả xã. Họ sẽ đổi chéo, công an và dân quân đội này về đội kia, vét bằng hết. Vì đội 12 này là nặng gánh nhất, nên họ sẽ điều về đây những tay cứng cựa. Hoa khuyên:

- Bác có thiếu sản, thì liệu mà xoay đi

- Thế thì tao đét bán rau cho mi nữa.

Vợ tôi toan từ chối, nhưng Hoa nài mãi và có tôi nói vào nên chị chàng mới chịu nghe. Hoa cầm đèn ra vườn soi cho vợ tôi hái. Cô ấy cầm rau, rồi còn đi các nhà bên cạnh hỏi mua gà. Cơm cạn, tôi vần cạnh bếp. Vì không phải ghế độn khoai độn sắn gì nên chín rất mau. Thấy chỉ nấu mình cơm tôi, lòng tôi lại buồn nổi gai. Vợ tôi bế thằng út vào lót cho nó ngủ trong buồng, rồi lấy cho tôi cái bát, đôi đũa. Cuộc chào mời đùn đẩy, nhường nhịn nhau rõ bực.

Tôi lùa hai bát cơm với nước dưa chua, rồi bỏ đấy. Bà cụ nài, rồi tôi dỗ thằng Thức cũng lắc đầu không dám ăn chỗ cơm còn lại. Hắn sợ mẹ. Nhà này, mẹ chúng nó có quyền uy tối thượng. Biết vậy, nhưng tôi cũng sắp trở thành kẻ sống nhờ...

Ngồi ở bếp, tôi hỏi vợ:

- Nhà mình còn thiếu của hợp tác xã bao nhiêu thóc nữa em?

Cô ấy không trả lời tôi mà nói rất vô lễ:

- Có biết thế này, đái tòe tòe vào, chứ tội gì lôi về. Cha đời! Bữa trước thì tuyên bố vớt được nấy ăn nấy, người ta mới hụp lặn xuống nước lụt mà khở (gở) từng bông lúa. Nay lại giở trò giảm tỷ lệ!

Tôi vỗ về:

- Thôi! Lụt thì lụt cả làng, em ạ! Em nói xem, so với tổng sản phải nộp, nhà ta thiếu bao nhiêu?

- Một tạ mười hai cân, em đã trình bày với anh Nhà đội trưởng rồi. Thực tế mò được hạt nào đã ăn hết hạt nấy. Mấy lâu nay bán được đồng rau nào mua ăn, không bán được thì nhịn. Đã nói khất rồi. Không cho khất, thì nhà đấy có dỡ được, đến mà dỡ.

- Phải mềm mỏng, em ạ! Khéo bán khéo mua thua người khéo nói! Gia đình mình, con cái mình còn ăn đời ở kiếp nơi đây.

Vợ tôi rền rĩ như sắp khóc:

- Chả nhẽ kiếm liều thuốc chuột, cho vào nồi cháo, ăn hết cả nhà cho sướng cái đời...

Ngồi sưởi ở bếp rất lâu, vỏ cao su cháy tàn, đã vạc hai ba đống than, mà chẳng ai muốn nói với ai câu nào nữa. Bà cụ ngồi lâu, mỏi và chán chuyện bỏ đi nằm. Thằng Học làm toán xong, lấy cho bà nồi than, rồi cũng rúc xuống bếp. Hắn đi bốc rơm lót ổ ngay cạnh bếp, lấy ván chắn rồi trải chiếu, ôm chăn ra nằm.

- Ngủ đây mà ấm, bố ạ!

Trong giường thằng Út Văn khóc í óe. Hắn lại đái lạnh đít rồi. Mẹ nó vào quả không sai. Nó được ôm ra bếp sưởi, nằm gọn trong lòng mẹ. Gần một tuổi mà nó còn bắt nhá cơm bón và bú thì hơn con bê non. Lại nhai tòm tọp thế đó! Tôi đùa với con để nó cười sằng sặc cho dịu cơn lo buồn.

Gần mười hai giờ khuya, cả nhà đi nằm. Tôi ngủ với hai thằng oắt trong ổ rơm dưới bếp.

Có điều gì đó bồn chồn và nơm nớp...

