Chủ Nhật, 28 tháng 6, 2026

Bác Duy - Hàng ngàn trang chìm nổi

 Phạm Duy là người kể chuyện bằng chữ tài tình. Chữ nhiều tầng, nhiều chiều kích, nhiều hình ảnh, đọc chữ mà nghe âm thanh thánh thót, có đôi chỗ hay hơn nghe nhạc. Ông kể đời người nhẹ như không, với một kiểu văn tự tại và kiêu hãnh khi nói về những kiếp nạn, lầm lỗi, gian nan…

Từ khi ông quay về, chúng tôi luôn gọi ông là “bác Duy”. Ông có vẻ ưng cách gọi đó lắm. Mái tóc bạc trắng óng ánh, bồng bềnh đẹp rất đặc trưng “lão đại” rung rung mỗi khi ông cười vui. Ông cởi mở nhưng tinh tế và thấu đáo trong từng câu chữ cả những lúc đời thường, trò chuyện bên lề chứ không chỉ những cuộc phỏng vấn, ghi hình.

Ông hóm hỉnh, hài hước nhưng rất nhiều lúc trầm ngâm tự sự, buông thả suy tư như không hề có người nào trước mặt. Ông nhanh chóng đắm chìm vào một thế giới đẹp đẽ khác. Tôi cảm nhận được những khoảnh khắc hiếm hoi đó vì gương mặt ông bừng sáng một vẻ đẹp rực rỡ khi ông mở hồi ức. Phải, hồi ức, không còn là nỗi nhớ nữa, không hoài vọng nữa vì ông đã quay về rồi, đã được lững thững mặc áo nâu đi dọc “con đường cái quan” hoa gấm của quê nhà…

“Người về”

Chúng tôi, những người làm phim, làm nhạc, làm sách, thường lui tới căn nhà giản dị ở con hẻm cạn đường Lê Đại Hành (TP.HCM) có tiếng cười hào sảng của một chủ nhân đặc biệt. Chung quanh ông đầy âm nhạc và quá nhiều câu chuyện quý giá không chỉ của riêng ông.

Ông ưa ngồi trên bộ sofa da đen bóng, thư thả kể chuyện. Tôi cũng hay ngồi hơi khép nép phía đối diện, thỉnh thoảng nhìn lên một khung kính được treo trang trọng trên tường, nền nhung đỏ và hàng chữ vàng óng ánh: “PHẠM DUY - trở về cố hương”.

Ông nói: “Về cố hương, về đất Việt thật rồi nhưng thỉnh thoảng vẫn “hoài hương” vì còn nhiều vùng đất mình đã sống thời trai trẻ, giờ khó về thăm lại”.

Phạm Duy lững thững đi dọc đồng lúa ven đường ra Lạng Sơn, năm 2006.


Ngoài những trang viết và cuốn hồi ký đồ sộ trên những file máy tính dày dặc, tôi còn muốn thu lại tiếng nói của ông. Vì đó là một chất giọng đẹp, khúc chiết, đầy ngữ điệu nhấn nhá, đầy âm sắc trầm bổng, đầy buồn vui. Ông còn ngẫu hứng hát Mẹ có hay chăng con về, chiều nay thời gian đứng im để nghe, nghe gió trong tim tràn trề, nụ cười nhăn nheo bỗng dưng lệ nhòa…

Tôi từng rưng rưng nghe Thái Thanh, Lệ Thu, Trần Thái Hòa… hát, nhưng trong bối cảnh một gian phòng khách vắng vẻ rất âm vang, tiết mục rất “acapella” do chính tác giả kiêm ca sĩ ngoại hạng vang lên, cho một khán giả duy nhất, làm tôi cũng lệ nhòa. Tôi tiếc những khoảnh khắc xuất thần nầy không có thiết bị nào kịp ghi lại. Tôi bày tỏ ý định sẽ “sắm” cho ông một chiếc micro nhỏ gọn nhất, kết nối với máy tính của ông. Ông cứ để chế độ ON, khi nào tiện và có cảm hứng, ông cứ đọc thoải mái cuốn hồi ký của mình, lưu lại giúp chúng tôi giọng nói và tiếng hát của ông.

“Vậy mình đỡ phải vào studio nhiều lần, ảnh hưởng tới sức khỏe và cảm xúc. Thu âm ở nhà bác sẽ thoải mái hơn nhiều”, tôi nói. Ông vui vẻ giơ hai tay đồng ý (đó là chuyện cách đây gần 20 năm, khi mọi thao tác thu âm chuyên nghiệp đều cần phòng thu và phim trường chứ không nhanh gọn lẹ, người người nhà nhà làm YouTube, livestream như bây giờ). 

Tôi qua tận Singapore, lục lọi trong chợ điện tử Simlim Square tìm mua cho ông một chiếc micro xinh xắn, một phiên bản nhỏ của micro phòng thu. Nhưng mọi việc không dễ dàng. Vì nhiều lý do này khác, dù ông và chúng tôi đã tận lực, những sáng kiến nho nhỏ đó để giữ lại di cảo audio book của ông đã không thành hiện thực. 

Nhưng “trong đống tro tàn”, tôi vẫn giữ lại được những lời gan ruột của ông khi nói về dòng ca khúc hoài hương, yêu quê hương. Với riêng tôi, đó là dòng suối âm thanh tiếng Việt đẹp đẽ, lay động nhất mà tôi may mắn được soi mình, tận hưởng. Và may mắn hơn khi trưởng thành tôi còn là người được góp phần nhỏ để làm phim, làm nhạc, làm sách cho ông. 

Tôi hỏi ông về tuyệt phẩm Tình ca, chiếc nôi tâm hồn của riêng tôi, và chắc của nhiều trang lứa cùng thế hệ. Tôi kể cho ông nghe những năm ở tuổi lên mười, đêm đêm, học bài xong, tôi luẩn quẩn bên chiếc radio Philips, chờ nghe Thái Thanh hát đoạn cuối bài Tình ca trong chương trình Dạ Lan. Giọng bà vô cùng “đãi bôi”: … một yêu, câu hát (a) Truyện Kiều lẳng lơ, như tiếng sáo diều chiều làng ta, và yêu (a) cô gái bên nhà, miệng xinh, ăn nói mặn mà (à) mà có (ư)…duyên

Thật. 

Nếu ai đã nghe Thái Thanh hát bài đó trong bối cảnh mỗi buổi tối Sài Gòn thập niên 1960, nghe tiếng ngân, tiếng đẩy đưa của bà, mới thấy “đã” với tiếng Việt. Lúc ấy tôi chỉ biết có đoạn đó, lớn hơn một chút, được nghe thêm phần đầu: Tôi yêu tiếng nước tôi, từ khi mới ra đời, người ơi..., và mê nhất là câu mẹ hiền ru những câu… (âu) xa vời... Bà nhả chữ long lanh, êm ái, điệu đàng. Bà là người vỡ lòng tiếng Việt cho tôi, làm lay động tâm hồn non trẻ của tôi, để từ đó tôi biết yêu tiếng Việt, yêu say mê. 

Nghe tôi kể thời thơ ấu của mình thấm đẫm nhạc của ông, ông có vẻ cảm động lắm, nói rằng năm đó (1953), ông vừa bế con trai sơ sinh (Duy Minh) vừa hát ru con bằng mấy câu “nóng hổi mới ra lò”: … Mẹ hiền ru những câu xa vời, à à ơi, tiếng ru muôn đời

Phạm Duy trên đại lộ Nguyễn Huệ (TP.HCM) sau Tết Canh Thìn năm 2000.


Ông nói về Thái Thanh: “Theo tôi, đó là người phụ nữ có tiếng hát xứng với hai chữ “diễm tuyệt”. Cô ấy hát theo cách của cô ấy nhưng nó giống với sự tưởng tượng của tôi. Đến câu khóc cười theo mệnh nước nổi trôi…, tôi nhớ đến những ngày gian khó, chúng tôi cùng nhau sống dưới một mái nhà tản cư, chứng kiến cuộc kháng chiến chống Pháp với biết bao câu chuyện, biết bao hình ảnh nhục nhằn, đau thương của đồng bào”.  

Tình ca không phải là một bài hát khó hiểu cao siêu, chỉ bày tỏ lòng yêu tiếng mẹ, tiếng Việt, nước Việt. Nhưng không phải ca sĩ nào cũng hát được như Thái Thanh, hát bằng những thăng trầm và rung cảm của chính cuộc đời mình.

Có lần anh Bảo Chấn nói với tôi khi chúng tôi lan man về “chính tả trong âm nhạc” (dictation of music): “Tui học nghề hòa âm ca khúc một phần nhờ nghe nhạc của bác Duy. Thang âm, khúc thức thiệt tuyệt diệu, hay nhức nhối. Ổng còn giỏi dụng văn, điêu luyện và lả lướt tới từng dấu hỏi, dấu ngã… Bài hát của ông khi chưa dùng tới nhạc cụ chấm phá đã quá hay. Thái Thanh và một số ca sĩ gốc Bắc hát rất rõ âm tiết; các dấu sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng. Tròn vành rõ chữ là vậy. Nhưng cũng nhờ bác Duy đã “tính” rất chu đáo từ khi đặt bút viết. Chữ nào đặt vô note nào, vô khuôn nhạc nào, vô ngân rung, luyến láy ra sao… Chỉ có bậc thầy về chữ nghĩa và âm thanh mới có thể chỉn chu và bay bổng như vậy được”. 

Tôi nghĩ, chỉ cần có bài hát đó thôi, bác Duy cũng vĩ đại lắm rồi. 

Hàng ngàn trang chìm nổi

Ðể lại cho em này nước non mình
Ðể lại cho em một nước đẹp xinh
Một miền oai linh hiển hách 
Chỉ còn dư vang thần thánh
Ðể lại cho em hèn kém của anh 
Ðể lại cho em cuộc sống mệt nhoài
Ðể lại cho em hồn nước tả tơi 
Ðường đời quanh co kẹt lối
Lòng người không căm giận dỗi
Ðể lại cho em tội lỗi qua rồi

(trích Tâm Ca 5 - nhạc Phạm Duy - thơ Nguyễn Đắc Xuân)

Không chỉ có vậy. 

Kho báu để lại còn quá nhiều. 

Còn hàng ngàn ca khúc, những trường ca, đoản ca, chủ đề âm nhạc… vô cùng đa dạng và độc đáo. Nhất là trường thiên câu chuyện của một chứng nhân lịch sử trong cuốn hồi ký ngàn trang. Cuốn hồi ký này có một định mệnh riêng, gian truân vào bậc nhất về những câu chuyện hoài thai sách vở và chữ nghĩa mà chúng ta có thể biết được.

Phạm Duy, đại lực sĩ (chữ của Nguyên Sa - trích từ chú thích trong bài viết của giáo sư Ngô Thế Vinh).


Bác Duy là người kể chuyện bằng chữ tài tình. Chữ nhiều tầng, nhiều chiều kích. Chữ trong sách của bác nhiều hình ảnh như một cuốn phim, đọc chữ mà nghe âm thanh thánh thót, có đôi chỗ hay hơn nghe nhạc.

Bác kể đời người nhẹ như không, với một kiểu văn tự tại và kiêu hãnh khi nói về những kiếp nạn, lầm lỗi, gian nan… 

Khoảng năm 2009, bác gọi tôi đến gặp một người bạn Mỹ của bác. Ông Eric Henry đợi chúng tôi ở nhà sách Phương Nam. Hai ông vui mừng hả hê tay bắt mặt mừng, thay phiên nhau say sưa kể về bản thảo tiếng Việt cuốn hồi ký của bác Duy đã được ông Eric dịch kỹ lưỡng, vất vả tìm nhà xuất bản ở Mỹ, vượt qua những trở ngại có tên và không tên, hữu lý và vô lý… 

Một bài báo nhỏ không cho phép tôi ghi lại hành trình gian nan của tác phẩm đó. Tôi chỉ có thể kể một chút về tình bạn không biên giới mà tôi chứng kiến trong cuộc gặp gỡ ngắn ngủi, xúc động và thú vị. Tôi được nhìn tận mắt, thấy rõ cách họ trân trọng, quý mến và tin tưởng nhau.  

Hai ông cho tôi xem một tập bản thảo dày cộp. Tôi chỉ thoáng thấy hàng chữ The Memoirs of Pham Duy.

Ông Eric: 

- Ông bạn “Tarzan” của tôi, cô có biết vì sao tôi nể ông ấy không?

Bác Duy cười sảng khoái: 

- Tôi nói với ông ấy tôi là Tarzan vì tôi không bao giờ để ông ấy chờ lâu. Tôi làm việc khỏe như… Tarzan mà. 
Eric: 

- Cách đây nhiều năm tôi hứa sẽ dịch thật tốt cuốn sách quý giá này, giờ đây chúng tôi tìm cách xuất bản.

Một hẹn ước bạn bè, với bản thảo trong hai đôi tay ấm áp sau một chặng đường dài cần mẫn của cả hai người. 

Vì cũng từng nếm chút gian nan của nghề làm sách, tôi cảm nhận được sự mừng vui của họ. Tôi chỉ chưa rõ bản thảo quý giá vào thời điểm đó, đang ở giai đoạn “lên bờ xuống ruộng” nào trong cuộc trường chinh về sản xuất, nhất là khát vọng góp mặt vào kho tàng tri thức mênh mông của nhân loại và thế giới.

Bác Duy: “Ông ấy làm việc với tôi, từng chút một, cô có tin là chúng tôi phải săm soi một bộ ghi chú tỉ mỉ có 1.500 chú thích từng địa danh, nhân vật…”. 

Phạm Duy hội ngộ dịch giả Eric Henry tại TP.HCM năm 2009.


Đến giờ, tôi vẫn nhớ rõ ràng từng chi tiết về không gian, không khí; cả từng ánh mắt, tiếng cười tràn trề hy vọng của họ.

Mười sáu năm trôi qua…

Tôi được biết, sau khi bác Duy mất, ông Eric Henry vẫn đơn độc bước tiếp, chưa hề nản lòng.

Một tin vui đã lóe lên từ ông Eric Henry. Bộ sách đã vượt qua những thủ tục cuối cùng với nhà xuất bản Cornell University Press. Một quy trình chuyển giao bản thảo từ dịch giả đến nhà xuất bản được thực hiện chỉn chu, với thời điểm cuối: Tập 4: Ngày 25 tháng 4 năm 2026 (*).

Hàng ngàn trang chìm nổi đã đến bến bờ.

“Giống như Anh, tôi suốt nhiều năm đã được cái may mắn trở nên khá thân mật với nhiều người bất thường tầm (chữ của Eric). Tiếc thay, họ đang dần dần trở thành người của trăm năm cũ rồi. Tôi nên bắt chước Anh và thử viết một tập “chân dung” để vinh danh họ” (trích bài viết của giáo sư Ngô Thế Vinh về tập hồi ký The Memoirs of Pham Duy) (**) 

Bài: Thanh Thủy - Ảnh: Phong Quang

______________

(*) Trích một nội dung hợp đồng xuất bản của dịch giả Eric Henry với nhà xuất bản Cornell University Press, cho thấy thời điểm chuyển giao phần bản thảo cuối cùng là tháng 4.2026 (The Memoirs of Phạm Duy. Translated from the Vietnamese by Eric Henry. To be published by Cornell University Press). “Ngoài bộ hồi ký này, ông còn là tác giả của khoảng 800 bài hát, khoảng 300 bộ lời tiếng Việt cho các bài hát ngoại quốc, nhiều bài báo, sách phương pháp chơi guitar, một cuốn sách về lịch sử ban đầu của nhạc đại chúng ở Việt Nam, một cuốn sách về những người ông từng quen biết và một số cuốn sách về nhạc dân gian Việt Nam, bao gồm cả sách tiếng Anh” (trích lời giới thiệu sách của dịch giả Eric Henry)

(**) Một vài thông tin của bài báo này có đối chiếu và sử dụng một số chi tiết trong bài viết của giáo sư Ngô Thế Vinh về nhà văn Eric Henry và hành trình dịch thuật cuốn Hồi ký Phạm Duy sang tiếng Anh

Thứ Sáu, 26 tháng 6, 2026

CÁC THẦY GIÁO TOÁN TẠI TRƯỜNG PETRUS KÝ CỦA TÔI.

 

Hướng đến kỷ niệm 100 năm thành lập Trường Petrus Ký – chuyên Lê Hồng Phong, xin trân trọng giới thiệu bài viết "Các Thầy Giáo Toán tại Trường Petrus Ký của tôi" của thầy Võ Anh Dũng. Qua những hồi ức chân thực và giàu cảm xúc, tác giả đã tái hiện hình ảnh các thầy giáo Toán tài năng, tận tâm, những người đã góp phần làm nên truyền thống hiếu học và danh tiếng của ngôi trường có bề dày lịch sử gần một thế kỷ.


Tôi học trường Petrus Ký 6 năm, 1966 – 1972, trải qua các lớp: Thất1, Lục1, Ngũ1, Tứ1 (sau đổi thành 9/1), 10B1, 12B1. Sáu năm học Toán với tám Thầy, mỗi người một vẻ, mỗi người một tính cách nhưng tất cả đều để lại những ấn tượng sâu sắc, tốt đẹp góp phần tạo nên phong cách người Thầy của tôi khi tôi nối nghiệp các Thầy sau này.
Sau những ngày choáng ngộp, hảnh diện của các chú bé lần đầu bước vào ngôi trường Petrus Ký cổ kính, to lớn, xinh đẹp, danh tiếng chúng tôi trở lại thực tại để làm quen với những thay đổi trong cách dạy, cách học của bậc trung học. Thay vì một Thầy một trò như lúc học tiểu học nay thành 10 môn với 10 Thầy Cô: Quốc văn, Sử địa, Pháp văn, Công dân, Toán, Lý hóa, Vạn vật, Hội họa, Nhạc, Thể dục. Môn nào cũng mới lạ. Mới từ nội dung chương trình cho tới cách dạy, cách học.
Môn Toán lớp Thất1 năm học 1966 – 1967, do Thầy Trần Văn Thưởng phụ trách. Lúc dạy chúng tôi, Thầy là một thầy giáo trẻ, mới 29 tuổi nhưng Thầy chửng chạc, nghiêm trang không thua gì những thầy cô đứng tuổi như giáo sư hướng dẫn của chúng tôi là Thầy Thẩm Túc. Thầy có những yêu cầu rất rõ ràng và nghiêm khắc. Riêng về tờ giấy làm bài kiểm tra thôi, Thầy bắt buộc nó phải được gỡ ra cẩn thận từ tập chớ không giựt mạnh tạo ra lỗ thủng to ở giữa, khung cho điểm và lời phê phải đúng số ô và nội dung qui định. Hể không đúng là a lê: zero tất! Lớp đệ thất học vào buổi chiều. Những giờ học đầu buổi trưa, chiến thắng buồn ngủ là một cuộc chiến đấu. Tuy nhiên, trong giờ học của Thầy, bạn nào lỡ dại ngáp là thôi rồi: zero!
Sau này khi học Đại học Sư phạm Sài gòn với Giáo sư Nguyễn Văn Trường, nguyên Tổng trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục của Thủ tướng Trần Văn Hương, tôi gặp lại phong cách Thầy Trần Văn Thưởng. Khi đó các lớp bắt đầu học lúc 8 giờ, tức 7 giờ hiện nay, thì riêng lớp Thầy Trường học từ 7 giờ, tức 6 giờ sáng hiện nay. Khi Thầy cầm cục phấn mà bạn sinh viên nào mới đến lớp thì Thầy nói: Xin lỗi anh, tôi dã cầm phấn, mời anh đi về!
Môn Toán lớp đệ thất gồm hai phần: hình học và đại số. Phần hình học lúc đầu rất là lạ đối với chúng tôi. Tại sao phải thừa nhận những điều hiển nhiên đúng: Qua hai điểm phân biệt có một và chỉ một đường thẳng? Tại sao phải chứng minh hai tam giác bằng nhau khi mà sự thực như vậy? Tuy nhiên với lời giảng rõ ràng, khúc chiết Thầy đã tạo cho chúng tôi sự thích thú trong những giờ Toán của Thầy. Trong vài tháng đầu, có bạn không giữ đúng các qui định của Thầy và Thầy không ngại ngần cho con zero tròn trĩnh. Không biết những con zero này Thầy có thực sự tính vào điểm số không hay là chỉ dọa để chúng tôi học hành đàng hoàng. Môn Đại số tôi nhớ học những phần cụ thể hơn Hình học như số nguyên, tính chia hết, bội số, ước số, số nguyên tố…
Sang lớp đệ lục 1, năm học 1967-1968, chúng tôi lại được Thầy dạy tiếp môn Toán. Năm này Thầy trò đã quen thuộc nhau nên chúng tôi học dễ dàng. Tôi nhớ môn Hình học năm này đa dạng, phong phú hơn: sự song song, vuông góc, hình bình hành, hình thoi, chữ nhựt, vuông… Đại số thì bắt đầu học giải phương trình. Năm học này do chiến sự, Tết Mậu thân 1968, nên chúng tôi chỉ học hết đệ nhất lục cá nguyệt mà thôi. Năm đó nghỉ Tết rồi nghỉ học luôn đến tận năm học sau.
Thầy Thưởng là người Thầy Toán đầu tiên bậc trung học của tôi và cũng là một trong những Thầy tạo cho tôi ấn tượng sâu sắc. Sau này khi nối nghiệp Thầy dạy Toán, tôi mới thấy hết những cái hay của Thầy. Thầy chẳng những khai phá đầu óc non nớt của chúng tôi bằng những lý luận toán học chặt chẽ mà còn rèn luyện nền nếp học tập, cách suy nghĩ hợp lô gic cho chúng tôi. Chính những kiến thức toán học này đã xây dựng cho chúng tôi cách suy luận, cách hành động phù hợp với những “định lý” của cuộc sống. Đây chính là mục đích của việc dạy và học toán. Thầy đã trang bị kiến thức toán để chúng tôi tiếp tục con đường học vấn đồng thời đã góp phần xây dựng nhân cách của chúng tôi. Sự nghiêm khắc của Thầy đã góp phần rèn luyện chúng tôi khép mình vào khuôn khổ, học hành có kế hoạch. Thầy đã làm đầy đủ chức năng của người Thầy: dạy chữ và dạy người.
Năm 1978 tôi may mắn được về giảng dạy tại trường mình và gặp lại Thầy. Thầy vẫn điềm đạm, nghiêm trang như xưa. Vui biết bao nhiêu khi gặp lại người Thầy kính mến của mình. Vài năm sau Thầy đi dịnh cư ở Mỹ. Năm 1994 Thầy về Việt Nam chơi. Tôi được hân hạnh họp mặt với Thầy tại nhà một người bạn của Thầy và tôi. Thầy bảo tôi: Khi nào Dũng qua Mỹ chơi thì ghé ở nhà Thầy, nhà Thầy rộng lắm. Ôi! Thương quá Thầy ơi! Tôi chưa kịp thực hiện lời mời của Thầy thì Thầy đã mất năm 2022.
Năm học 1968 – 1969 tôi lên lớp đệ ngũ 1. Hơn nửa năm ở nhà rong chơi chúng tôi mới quay lại trường. May mắn đã mĩm cười với lớp chúng tôi. Trãi qua mấy đợt chiến trận khốc liệt nhưng cả lớp vẫn an toàn, vẫn còn đầy đủ mặc dù có mấy bạn nhà cửa tiêu tan phải vào khu tạm cư sau trường, sân Lam sơn, tạm trú đợi xây dựng những khu chung cư Nguyễn Thiện Thuật, Minh Mạng… Năm này chúng tôi học toán với Thầy Huỳnh Văn Lắm. Thầy rất nhẹ nhàng, từ tốn nhưng cả lớp đều học hành rất đàng hoàng, nghiêm chỉnh. Tôi không còn nhớ Thầy phải giải quyết thế nào về việc nửa năm kiến thức đệ lục mà chúng tôi chưa học nhưng cả lớp đã học như bình thường. Môn hình học bắt đầu khó hơn với những bài toán về tam giác đồng dạng, hệ thức lượng trong tam giác… môn đại số với phương trình, hệ phương trình. Môn toán là một trong những môn học ưa thích của lớp chúng tôi nhờ vào cách dạy rõ ràng, nhẹ nhàng của Thầy. Cuối năm học, một số bạn lớp tôi cùng các lớp khác đến học lớp hè của Thầy ở chợ Nancy, gần nhà Thầy. Sau này, khi về trường giảng dạy gặp lại Thầy tôi biết thêm tài giảng dạy của Thầy. Đó là Thầy làm Giáo viên chủ nhiệm (tương tự Giáo sư hướng dẫn thời mình học) cực kỳ tốt. Lớp nào dù tệ đến đâu giao cho Thầy thì chỉ một thời gian ngắn là đâu vào đấy: ngoan ngoản, tuân thủ nội quy học sinh đầy đủ… ai cũng phải khen. Cách giáo dục học sinh của Thầy hay ở chỗ là không cần hò hét, không cần dùng phương pháp mạnh mẽ của bàn tay sắt mà học sinh nghe lời khiến ai cũng nể phục. Một thời gian sau Thầy và gia đình đi định cư ở Mỹ, ở Bắc Cali, gần nhà một bạn cũ cùng lớp nên lâu lâu tôi có dịp hỏi thăm Thầy. Thầy mất tháng 12/2025 thọ 90 tuổi.
Năm học đệ tứ (sau đổi thành lớp 9), năm học 1969 – 1970, đệ nhất lục cá nguyệt lớp tôi học với Thầy Đặng Quốc Khánh. Thầy hơi đậm người, nét mặt nghiêm trang nhưng không khó tính. Tôi nhớ năm này học về đường tròn, tứ giác nội tiếp, phương trình bậc hai… Nội dung học khó hơn những năm trước (có lẻ trước đó có kỳ thi Trung học đệ nhất cấp nên có độ khó nhất định chăng?). Thầy Khánh giảng dạy tốt, chúng tôi học tương đối dễ dàng. Tính Thầy nghiêm nghị, ít khi đùa trong lớp. Năm 1974 khi học khoa Toán Đại học Sư phạm Sài gòn, tôi đi dạy thực tập và giờ đầu tiên lên lớp tôi dạy lớp 10 trường Petrus Ký, lớp của Thầy Khánh đang dạy. Thầy đã chuẩn bị lớp cho tôi rất là chu đáo, giờ dạy tốt cũng là nhờ Thầy lo lắng chu toàn. Sau này, những cuộc họp mặt cựu học sinh Petrus Ký ở Nam Cali đều thấy Thầy tham dự. Rất mừng Thầy khỏe mạnh, minh mẫn.
Qua đệ nhị lục cá nguyệt, lớp tôi đổi Thầy dạy toán. Thầy Trần Văn Thử thay Thầy Khánh. Thầy Thử nguyên là Hiệu trưởng trường năm chúng tôi mới vào trường và cũng là thân phụ của một bạn trong lớp. Đúng như Thầy Nguyễn Thanh Liêm đã nhận xét: “Đây là Ông Hiệu trưởng hiền từ nhất từ xưa đến giờ. Rất là dễ dãi với mọi người.”. Thầy rất hiền trong giảng dạy, có lẻ chỉ có Thầy Lê Tiến Đạt dạy chúng tôi môn Vạn vật lớp 10 mới có thể so sánh với Thầy về sự dễ dãi mà thôi. Trong giờ Thầy, hể Thầy quay lưng lại lớp để ghi bảng thì y như rằng cả lớp tha hồ đùa giỡn, nghịch ngợm. Thầy không hề la gì chúng tôi cả. Tôi nghe Thầy Trần Thành Minh kể lại lúc Thầy Thử làm Hiệu trưởng thì trong lần thi tuyển vào lớp đệ thất của trường, các quan chức ở Bộ Giáo dục có gửi một danh sách học sinh đề nghị trường nhận vào học. Danh sách này khá nhiều. Thầy Thử hỏi ý kiến Thầy Cam Duy Lễ, Trần Thành Minh đang là Giám học và Phụ tá Giám học. Thấy danh sách quá nhiều nên hai Thầy không đồng ý nhận. Tuy nhiên trước áp lực của Bộ và do tính tình hiền lành cả nể, Thầy Thử nhận số học sinh này vào trường. Thầy Lễ, Thầy Minh bất mãn nên nộp đơn xin từ chức Giám học, Phụ tá Giám học. Biết chuyện này các quan chức ở Bộ làm giấy thuyên chuyển hai Thầy đi trường khác. Lúc đó Tổng trưởng Bộ Giáo dục là Thầy Nguyễn Văn Trường mà tôi có nói đến ở trên. Thầy Trường chính là em Ông Nguyễn Văn Lộc, nguyên Thủ tướng miền Nam. Thấy đề nghị thuyên chuyển Thầy Trường không ký thuận và bảo: Tôi biết hai anh này rất đàng hoàng không thuyên chuyển đi đâu hết! Khoảng năm 1973, 1974 thầy Thử bệnh và mất tại nhà bên cạnh trường. Tôi có đến tiễn đưa Thầy an nghỉ ở nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi.
Năm lớp 10, 1970 – 1971, chúng tôi học toán với Thầy Hoàng Ngọc Quỳ.Toán lớp 10 tương đối khó, học hàng điểm điều hòa, vị tự, tịnh tiến, phép quay, dấu nhị thức bậc nhất, tam thức bậc hai… Năm này trong lớp, tôi và nhiều bạn, đang học song song lớp 11 ở trường ngoài, chuẩn bị thi Tú tài 1 nên hầu như không học gì ở lớp 10 cả. Đúng là học lớp 10 bê bối nên tôi không nhớ Thầy Quỳ dạy thế nào chỉ còn ấn tượng Thầy dạy môn vạn vật năm đệ lục mà thôi.
Sang năm học tiếp theo, 1971 – 1972, tôi không học lớp 11 mà lên lớp 12 sau khi đậu Tú tài 1 và được tuyển bổ sung vào trường. Môn Toán do hai Thầy dạy: Thầy Cam Duy Lễ dạy giải tích, hình giải tích, phép biến đổi điểm; Thầy Phan Lưu Biên dạy tân đại số và điểm động học.
Về Thầy Cam Duy Lễ, tôi xin trích lại bài viết tưởng nhớ Thầy:
“Ngày hôm qua, 06/9/2016, tiễn đưa Thầy về Vũng Liêm, Vĩnh Long. Thầy yên nghĩ trong sân vườn tràn ngập bóng cây. Em có biết bao nhiêu kỷ niệm, bao nhiêu ân tình với thầy trong 45 năm qua.
Năm học 1971-1972 cả lớp 12B1 Petrus Ký hào hứng được học Toán, phần giải tích và Hình học, với Thầy. Vật lộn với những bài toán Phép biến đổi điểm: tịnh tiến, vị tự và đặc biệt là phép nghịch đảo mới có được cảm giác sảng khoái khi giải được những bài khó của Thầy. Có bài Thầy cho mà đề bài đã dài hơn trang A4. Làm được bài nào là thấy đã bài đó. Học với Thầy em biết thêm được cái đẹp của Toán, biết thêm những ý nghĩa sâu sắc của việc học Toán. Sự thích thú mà Thầy đem lại qua những giờ Toán đã góp phần giúp em lựa chọn khoa Toán khi thi vào Đại học Sư phạm.
Năm 1978, sau 2 năm dạy trường Chu Văn An, em may mắn được về dạy tại trường cũ thân yêu; được vào tổ Toán do Thầy làm Tổ trưởng. Phải nói về dạy ở trường mình là một điều tuyệt vời và ở trong tổ Toán lại càng tuyệt vời hơn nữa. Em trở lại là một người học trò học hỏi kinh nghiệm của những Thầy Cô yêu mến của mình. Em đã học được nhiều điều từ cách dạy, cách xử lý vấn đề, cách giáo dục học sinh… của Thầy. Em luôn trân trọng giới thiệu Thầy với các học sinh của em, nói với các em rằng Thầy là Thái Sư phụ. Thầy rất quan tâm đến lời giải hay, đẹp và nhất là có tính sư phạm. Nhớ lúc bộ đề tuyển sinh đại học còn thống trị việc dạy và học. Có những bài toán mà lời giải trong sách như từ trên trời rơi xuống, không biết trả lời học sinh tại sao tìm ra cách giải. Một lần họp tổ, Thầy treo giải một thùng bia cho lời giải đẹp của một bài toán trong bộ đề. Sau đó trong tổ đưa ra 6 lời giải khác nhau. May mắn Thầy không phải “chung độ” 6 thùng bia vì mọi người đều đồng ý 6 lời giải này cũng chưa hay. Cuối cùng lời giải đẹp lại đến từ một học sinh! Trường hợp này giống như nhà sư Hư Trúc giải thế cờ vây. Vì Thầy Cô có kinh nghiệm nên không chọn cách khai triển mà mọi người cho rằng sẽ phức tạp thêm. Ai ngờ chính vì làm phức tạp ra lại rút gọn lại bất ngờ.
Những ngày tháng cùng tổ Toán với Thầy dù không có những lần nhậu “long trời lỡ đất” như thời ở Chợ Đũi trước đây của Thầy với Thầy Tạ Ký, Thầy Tôn Thất Trung Nghĩa… nhưng cũng “lúy túy càn khôn”. Làm sao quên được những đêm đến nhà Thầy xem Euro, World Cup. Giữa khuya mới thi đấu nhưng từ chiều đã tụ tập đông đủ. Lai rai, bàn chuyện trên trời dưới đất và cuối cùng là ngủ lăn quay chẳng biết gì đến trận đấu. Sau đó nhóm “thân hữu” mở rộng được thành lập mỗi tháng gặp nhau một lần. Nhớ biết bao nhiêu không khí thân thương, vui vẻ, gần gũi của những lần họp mặt. Có lần Thầy mang đến một chai rượu mà chưa ai uống qua. Anh em đã thỏa thuận với nhau trước chọc Thầy nên khi uống không ai khen lấy một câu. Thầy thấy kỳ nên uống xong mới hỏi: Sao tụi bây? Uống được không? Tụi này mỗi đứa chê một câu, đại khái chai rượu gì mà bằng sành, chẳng nhìn thấy rượu đâu, uống cũng thường thôi. Thầy hơi quê bảo: Nhưng theo phép lịch sự của tao đem tới tụi bây phải khen chứ. Lúc đó mọi người mới cười ầm lên bảo ngon lắm sư phụ ơi! Đó là chai Chivas 21.
Nhớ Noel năm nào cách nay chắc khoảng 25 năm anh em cũng tụ họp vui với nhau. Lúc 2 giờ sáng một Thầy chạy đến nhà mình báo tin Thầy bị té xe đang ở bệnh viện (lúc đó chưa có điện thoại di động). Hết hồn vội vã cùng chạy vào bệnh viện thì may mắn Thấy chỉ bị mẻ xương ở gò má mà thôi. Các bạn lại phân công mình một việc khó là chạy ra nhà báo tin cho Cô. Thôi thì Thầy mạnh khỏe là mừng rồi nên cũng ráng gồng mình làm nhiệm vụ. Sau này khi con Thầy làm bác sĩ bệnh viện NĐ1, Thầy thường nói với bạn bè có gì cần giúp thì cứ báo và những trường hợp đó Thầy đều tận tình giúp đỡ.
Còn biết bao nhiêu chuyện buồn vui nữa Thầy ơi!
11g30 đêm 02/9/2016, thầy Trần Thành Minh gọi điện thoại báo tin Thầy bị té xuất huyết não chắc không qua khỏi. Chưa kịp bàng hoàng, sáng sớm chạy đi thăm Thầy thì Cô gọi báo Thầy đã mất.
Làng giáo Toán Sài gòn mất đi một cây đại thụ. Tụi em mất đi một con chim đầu đàn. Nỗi buồn này biết bao giờ nguôi! Bây giờ những lần ngồi vui vẻ, sảng khoái với Thầy chỉ còn trong mơ, trong hồi tưởng.
Thôi chỉ còn biết an ủi rằng Thầy ra đi nhẹ nhàng. Trong lòng Thầy lúc nào cũng vui vì con cháu thành đạt, hiếu thảo.
Thầy ơi, những hình ảnh, những kỷ niệm của Thầy sẽ luôn giữ mãi trong lòng người thân, trong lòng bạn bè và trong lòng những đứa học trò của thầy.
Rồi đây tụi em, dân cựu học sinh Petrus Ký, mỗi khi ngồi với nhau sẽ nhớ tới Thầy biết bao nhiêu.”
Thầy Phan Lưu Biên giảng dạy chúng tôi phần tân đại số: luật nội hợp, nhóm, vành, trường, số tạp, điểm động học… Thầy dạy dễ hiểu, rõ ràng. Đề thi tú tài 2 năm đó có một bài thuộc phần này và đa số chúng tôi làm dễ dàng. Khi dạy, Thầy có sử dụng sách do Thầy Trần Thành Minh, Lê Văn Đặng và Thầy cùng biên soạn, nhà xuất bản Trí Đăng phát hành. Năm đó Thầy lái chiếc xe LaDalat mới tinh đi dạy. Tôi nhớ có hỏi Thầy và Thầy bảo: Tiền bản quyền viết mấy quyển sách toán đó. Theo như Thầy kể, lúc nhỏ ở Quảng Nam đi học trễ nên phải làm giấy tờ nhỏ tuổi thành sinh năm 1941 thay vì 1938. Khi tốt nghiệp Đại học Sư phạm Sài Gòn, Thầy đậu á khoa nên chọn nhiệm sở là trường Petrus Ký. Sang năm 1972 – 1973, Thầy về Nha Khảo thí phụ trách ra đề thi tú tài. Tới năm 1975, Nha Khảo thí bị giải tán Thầy chuyển về dạy trường Bổ Túc cán bộ ở Thủ Đức. Khi trường này giải thể, Thầy lại dạy trường mình cho đến khi về hưu. Hiện Thầy đã 86 tuổi nhưng rất khỏe. Hằng tháng vẫn từ nhà phía cầu Bình Lợi xuống họp mặt cùng bạn bè.
Trên đây là tám Thầy đã dạy môn toán tôi ở trường Petrus Ký. Tuy nhiên là thiếu sót to lớn nếu tôi không viết về hai Thầy Cô gần gũi cũng như nổi tiếng ở trường ta.
Người đầu tiên tôi muốn giới thiệu là Thầy Trần Thành Minh. Thầy không dạy tôi ở trường nhưng tôi học ở Thầy rất nhiều điều trong suốt thời gian làm việc chung với nhau. Về trường vài năm, tôi làm Thư ký Hội đồng (tương tự Phụ tá Giám học trước đây) còn Thầy làm Phó Hiệu trưởng. Cùng làm việc với Thầy tôi đã học được phuơng pháp làm việc, phuơng pháp giảng dạy… Nghề xếp thời khóa biểu khi chưa có sự hỗ trợ của máy tính là tôi học từ Thầy Minh và Thầy Huỳnh Thanh Nghiêm (dạy môn Pháp văn). Đặc biệt, tôi được tham gia cùng Thầy và Thầy Biên viết các quyển sách bài tập toán, thay vị trí Thầy Lê Văn Đặng trước đây. Dĩ nhiên viết mấy cuốn sách nhưng tiền bản quyền chẳng đáng là bao không như Thầy Phan Lưu Biên trước kia viết sách mua được xe hơi. Thầy cũng là cựu học sinh Petrus Ký. Hiện nay Thầy Minh 87 tuổi, vẫn khỏe, hằng tháng vẫn đến họp mặt cùng bạn bè đồng nghiệp hưu trí.
Người tiếp theo tôi xin giới thiệu Cô Nguyễn Thị Khả, Cô giáo dạy toán duy nhất của trường Petrus Ký khi đó. Dù học hay không học Cô nhưng hể là học sinh Petrus Ký thời Cô dạy là phải biết Cô qua câu: Nhất Khả, nhì Hương… Tôi cũng không hân hạnh học với Cô. Khi học lớp 9, một lần đi ngang qua lớp 9/5 hay 9/6 tôi nhìn thấy một hình ảnh mà vẫn còn ấn tượng đến bây giờ. Đó là hình ảnh cả lớp quỳ gối trên băng ghế mà vẫn nghiêm chỉnh nghe giảng, chép bài. Một điều mà khi xem danh sách học sinh trường năm học 1950 – 1951 tôi mới biết Cô cũng là cựu học sinh trường. Vào thời Cô, muốn thi tú tài, nam lẫn nữ, thì phải học trường Petrus Ký vì khi đó chỉ có trường mình mới có lớp bậc tú tài. Sau này khi cùng dạy với Cô mới thấy Cô nghiêm khắc nhưng hợp lý và công bằng. Học trò sợ Cô nhưng luôn kính nể, tôn trọng Cô. Cô xây dựng nền nếp học tập trong lớp rất khoa học, đâu vô đó. Lần cuối gặp Cô tại nhà khi thăm Cô lúc Cô bệnh. Cô mất năm 1979 khi Cô mới 49 tuổi.
Trên đây tôi ghi lại những ấn tượng, những kỷ niệm của các Thầy Cô dạy Toán khi tôi học tại trường. Những tình cảm với các Thầy Cô vẫn sâu đậm trong lòng tôi. Tôi luôn mang ơn các Thầy Cô đã bỏ công dạy dỗ chúng tôi nên người. Gần 60 năm, có thể một số chi tiết không được chính xác, lẫn lộn theo thời gian xin ghi lại đây để tưởng nhớ các Thầy Cô, để nhớ lại một thời đẹp đẽ của tuổi học trò đã qua.
Ẩn bớt

Thứ Hai, 22 tháng 6, 2026

KỂ VỀ CHỦ TỊCH QUỐC HỘI KHÔNG CÓ NHÀ RIÊNG

 BẾN LỨC ANH HÙNG 









Cố luật sư Nguyễn Hữu Thọ, người giữ chức Chủ tịch Quốc hội đầu tiên sau ngày đất nước thống nhất 30/4/1975, là một trong những biểu tượng của lòng đoàn kết, lòng yêu nước. Con trai của cố luật sư nói: “Cả đời ba tôi phụng sự nhân dân và đất nước, đến lúc qua đời tài sản không để lại gì, kể cả một căn nhà cho gia đình nhỏ của mình cũng không có”.
“Lớn lên con sẽ hiểu”
Luật sư Nguyễn Hữu Thọ sinh ngày 10/7/1910 tại làng Long Phú, tổng Long Hưng Hạ, quận Trung Quận, tỉnh Chợ Lớn (nay thuộc huyện Bến Lức, tỉnh Long An), trong một gia đình công chức trung lưu. Năm 1921, mới 11 tuổi, Nguyễn Hữu Thọ đã được gia đình gửi sang Pháp học. Năm 1932, Nguyễn Hữu Thọ tốt nghiệp loại xuất sắc và nhận bằng Cử nhân Luật tại Pháp và sau đó, tháng 5/1933, Nguyễn Hữu Thọ rời thành phố Marseille trở lại Sài Gòn.
Luật sư Nguyễn Hữu Thọ mở Văn phòng Luật đầu tiên tại Mỹ Tho, sau đó mở thêm văn phòng tại Vĩnh Long, Cần Thơ. Theo đánh giá thì “Ở tuổi 30, với tài năng và sự chính trực bảo vệ lẽ phải, bảo vệ người yếu thế, luật sư Nguyễn Hữu Thọ đã nổi tiếng khắp Nam Kỳ”.
Văn phòng luật sư của ông là nơi gặp gỡ, hội tụ của trí thức yêu nước, đặc biệt là sau Cách mạng tháng Tám 1945.
Khi Pháp quay lại muốn xâm lược nước ta một lần nữa, ngày 19/5/1947, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ đã vận động hàng trăm trí thức nổi tiếng tại miền Nam ký tên vào Tuyên ngôn của trí thức Sài Gòn - Chợ Lớn, yêu cầu chính phủ Pháp thương thuyết với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để sớm chấm dứt chiến tranh. Tuyên ngôn này được đăng trên nhiều báo chí trong nước và báo Pháp gây tiếng vang lớn. Tại Việt Bắc, ngày 25/5/1947, Bác Hồ đã viết thư cảm ơn: “Tôi thay mặt Chính phủ cám ơn sự ủng hộ của các bạn… Anh em văn hóa và trí thức phải làm như những chiến sĩ anh dũng trong công cuộc kháng chiến để tranh lại quyền thống nhất và độc lập cho Tổ quốc”.
Ngày 12/1/1950, tại tang lễ Trần Văn Ơn - học sinh trường Petrus Ký bị thực dân Pháp bắn trọng thương qua đời khi đi biểu tình, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ đã đọc điếu văn trước nửa triệu người là sinh viên, tri thức, thợ thuyền, người lao động. Ông đặt câu hỏi: “Như thế này thì nhân dân ta đã có độc lập và tự do chưa?”. Hàng vạn tiếng hô: “Chưa! Chưa! Chưa!”.
Ngày 16/3/1950, nhân sự kiện Mỹ đưa hai tàu chiến cập cảng Sài Gòn, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ đã phát biểu tại cuộc mít tinh khổng lồ, phản đối Mỹ can thiệp vào nước ta. Sự kiện này được xem là dấu mốc đầu tiên trong hành trình chống Mỹ xâm lược Việt Nam và cũng là nguyên nhân trực tiếp khiến ông bị chính quyền tay sai bù nhìn bắt giam.
Ông Nguyễn Hữu Châu, con trai cố luật sư Nguyễn Hữu Thọ bùi ngùi nhớ lại: “Tôi thương ba tôi, vì cuộc đời ba tôi là một trí thức, một luật sư mà nhiều năm chịu tù đày, bị đánh đập suýt chết. Tôi sẽ không bao giờ quên ấn tượng của một đứa trẻ mười tuổi mà chỉ mong đến ngày để vào nhà tù thăm ba”.
Ông Nguyễn Hữu Châu kể: “Tuổi thơ của tôi thật ngắn ngủi, năm 8-9 tuổi ở với ba tại văn phòng luật thuê mượn, nơi các nhà cách mạng như Nguyễn Thị Bình, bà Đỗ Duy Liên thường qua làm việc. Ông cụ dậy sớm, đi mua đồ ăn sáng cho gia đình, rồi chở tôi đi học. Rồi ba tôi bị bắt, bị tù đày liên miên hết miền Nam ra miền Bắc rồi về miền Trung. Lúc ấy tôi còn nhỏ lắm, còn chưa biết gì. Thăm ba ở tù, tôi trách: “Ba cứ đi tù hoài!”, ba nói: “Sau con lớn, con sẽ hiểu cho ba”.
Tưởng chết trong tù
Ông Nguyễn Hữu Châu kể: “Một lần gia đình chúng tôi đi xe đò xuống thăm ba bị giam ở Phú Yên. Nó đánh ông tưởng chết. Đánh hộc máu, do ông không chịu chào cờ địch, ông lại còn chào cái sào phơi quần áo! May nhờ có bác sĩ giỏi cứu sống. Chúng tôi nhận điện, nghe nói ông bị bệnh nặng ra Củng Sơn đưa về, tưởng ông đã qua đời vì anh em khác đấu tranh đã bị đánh chết rồi. Trên chuyến xe chở ông về Tuy Hòa chữa bệnh, ba ngồi trên võng da bọc xương, tôi ngồi bên cạnh. Tôi thương ba nhưng không biết nói ra thế nào. Tới Tuy Hòa, tổ chức có mua cái radio cho ông nghe, ông lạc quan lắm. Ông chỉ biết làm việc có lợi cho dân thôi”.
Theo tài liệu của Ban tuyên giáo TPHCM thì: “Năm 1960 trên toàn miền Nam, đặc biệt là ở Nam bộ nổ ra phong trào Đồng Khởi, là điều kiện chín muồi để cách mạng miền Nam thành lập mặt trận, tập hợp các lực lượng thành một lực lượng chung để chiến đấu giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Lúc này, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ đang bị lưu đày nơi rừng thiêng nước độc, cho nên cần giải thoát ngay luật sư về với cách mạng. Ngày 10/9/1960, lần giải thoát thứ nhất cho luật sư bất thành vì cơ sở đi đón luật sư bị bắt. Ngày 19/6/1961, ta tổ chức vũ trang tấn công quận lỵ Củng Sơn để đón luật sư nhưng không thành vì địch đã đưa ông về thị xã Tuy Hòa. Phải đến ngày 30/10/1961, lần giải thoát thứ ba, mới đón được luật sư từ Phú Yên về căn cứ Bắc Tây Ninh”.
“Sau khi luật sư Nguyễn Hữu Thọ được giải thoát, từ ngày 16/2 đến ngày 3/3/1962, tại căn cứ Kà Tum - Tây Ninh, Đại hội lần thứ nhất Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (MTDTGPMNVN) đã được tiến hành và bầu ông làm Chủ tịch Mặt trận, thông qua Báo cáo chính trị và công bố Chương trình hành động bổ sung của Mặt trận. Từ đây cho đến khi thống nhất đất nước, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch Mặt trận Dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam liên tục trong 15 năm” (Tài liệu đã dẫn).
Ông Nguyễn Hữu Châu kể: “Chúng tôi đọc báo mới biết ba tôi đã được giải thoát và làm Chủ tịch MTDTGPMNVN. Nhưng điều đó cũng đồng nghĩa sự an nguy của chúng tôi trong nội thành bị đe dọa. Năm 1962, tôi bắt được liên lạc của cách mạng và ra chiến khu làm phát thanh viên của đài phát thanh, làm công tác Đoàn. Trong khi má tôi bị bệnh thì vẫn ở trong ngôi nhà mướn chỉ rộng 20m2, hai em gái là Trân và Thủy thì tìm cách sang Pháp để tránh sự đàn áp của kẻ thù”.
Đời cách mạng đẹp lắm
Từ một thanh niên trí thức nội thành giỏi cả tiếng Anh tiếng Pháp, anh Nguyễn Hữu Châu dấn thân vào con đường kháng chiến và cũng là để tìm gặp lại cha mình sau nhiều năm xa cách.
“Tôi ra Củ Chi, tham gia chống càn, chiến đấu, tải đạn, suýt chết mấy lần do bị B52 rải thảm. Đến khi vào tới Trung ương Cục, được tổ chức cho gặp ba một tuần. Ba tôi dặn: Con lo hoàn thành nhiệm vụ, cấp trên giao nhiệm vụ gì thì cố gắng làm thật tốt”.
Anh vào gặp cha mình vào lúc địch tung 45.000 quân bao vây càn quét Trung ương Cục với tuyên bố: “Sẽ đưa Nguyễn Hữu Thọ về lại Sài Gòn”.
Anh Châu nhận xét: “Tôi còn khá trẻ, nhưng quan sát tôi thấy ba tôi là người lãnh đạo cao nhất, nhưng ăn uống sinh hoạt như mọi người khác, có chăng chỉ nhỉnh hơn chỗ thỉnh thoảng ba có chút cà phê uống buổi sáng để tỉnh táo viết lách. Có lẽ cà phê mua từ Campuchia. Trong khi đó thì lính Mỹ đi trận mà tắm bằng nước sạch đem từ Philippines qua, đến đâu thì đem cả gái theo để giải trí. Tôi nghĩ rằng, Mỹ dù nhiều vũ khí tối tân hiện đại cũng không bao giờ có thể chiến thắng được chúng tôi, dù chúng tôi chỉ có võng dù, cơm vắt”.
Anh Châu nhận xét: “Khi vào chiến khu, tôi mới thấy cha tôi cũng đi tải gạo như mọi người. Cách mạng đẹp lắm! Ai cũng như ai”.
Năm 1969, Bác Hồ qua đời. Luật sư Nguyễn Hữu Thọ dẫn đầu Đoàn đại biểu của MTDTGPMNVN và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra