Thứ Tư, 31 tháng 12, 2025

Thủ tướng Chính phủ NGUYỄN TẤN DŨNG (2006 – 20: Những thành tựu nổi bật VIỆT NAM (2006 – 2015)


VIỆT NAM (2006 – 2015)

**Thủ tướng Chính phủ

NGUYỄN TẤN DŨNG
(2006 – 2016)**


Những thành tựu nổi bật

  • Mười năm, tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng gấp 4,4 lần, từ 1.135,3 nghìn tỷ đồng lên 5.191,3 nghìn tỷ đồng; tốc độ tăng bình quân 6,29%/năm.
    GDP bình quân đầu người tăng gấp 2,9 lần, từ 908 USD lên 2.596 USD. Ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm các nước đang phát triển có thu nhập trung bình và hoàn thành sớm nhiều Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ.

  • Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực: tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ trong GDP từ 73,5% lên 76,5%. Lao động công nghiệp, xây dựng và dịch vụ trong tổng lao động xã hội từ 44,9% lên 56,4%.

  • Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng gấp 4,7 lần, từ 69,2 tỷ USD lên 327,8 tỷ USD. Kim ngạch xuất khẩu tăng gấp 5 lần, từ 32,4 tỷ USD lên 162 tỷ USD, tăng bình quân 17,45%/năm. Dự trữ ngoại hối đến cuối tháng 6 năm 2016 là 35 tỷ USD.

  • Thu ngân sách Nhà nước tăng gấp 4,5 lần; bảo đảm các khoản chi theo kế hoạch. Nợ công đến hết năm 2015 bằng 61% GDP (quy định không quá 65% GDP); tất cả các khoản đầu tư đều tăng.

  • Tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng gấp 3,9 lần, từ 451,7 nghìn tỷ đồng lên 1.756,2 nghìn tỷ đồng. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tăng gấp 4,4 lần, từ 3,3 tỷ USD lên 14,5 tỷ USD.

  • Tổng số doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh tăng gấp 4,2 lần, từ 106.616 lên 442.485 doanh nghiệp.

  • Sản lượng lương thực tăng gấp 1,3 lần, từ 39,6 triệu tấn lên 50,4 triệu tấn, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia và mỗi năm xuất khẩu trên 6 triệu tấn gạo.
    Đến tháng 9/2016 có 2.061 xã27 đơn vị cấp huyện được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới.
    Tỷ lệ che phủ rừng từ 37% lên 40,8%.
    Được công nhận 1 công viên địa chất toàn cầu, 6 khu dự trữ sinh quyển5 khu Ramsar thế giới.

  • Thực hiện hiệu quả các đột phá chiến lược: hoàn thiện thể chế; phát triển nguồn nhân lực gắn với ứng dụng khoa học, công nghệ; xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng thúc đẩy phát triển nhanh – bền vững.
    Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành 186 luật, 34 pháp lệnh; Chính phủ ban hành 657 nghị định; Thủ tướng Chính phủ ban hành 323 quyết định tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế thị trường, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền, tạo hành lang pháp lý cho hội nhập hiệu quả và phát triển toàn diện kinh tế – xã hội, bảo vệ môi trường.

  • Quy mô và chất lượng giáo dục – đào tạo ngày càng tăng. Năm 2010 hoàn thành phổ cập trung học cơ sở.
    Sinh viên đại học, cao đẳng tăng gấp 1,3 lần.
    Tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 25% lên 51,6%.
    Nhiều công nghệ, kỹ thuật cao được ứng dụng, nhất là trong nông nghiệp, y tế.

  • Năng suất lao động tăng gấp 1,2 lần; giá trị sản phẩm trên 1 ha đất trồng trọt tăng gấp 3,5 lần; trên mặt nước nuôi trồng thủy sản tăng gấp 3,8 lần.
    Sản xuất được 10/12 loại vắc-xin cho Chương trình tiêm chủng mở rộng.