Bỗng tiếng kẻng gõ giục giã liên hồi. Kẻng khắp xã: từ đội 1 đến đội 15, như một sự bùng nổ dây chuyền. Tiếng loa phóng thanh mở hết cỡ đọc bản tin, kế hoạch huy động lương thực của tỉnh và chỉ thị của tỉnh ủy về công tác lương thực.

Hoàng Văn Nhân, đội trưởng đội 12, đọc trên loa danh sách những nhà thiếu thóc chưa giao nộp cho hợp tác xã. Đèn đóm soi rừng rực ở các ngã đường. Chó sủa ơi là chó sủa. Cũng cái loa phóng thanh ấy, có tiếng ông chủ tịch xã gọi cán bộ về đội 12 hội ý.

Ông trưởng công an xã Nguyễn Đình Định gào rát cổ trên loa, giọng giật giội gọi lực lượng dân quân, công an tăng cường về chi viện cho đội 12, tạo đà cho đội hoàn thành chỉ tiêu huy động. Tôi rùng mình nghĩ đội tôi là đội trọng điểm, nên cán bộ xã, hợp tác xã, vón cục cả về đây. Họ sẽ gõ cho ra chục tấn thóc còn tồn sổ.

Gần một giờ sáng, công an, dân quân đã ập đến các nhà nợ thóc. Tiếng chó sủa vang, tiếng lợn kêu èng ẹch như bị chọc tiết ở các nhà gần quanh, làm thằng Út Văn khóc thét lên, ôm riết lấy mẹ. Thằng Thức cũng im thin thít, nằm co trong lòng tôi không dám cựa. Bên nhà ông Ái, láng giềng cách vườn nhà tôi một hàng rào, công an và dân quân đang lùng sục. Tiếng ông bà Ái kêu xin và tiếng quát lác, tôi nghe rõ mồn một.

- Cứ bắt lấy cái xe đạp! Phích, xô, bắt ráo!

Ở cổng nhà tôi đã có bước chân rình rịch, con chó mực đang có chửa bị quất, kêu ử ử.

Cạch cạch cạch.

- Chị cò Lộc, mở cửa ra!

Tiếng thằng bé trong buồng khóc thét. Thằng Thức đang ôm tôi, nghe em khóc cũng òa khóc toáng lên. Thằng Học mười hai tuổi đã học lớp tám rồi, mà cũng níu lưng tôi run bắn. Nghe tiếng quát lần thứ hai, từ nhà bếp, tôi chạy lên. Một luồng đèn pin soi giữa mặt làm tôi lóa mắt, phải lấy tay che.

- Có chuyện gì đấy, các bạn trẻ ơi?

- Thu thóc, thu thóc chứ còn gì, ông đừng hỏi vờ.

Vợ tôi đã mở toang cửa, tay ôm thằng bé ngất lịm. Một anh, hai anh... bốn anh bạn trẻ ùa vào nhà. Anh đi đầu cao to, tóc cắt tăng gô, mặc áo bông thùng thình, soi đèn pin rồi đánh diêm châm cái đèn hoa kỳ ở bàn thờ. Có lẽ Tâm "hộ pháp" là người này. Phải, tôi đã thấy anh ta đứng chân hộ vệ giữa, trong một cuộc đá bóng với xã khác. Tay anh cầm cái choòng sắt cỡ ngón tay cái. Vợ tôi mời họ ngồi ghế. Bà cụ đang ốm ở giường bên cũng cố ngóc dậy, run rẩy chào.

Theo danh sách đội báo, chị còn thiếu hơn tạ thóc. Yêu cầu chị đem nộp ngay!

Bà cụ tôi đáp thay con dâu:

- Các bác các anh ơi! Có còn cái gì mà nộp. Các anh và các bác không thấy đàn con hắn đói xanh đói trong đi à? Các bác không thấy tôi cũng phát phù phát nề, vàng cây úa lá đây à?

- Chúng tôi không hỏi mụ nghe chưa?

Cả bốn người cùng soi đèn pin khắp nhà trong, nhà ngoài, dưới bếp, bên chái. Hai người tuông soi cả trong vườn rau. Vợ tôi mếu máo:

- Làm gì có lúa để ngoài ấy. Các anh xéo nát cả rau.

Tôi chạy ra trụ sở đội, định tìm cán bộ trình bày. Chủ tịch Phê, bạn dạy học với tôi ngày trước, đi bộ đội về giải nghệ, vào cấp ủy, đang đứng đấy. Thấy thế tôi mừng quýnh. Lại thấy cả Phùng Gia Miện anh họ tôi, làm bí thư đảng ủy cũng có mặt, tôi càng yên trí. Nhưng thấy tôi họ quay đi lảng tránh.

Anh Miện bảo nhỏ tôi:

- Chú về động viên gia đình thanh toán bằng đủ, nhà mình là cán bộ. Không có thóc thì nộp bằng tiền. Lãnh đạo đã nhất trí cho nộp cả bằng tiền rồi đó.

Tôi đang định nói: "Đã không có thóc thì làm cóc gì có tiền", nhưng anh họ tôi đã dịu giọng:

- Ở đội trên, hắn bắt cả anh Thiện, anh ruột tôi, mà tôi cũng phải điếc đi... "Mất mùa màng, lợi ích thứ ba của người lao động phải hy sinh cho lợi ích của nhà nước". Đồng chí bí thư tỉnh ủy đã chỉ thị thế, chú biết rồi đó.

Lúc ấy ở trụ sở, công an, dân quân đã khuân về nào xe đạp, bàn ghế, tủ, chum vại, thùng tôn, lợn gà... để ngổn ngang ra tận ngõ. Tên chủ nhà thiếu thóc đề chữ bằng phấn trắng vào các đồ vật: Ông Ất, ông Do Khả, ông Hưng, ông Hồng, ông Khính (mẹ đẻ cô Hoa, mẹ vợ chú Được phó chủ nhiệm)... Mấy con bò bị bắt cột gần đó sợ đèn, sợ đám đông cứ lồng lên, chực bút mũi. Chúng xoay vòng quanh, mgửa lên mặt kêu "hấp bồ", "hấp bồ"...

Tôi loạng choạng đi về nhà, thấy người ta đang còn soi đèn tìm rất kỹ. Tôi nói:

- Các người anh em soi tìm gì cho mất công. Nhà tôi xin khất đến mai, tìm cái bán chác, nộp tiền bằng đủ.

Anh đầu tốp nháy nháy mắt ra hiệu.

- Đêm nay là đêm nay! Mai chúng tôi mất thưởng ai chịu cho?

- Bắt cái xe đạp ni, bay!

Hai ba anh chạy lại. Tôi từ tốn ngăn họ:

- Các đàn anh ơi! Tôi không làm ruộng sản mà. Đây là xe đạp nhà nước cấp cho tôi để tôi đi công tác. Các vị bắt cái này không được đâu.

- Nếu chúng tôi cứ bắt thì sao?

Tôi loáng nghĩ được một mẹo. Rút cái "thẻ hội viên Hội văn nghệ tỉnh" ra, tôi nói:

- Tôi phản đối! Tôi là "nhà báo"! Tôi sẽ kiện lên tận ông Đồng.

Nước cờ của tôi không ngờ lại có hiệu quả. Họ im lặng. Hẳn họ đã biết tên tôi dưới những bài đăng nào chăng.

Chợt vị "hộ pháp" nhìn chằm chằm vào cỗ quan tài để dưới gầm bàn thờ, rồi đi lại, vừa gõ vừa hỏi:

- Cái gì trong này, chị Lộc?

Im lặng...

- Cái gì trong này, chị nói mau?

Vợ tôi ấp úng. Tôi muốn tắc thở.

- Có cái gì đâu...

Mấy vị hăm hở lại, đạp lật nghiêng một cái. Nắp văn thiên bung ra, lúa chảy rào rào. Cả toán reo lên như một hiệp đào vàng trúng vỉa:

- A! Lúa! A lúa! Lúa! Anh em ơi. Ghê thật! Thế mà giả nghèo giả khổ.

Mẹ tôi chống gậy vái dài:

- Van các anh! Cắn rơm cắn cỏ tôi lạy các anh! Lúa của tôi. Đó là tạ lúa hai đứa con gái hắn mua góp lại cho, để hôm sau tôi chết, bà con thương mà chạy đến để ăn lưng cơm sốt.

Thực ra là của hai bà chị trong đó mỗi người có mười cân thôi. Ba mươi chín cân tiêu chuẩn hai tháng vừa qua tôi lấy về, còn lại là hơn bốn mươi cân, vợ tôi đong để dành "hôm sau" cho bà.

Bà cụ nói như rên rẩm:

- Đã bảo xay phứa đi cho con nó ăn không nghe. Cứ bóp mồm bóp miệng, để dành làm chi. Sống chả thấy đâu nữa là!

Một tay râu tóc lồm xồm hỏi:

- Chị có gánh đi hay không thì bảo?

Một tay khác tôi hơi quen mặt, đến trước vợ tôi lạy lia lịa:

- Thôi em xin bà chị. Em đi làm ở đây thế này, nhưng lại có bọn khác đến chỗ em làm ác y hệt. Nhà em cũng thiếu mà. Chị không gánh, để cánh này bê cả hòm ra, chị phải chịu hai chục công là ít, chưa nói phạt tiền.

Họ xúm vào khiêng bàn thờ ra, để lôi hòm lúa. Bất đồ hai thằng Học và Thức từ bếp tuôn lên, ôm lấy tay chân chư vị, van rối rít.

- Cháu van các chú! Các chú đừng lấy lúa này đi. Lâu nay các cháu phải nhịn để dành bữa sau cúng cỗ bà, làm ma bà!

- Buông ra đi! Ô hay, đồ con nít!

Bà cụ loạng choạng đi lại, giơ gậy cản:

- Các ông không thương trẻ, thì các ông thương lấy thân già, để lấy phúc đức cho con cháu.

Vì họ đá vấp gậy, lại yếu như con căng cắc lột, bà cụ ngã chỏng queo như chiếc ghế đổ.

- Ối Đảng ôi là Đảng ôi! Chính phủ ôi... Trông xuống mà coi...

Tôi xốc mẹ lên giường, bịt mồm cụ lại:

- Mẹ! Mẹ không được la như thế! Đây không phải Đảng! Đảng ta không làm thế. Đảng không chủ trương thế này!

Tôi nói vậy và ngoặp hai hàm răng vào cổ tay mình để kìm giữ cái gì cứ chực tung ra. Hai vợ chồng xúc hết lúa ra thúng bì. Dặn thằng Học trông em, ngó bà, tôi cùng vợ hì hục gánh thóc ra trụ sở nộp...

Đoạn cuối này tôi dành cho anh Quang.

Lê Trung Quang ơi! Anh có thể giấu cái bi kịch của gia đình anh, nhưng tôi không còn có thể che giấu nỗi đau của nhân dân bất hạnh. Dù sự tiết lộ này có làm mất cái chức huyện ủy viên của anh, thì tôi cũng thấy cứ phải nói ra.

Chuyện thật của nhà anh đây: lúa vay ăn còn nợ bảy tạ, con Lâm, thằng Sơn phải đi mò hến từng bữa, chị ấy nấu bánh đúc đi các làng đổi lúa. Anh mà nói ra, người ta cho là anh bêu riếu. Việc thật ở nhà tôi đêm 26 tháng 11 năm 1983, người ngoài cuộc hẳn cho là mình bịa. Cho đến nay, mỗi khi nghĩ đến, tôi cứ thảng thốt hỏi mình: "Cái đêm hôm ấy... đêm gì?".

PHÙNG GIA LỘC - Cuối năm 1987

Hồ sơ số 36/2026: CÁC CỰU CHIẾN BINH LÊ CHÂN, NGUYỄN VĂN HÊN, TRẦN VĂN VỊ, LÂM VĂN Á… VÀ 50 QUÂN NHÂN NĂM ẤY BÂY GIỜ ĐANG Ở ĐÂU?

 https://www.facebook.com/groups/580628349325177/user/100011462921364




(Nếu bạn chia sẻ thông tin này, là thêm một hy vọng để người lính được trở về với gia đình).
Tháng Bảy hằng năm là dịp để hàng triệu người Việt Nam lặng lòng tưởng nhớ những người đã ngã xuống vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Nhưng tri ân không chỉ là thắp một nén hương trước nghĩa trang liệt sĩ. Tri ân còn là hành trình kiên trì tìm lại tên tuổi, ký ức và số phận của những người lính đã đi qua chiến tranh. Hồ sơ CDEC F034603281152, được phía Hoa Kỳ thu giữ tại chiến trường Bình Dương đầu tháng 2/1968, hôm nay đang mở ra một cơ hội như thế: trả lại tên tuổi cho hơn 50 cán bộ, chiến sĩ của Đại đội 20, Trung đoàn 273, Sư đoàn 9 và hy vọng nối thêm những mạch ký ức của lịch sử.
Từ một hồ sơ CDEC đến hành trình tìm lại những người lính Đại đội 20, Trung đoàn 273, Sư đoàn 9. Bài viết này, dựa trên kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoài Thương, Nguyễn Xuân Thắng và Lê Đăng Quang – các thành viên của Dự án “Sáng kiến Tìm kiếm Người Việt Nam mất tích trong chiến tranh” (TTU-VWAI) vừa hoàn thành.
1- Những tờ giấy khen còn dang dở giữa chiến trường
Hồ sơ CDEC F034603281152 (Log số 03-1875-68) được Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 4 Kỵ binh thuộc Sư đoàn Bộ binh số 1 Hoa Kỳ thu giữ ngày 02/02/1968 tại khu vực Phú Mỹ, Thủ Dầu Một, Bình Dương, trên hành lang chiến lược Quốc lộ 13 nối Bàu Bàng với Lộc Ninh. Đây là thời điểm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân đang diễn ra vô cùng quyết liệt trên toàn chiến trường miền Nam.
Điều đặc biệt là hồ sơ không phải nhật lệnh tác chiến hay sơ đồ quân sự, mà gồm các quyết định bổ nhiệm, giấy chứng nhận chiến công, giấy khen, bằng khen cùng danh sách khoảng 50 quân nhân của Đại đội 20 thuộc Trung đoàn 273, Sư đoàn 9.
Những tờ giấy ấy vốn được người lính gìn giữ rất cẩn thận. Có những giấy khen ghi nhận thành tích trong trận Bàu Bàng. Có bằng khen dành cho trận tập kích Chi khu quân sự Lộc Ninh ngày 28/10/1967. Có quyết định thăng chức cho cán bộ trung đội. Tất cả đều phản ánh một đơn vị đang trưởng thành qua từng trận đánh, từng chiến công và từng lần bổ sung lực lượng.
Việc nhiều tài liệu cá nhân cùng xuất hiện với tài liệu cấp đơn vị cho thấy rất có thể chúng đã được tập hợp tại một địa điểm trước khi xảy ra giao tranh. Rồi trong khói lửa chiến tranh, những hồ sơ ấy bị bỏ lại trên chiến trường và trở thành một phần trong kho tư liệu CDEC suốt gần sáu mươi năm qua.
Ngày hôm nay, khi những trang giấy ấy trở về với lịch sử Việt Nam, điều quý giá nhất không phải là giá trị quân sự, mà là những cái tên của những người lính đã được lưu giữ nguyên vẹn.
2- Những người chỉ huy của Đại đội 20 hôm nay còn ai?
Trong hồ sơ xuất hiện nhiều người chỉ huy của đơn vị. Đứng đầu là Lê Chân, Thủ trưởng kiêm Chính ủy Đoàn 72 (Sư đoàn 9), người trực tiếp ký những quyết định khen thưởng cao nhất dành cho Đại đội 20. Dù tên tuổi ông đã được xác định trong hồ sơ, nhưng cuộc đời sau chiến tranh của ông đến nay vẫn còn cần được tiếp tục làm rõ. Ông còn sống hay đã trở thành người thiên cổ? Gia đình hiện ở đâu? Đó vẫn là câu hỏi bỏ ngỏ.
Một nhân vật quan trọng khác là Nguyễn Văn Hên (còn gọi Nguyễn Hên), Chính ủy Trung đoàn 273. Theo tài liệu lịch sử truyền khẩu mà Dự án TTU-VWAI thu thập được, ông từng là Chính ủy Đoàn 30 – mật danh của Trung đoàn 3, Sư đoàn 9. Chính ông là người ký các quyết định bổ nhiệm cán bộ trung đội, góp phần xây dựng lực lượng cho đơn vị trong giai đoạn ác liệt nhất của chiến trường Đông Nam Bộ.
Hồ sơ cũng nhắc đến Trần Văn Vị, Trưởng ban Chính trị kiêm Phó Chính ủy Đoàn 37, người trực tiếp theo dõi phong trào thi đua và ký nhiều giấy khen dành cho cán bộ, chiến sĩ Đại đội 20. Những nét bút ký của ông vẫn còn rõ trên các văn bản, nhưng thông tin về cuộc đời sau chiến tranh vẫn đang chờ các đồng đội xác nhận.
Trong số những cái tên được nhắc đến nhiều nhất có Lâm Văn Á (trong tài liệu ghi Lâm Á). Ông quê xã Nhuận Đức, huyện Củ Chi, tỉnh Gia Định. Tháng 3/1967, khi giữ cương vị Đại đội phó Đại đội 20, ông được khen thưởng vì chỉ huy xuất sắc lực lượng thông tin trong trận Bàu Bàng. Đến cuối năm 1967, ông đã được bổ nhiệm làm Đại đội trưởng và tiếp tục được tặng bằng khen sau trận tập kích Chi khu quân sự Lộc Ninh đêm 28/10/1967. Một quá trình trưởng thành rất rõ nét của người chỉ huy trẻ đã được ghi lại qua chính những văn bản hành chính bình dị ấy.
Nhưng điều mà những người làm Dự án TTU-VWAI mong muốn hơn cả không chỉ là biết ông từng giữ chức vụ gì, mà là được biết hôm nay ông còn hay đã mất, gia đình hiện ở đâu, con cháu có còn lưu giữ những ký ức về người chiến sĩ năm xưa hay không.
Đó cũng là ý nghĩa sâu xa của công việc giải mã các hồ sơ CDEC.
3- Năm mươi người lính trong danh sách năm ấy hôm nay đang ở đâu?
Điều xúc động nhất của hồ sơ là danh sách khoảng 50 cán bộ, chiến sĩ Đại đội 20 được khen thưởng Huân chương Chiến sĩ Giải phóng hạng Hai và hạng Ba. Mỗi cái tên là một con người. Mỗi con người là một số phận.
1.Trần Thanh Song – Đại đội trưởng Đại đội 20.
2.Trần Văn Quới – Chính trị viên Đại đội.
3.Lâm Văn Á – Đại đội phó, sau là Đại đội trưởng.
4.Phan Huỳnh – Trung đội trưởng.
5.Khổng Khoe – Trung đội trưởng.
6.Nguyễn Văn Tư – Trung đội phó.
7.Nguyễn Minh Thế – Trung đội phó.
8.Nguyễn Văn Tính – Trung đội phó.
9.Phan Văn Ngô – Trung đội phó.
10.Lê Văn Nhơn – Trung đội phó.
11.Nguyễn Văn Biên – Trung đội phó.
12.Hồ Văn Tống – Tiểu đội trưởng.
13.Nguyễn Văn Ghép – Tiểu đội trưởng.
14.Trần Hữu Chiến – Tiểu đội trưởng.
15.Huỳnh Văn Lô (hoặc Lộ) – Tiểu đội trưởng.
16.Nguyễn Văn Bá – Tiểu đội trưởng.
17.Lê Văn Chích – Tiểu đội trưởng.
18.Châu Tấn Long – Tiểu đội trưởng.
19.Nguyễn Văn Điều – Tiểu đội trưởng.
20.Nguyễn Văn Lập – Tiểu đội trưởng.
21.Mã Đăng Thuân (hoặc Thuận) – Tiểu đội trưởng.
22.Phan Văn Tế – Tiểu đội trưởng.
23.Trần Văn Hoàng – Tiểu đội trưởng.
24.Hoàng Tuấn Kiệt – Tiểu đội trưởng.
25.Hứa Văn Hướng – Tiểu đội trưởng.
26.Phùng Khắc Châu – Tiểu đội trưởng.
27.Nguyễn Văn Sung – Tiểu đội phó.
28.Nguyễn Văn Năm – Tiểu đội phó.
29.Phạm Quang Phưới – Tiểu đội phó.
30.Lê Thanh Điện – Tiểu đội phó.
31.Đặng Văn Hiệp – Tiểu đội phó.
32.Nguyễn Văn Sẳn (hoặc Sắn) – Tiểu đội phó.
33.Phạm Chiến Đấu – Tiểu đội phó.
34.Dương Văn Thành – Tiểu đội phó.
35.Võ Văn Quang – Tiểu đội phó.
36.Trần Văn Quang – Tiểu đội phó.
37.Huỳnh Văn Hải – Tiểu đội phó.
38.Phạm Văn Tất – Tiểu đội phó.
39.Lê Văn Tý – Tiểu đội phó.
40.Đặng Thái Khanh – Tiểu đội phó.
41.Trương Văn Hùng – Tiểu đội phó.
42.Bùi Văn Em – Tiểu đội phó.
43.Nguyễn Văn Dương – Tiểu đội phó.
44.Phạm Thanh Biên – Tiểu đội phó.
45.Nguyễn Văn Việt – Tiểu đội phó.
46.Phạm Thanh Hồng – Tiểu đội phó.
47.Nguyễn Tấn Lực – Chưa xác định chức vụ.
48.Lê Ngọc Ẩn – Chưa xác định chức vụ.
49.Trần Văn Hạnh – Chưa xác định chức vụ.
50.Nguyễn Văn Đấu – Chưa xác định chức vụ.
Sáu mươi năm đã trôi qua. Trong năm mươi người lính ấy, có bao nhiêu người đã hoàn thành nhiệm vụ rồi trở về quê hương? Bao nhiêu người đã anh dũng hy sinh trên những cánh rừng Bình Dương, Tây Ninh, Bình Long? Bao nhiêu người vẫn còn sống mà chưa từng biết tên mình vẫn còn được lưu giữ nguyên vẹn trong một hồ sơ CDEC ở bên kia bán cầu suốt gần sáu thập kỷ?
Đó là những câu hỏi mà lịch sử vẫn đang chờ lời giải.
Hồ sơ này cũng cho thấy giá trị đặc biệt của việc kết hợp tài liệu CDEC với báo cáo tác chiến của phía Hoa Kỳ, lịch sử đơn vị và ký ức của các cựu chiến binh. Khi các lớp dữ liệu được đối chiếu với nhau, hành trình của từng người lính sẽ dần hiện rõ hơn, góp phần xác định danh tính, đơn vị, địa bàn hoạt động và trong nhiều trường hợp có thể mở ra hướng tìm kiếm thông tin về những quân nhân còn mất tích.
Trong tháng Bảy – tháng của lòng biết ơn – mỗi cái tên được đọc lại không chỉ là một dòng chữ trong hồ sơ lưu trữ, mà còn là một lời nhắc nhở về trách nhiệm của những người đang sống.
Dự án “Sáng kiến tìm kiếm người Việt Nam mất tích trong chiến tranh” (TTU-VWAI) mong muốn thông qua bài viết này tiếp tục kết nối với các cựu chiến binh từng công tác tại Trung đoàn 273, Sư đoàn 9; các thân nhân của các đồng chí Lê Chân, Nguyễn Văn Hên, Trần Văn Vị, Lâm Văn Á và 50 quân nhân trong danh sách trên.
Bởi biết đâu, chỉ một cuộc điện thoại, một tấm ảnh cũ, một cuốn sổ tay hay một ký ức được kể lại hôm nay sẽ giúp trả lời câu hỏi mà thời gian vẫn còn để ngỏ: Những người lính ấy bây giờ đang ở đâu?
Dầu Tiếng, 12/7/2026
Đặng Vương Hưng
(Thành viên của Dự án TTU-VWAI)
___
- Cảm ơn các cơ quan Báo chí đã giới thiệu Dự án TTU-VWAI: https://www.facebook.com/share/p/1CDkGhvv6a/
- Thông tin hoạt động của CCB Nhà văn Đặng Vương Hưng: https://www.facebook.com/groups/510475329713416/permalink/941397243287887
Ẩn bớt