  • Đạt kết quả nổi bật trong ghép tạng; ứng dụng tế bào gốc, nội soi, sử dụng rô-bốt trong phẫu thuật; ứng dụng công nghệ sinh học phân tử; chuyển giao nhiều kỹ thuật cao trong khám chữa bệnh xương khớp, tim mạch…

  • Nhiều công trình hạ tầng quan trọng được đầu tư đồng bộ: giao thông, điện, thủy lợi, thông tin truyền thông, khu công nghiệp, thương mại, du lịch, nhà ở, y tế, giáo dục.
    Đầu tư mới, nâng cấp, mở rộng 1.948 km đường quốc lộ, 2.232 km đường Hồ Chí Minh, 704 km đường cao tốc, khoảng 100.000 km đường bộ.
    Giao thông nông thôn, nhiều cảng biển, sân bay, đội tàu bay, đội tàu biển, từng bước hình thành các vận tải hiện đại.

  • Sản lượng điện tăng gấp 3 lần, đáp ứng yêu cầu phát triển và dự phòng; đưa điện lưới quốc gia ra 9/12 huyện đảo.
    Tỷ lệ hộ dân được sử dụng điện từ 90,4% lên 98,5%.

  • Bảo đảm tưới tiêu cho 3,5 triệu ha đất canh tác; tạo nguồn nước sinh hoạt cho hơn 1 triệu ha.
    Phóng thành công, đưa vào sử dụng vệ tinh Vinasat-2VNREDSat-1; nâng tốc độ và chất lượng kết nối internet, di động băng rộng; tổng số thuê bao di động đạt 8,7 triệu lên 124 triệu.
    Tỷ lệ người sử dụng Internet từ 12,9% lên 54%.

  • Số khu công nghiệp được thành lập từ 131 lên 309.
    Khách quốc tế đến Việt Nam tăng gấp 2,3 lần.
    Diện tích nhà ở bình quân đầu người từ 14,1 m² lên 21,8 m².
    Tỷ lệ hộ sử dụng nước hợp vệ sinh từ 84,9% lên 93,2%.

  • Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân trên 2%/năm, đến cuối năm 2015 còn dưới 4,5%.
    Tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị giảm từ 5,3% xuống 3,56%.

  • Số lượng bệnh viện tăng gấp 1,2 lần.
    Cải tạo, mở rộng, nâng cấp 598 bệnh viện/trung tâm y tế cấp huyện168 cơ sở y tế tuyến tỉnh và Trung ương.
    Số bác sĩ trên 1 vạn dân từ 6,2 lên 8,0.
    Số giường bệnh trên 1 vạn dân từ 17,7 lên 26,5.
    Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế từ 28,1% lên 74,9%.

  • Được UNESCO công nhận, ghi danh 45 di sản thế giới, 8 di sản văn hóa phi vật thể, 4 di sản tư liệu.
    517 di tích được xếp hạng cấp quốc gia, trong đó 73 di tích quốc gia đặc biệt.

  • Đối ngoại tiếp tục tăng cường hiệu quả và an ninh.
    Vị thế, uy tín quốc tế ngày càng cao.
    Quan hệ ngoại giao, thương mại, đầu tư với hầu hết các quốc gia và vùng lãnh thổ.
    Thiết lập đối tác chiến lược 11 nước, trong đó có 2 nước đối tác chiến lược toàn diện; đối tác toàn diện 10 nước.

  • Lần đầu tiên được bầu làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc.
    Tổ chức thành công Năm APEC Việt Nam 2006Năm Chủ tịch ASEAN 2010.
    Tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc.
    Gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
    8 hiệp định thương mại tự do (FTA) và kết thúc đàm phán 2 FTA thế hệ mới.
    Là đối tác thương mại tự do với 55 nền kinh tế.
    62 nước công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường.


Nguồn số liệu:

Nguyễn Tấn Dũng, Tuyển tập, tập VI (2014 – 2016),
NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2024, tr. 1034 – 1037.



Thứ Sáu, 26 tháng 12, 2025

CHUYỆN TÌNH BUỒN

 

Tác giả :Lê Hồng Minh (Phạm Tín An Ninh)
Trước tiên xin được nói ngay: người thiếu nữ trong tấm hình đăng kèm bài này, đó chính là chị Nguyễn Thị Túy thời trẻ, nguyên mẫu của nhân vật “em” trong ca khúc “Chuyện tình buồn” (nhạc sĩ Phạm Duy phổ thơ Phạm Văn Bình). Hình này do chị Túy gởi cho mình!
Mọi người đã quá biết “Chuyện tình buồn” là một trong những bản nhạc tình rất hay và cực kỳ lãng mạn của nền âm nhạc miền Nam Việt Nam trong những năm tháng chiến tranh. Câu chuyện trong bài thơ hay bài hát đều kể về một thanh niên có gia đình theo đạo Phật, đem lòng yêu một cô gái rất đẹp theo đạo Công giáo. Hồi đó, những câu chuyện như thế này là không hề thiếu, và chắc chắn là luôn gặp phải trắc trở vì bị cả hai gia đình, thậm chí cả dòng họ ngăn cấm tới cùng!
Tôi được nghe ca khúc này lần đầu quãng những năm 1984–1985, khi vừa mới lớn. Từ đó đến cách đây 1 năm (năm 2023), vì nhiều lý do, có lúc tôi quên khuấy khúc ca mà mình đã từng thích ấy, hoặc cũng “5 thì 10 họa” mới có dịp nghe lai bản nhạc này. Nhưng thật kỳ lạ, chỉ trong vòng 1 năm trở lại đây thôi, đã có quá nhiều điều, nếu nói là tình cờ ngẫu nhiên cũng được, mà nói là nhân duyên cũng đúng, đã đến với tôi, xoay quanh “Chuyện tình buồn”.
Ngày 1/4/2023, cách đây chẵn chòi 1 năm, tôi về vùng Cù Bị (Đồng Nai) nơi có nhiều cánh rừng cao su bạt ngàn chơi, dừng xe máy chụp cái hình đăng Facebook. Lát sau thấy cậu bạn thời niên thiếu bình luận vui “Anh một đời rong ruổi”. Chuyện tưởng tới đó rồi thôi, ai dè lại là khởi nguồn của nhiều điều kỳ lạ.
Tới ngày 4/4/2023, tôi đọc được một bài viết trên Facebook có thêm nhiều thông tin về những người có liên quan tới nhạc phẩm này. Ngứa nghề, nên tôi có viết “Chuyện tình buồn 5 năm rồi không gặp”, ban đầu đăng báo… Facebook, sau được tờ saigonnhonews bên Hoa Kỳ đăng lại.
Ngày 5/4/2023, tài khoản “Tuy Nguyen” liên lạc, lúc đó mình mới biết đó là chị Nguyễn Thị Túy – nguyên mẫu trong “Chuyện tình buồn” quá nổi tiếng, khi chị nhắn “Chị đọc bài viết của em, chị có cảm tưởng như em đang ở trong nhà chị hoặc nhà anh Bình. Em thân với anh Bình hay sao?” Chị Túy tưởng mình là người cùng thời, hoặc bà con, thậm chí có thể là người quen thân gia đình anh Bình, song thật sự không phải vậy. Tôi chỉ là kẻ hậu sinh, mọi thông tin để viết nên bài ấy, lớp tôi lục tìm tư liệu, lớp tôi hỏi thêm những người cùng thời với anh Bình, chị Túy, mà biên ra thôi.
Và kể từ đó, tôi và chị Túy, từ 2 người cách xa về tuổi tác, chẳng hề quen biết và cũng ở xa nhau đến nửa vòng trái đất, đã trở nên thân quen, thường hay hỏi thăm nhau.
Tới hôm nay, 1/4/2024, đúng 1 năm sau ngày “Chuyện tình buồn” được gợi nhớ lại, tình cờ chị Túy lại gọi điện từ Hoa Kỳ về nói chuyện với tôi!
Chị Túy kể, anh Phạm Văn Bình và chị có nhà ở chung trong một con hẻm trên đường Phan Bội Châu, thị trấn Đông Hà. Chị Túy có người anh trai là bạn cùng trang lứa với Phạm Văn Bình. Nhiều lần gặp gỡ, nói chuyện, lại thấy người thiếu nữ này quá đẹp, học hành đàng hoàng (chị Túy không học ở Đông Hà mà học ở Huế), lại dễ nhìn, nên Phạm Văn Bình ưng quá ưng mà đem lòng yêu đương. Khi họ yêu nhau, có người ở Đông Hà ngày ấy nói rằng đôi trẻ quấn quýt không rời.
Đến giờ cũng không có nhiều người biết câu chuyện tình của thi sĩ Phạm Văn Bình và người thiếu nữ trong ca khúc “Chuyện tình buồn” này chớm nở từ lúc nào, nhưng lúc họ chia tay, có lẽ vào quãng giữa thập niên 60 của thế kỷ XX! Cũng có người phỏng đoán rằng năm 1963 anh Phạm Văn Bình 23 tuổi và chị Tuý mới 16 tuổi nên cũng có thể họ đã yêu nhau trong khoảng thời gian này.
Nhưng tôn giáo đã khiến họ phải xa nhau. Không lấy được anh Bình, lúc đó chị Túy đứng trước sự “tấn công dữ dội” của nhiều chàng trai, trong đó có 1 anh liên hồi hối thúc quá dữ dù khi ấy chị còn đi học và chỉ mới cỡ 18 tuổi, như chị nói “hồi đó chị nhác học và chỉ ưa đi chơi”. Lấy chồng xong đẻ con tới tới, nên tấm hình mà mọi người vừa xem, lúc đó đã “tay bế tay bồng” rồi. Phạm Văn Bình sau này gặp lại người yêu cũ đã viết “Anh một đời rong ruổi; em tay bế tay bồng” là vậy.
Trong câu chuyện, chị Túy cho rằng “Chuyện tình buồn” không còn là thân phận đau thương của riêng chị, mà cũng là câu chuyện của rất nhiều người con gái sống trong thời chiến tranh ly loạn.
Chị Túy kể rằng ngày trước nhà chị ở Huế, ngay cổng trước của trường Thiên Hựu (nay là đường Nguyễn Huệ chạy ngang trước Trường Đại học Tổng hợp Huế). Vì chiến tranh mà chị và gia đình bên chồng đã từng ở rất nhiều nơi, từ Huế vô Dĩ An, ra Nha Trang, lại vô Bình Tuy. Chị vẫn còn nhắc về vùng Quảng Biên, Trà Cổ, Trảng Bom, Cù Bị, Ngãi Giao… mà ngày ấy chị có nhiều người quen ở đó, cũng như từng qua lại nhiều lần. Sau 1975, chị chuyển vô vùng Bàu Cá (Long Khánh) có được hơn mẫu đất của mẹ chồng cho nên trồng mít, rồi hái mít, và đi bán mít trần ai lai khổ. Sau đó chị lên Sài Gòn ở, và năm 2006 qua Hoa Kỳ định cư với mấy người con. Và trùng hợp thay, thi sĩ Phạm Văn Bình cũng định cư ở đây, nhưng ông đã mất hồi năm 2018 rồi.
Giai nhân Nguyễn Thị Túy ngày nào còn nhắc về “một thời của những chàng trai đang lứa tuổi tràn đầy nhựa sống yêu đương, phải xếp bút nghiên, từ giã người yêu, lên đường chinh chiến, rồi có khi phải trở về trong chiếc poncho im lặng”.
Nhớ lại, hầu như những người yêu nhau trong thời buổi chinh chiến ấy đều dường như tìm thấy hình ảnh của chính mình trong bài thơ. Lứa thanh niên ở nông thôn hay đô thị, ngồi trên giảng đường hay mưu sinh ngoài đường phố, trong đó nhiều nhất có lẽ là những chàng trai lính chiến, đều có thể “hát nghêu ngao” ít nhất vài câu của bản nhạc “Chuyện tình buồn” này, và không thiếu người xem như chính câu chuyện tình éo le đó là của chính mình vậy!
“Chuyện tình buồn” từ khi xuất hiện và đến tận bây giờ, hơn 50 năm đã qua, luôn được xem là một nhạc khúc không chỉ buồn, mà còn quá buồn cho một chuyện tình dang dở. Câu chuyện tình yêu đượm buồn của thời tuổi trẻ nhưng lại mang nhớ thương ray rứt mãi hoài, và có gì đau thương hơn khi người mà ta yêu thương nhất năm xưa, nay đã là góa phụ bồng con ngồi bên song cửa mà buồn…
Chiến tranh không chừa ra điều gì, nó mang lại bao nỗi đau thương, mất mát và nghịch cảnh đến rất, rất nhiều gia đình. Rất nhiều những goá phụ trạc tuổi như chị Túy còn đang xuân mà một nách mấy người con, là chuyện thường tình.
Bất chợt, tôi nhớ đến bà ngoại của các con tôi cũng vậy, có lẽ cùng lứa tuổi với chị Túy, cũng cùng cảnh ngộ một nách 2 con thơ lại còn mang bầu đứa thứ 3 lúc còn son trẻ khi ông ngoại các cháu tử trận tại chiến dịch Lam Sơn 719 năm 1971. Khi đó “bà cụ thân sinh” của 2 con tôi mới chỉ là bào thai nơi người thiếu phụ quê Cồn Hến ở Huế. Bà ngoại mấy cháu lúc đó chưa qua tuổi 30 mà chịu ở vậy nuôi 3 đứa con đến giờ. Ôi trời ơi chiến tranh: lắm khổ đau, nhiều mất mát và dư thừa nghịch cảnh!
Chiều thu năm nào đó chiếu xuống nơi xóm đạo an lành, theo đó là ánh thu buồn hắt hiu khi chuông nơi giáo đường năm ấy ngân nga. Thời gian vài ba năm cứ ngỡ là lâu, ai dè nay gặp lại thì tưởng chừng như mới vừa hôm qua.
Sau tất cả, chuyện tình giữa chàng trai và giai nhân ấy không thành, chàng trai cứ ôm nỗi đau cho riêng mình mà không một lời oán hận chi hết. Mà trên đời ni không hề thiếu những chàng trai gặp cảnh ấy, và cũng chấp nhận vậy.
Ôi câu chuyện cả bên trong lẫn bên ngoài của bài ca ấy sao buồn quá, nó cứ đeo đuổi và vẫn ở mãi trong ký ức chúng ta, từ lần đầu tiên nghe bản ấy, tới tận bây giờ, mà chắc cũng sẽ mãi về sau!
Bữa nay lại miên man với “Chuyện tình buồn”, trong đầu cứ dồn dập với bao kỷ niệm chôn kín, dường như đã lãng quên…!
Lê hồng Minh
Bài thơ Chuyện Tình Buồn
Năm năm rồi không gặp
Từ khi em lấy chồng
Anh dặm trường mê mải
Đời chia hai nhánh sông.
Những thư tình ngây dại
Những vai mềm, môi ngoan
Những hẹn hò cuống quýt
Trên lối xưa thiên đàng
Thôi cũng đành chôn kín
Dưới đáy huyệt thời gian.
Ngày nhà em pháo nổ
Anh cuộn mình trong chăn
Như con sâu làm tổ
Trong trái vải cô đơn
Ngày nhà em pháo nổ
Tâm hồn anh nhuốm máu
Ôi nhát chém hư vô
Ôi nhát chém hư vô.
Năm năm rồi đi biệt
Anh chẳng về lối xưa
Sân giáo đường cỏ mọc
Gác chuông nằm chơ vơ
Chúa buồn trên thánh giá
Mắt nhạt nhoà mưa qua
Trên cánh buồm ký ức
Sóng thời gian lô xô.
Ngồi bâng khuâng nhớ biển
Bên bãi đời quạnh hiu
Anh mang hồn thuỷ thủ
Cùng năm tháng phiêu du.
Anh một đời rong ruổi
Em tay bế tay bồng
Chiều hắt hiu xóm đạo
Hồi chuông giáo đường vang.
Năm năm rồi không gặp
Từ khi em lấy chồng
Bao kỷ niệm chôn kín
Dường như đã lãng quên.
Năm năm rồi trở lại
Một màu tang ngút trời
Thương người em năm cũ
Đêm goá phụ bên song.
Phạm Văn Bình
Sưu tầm.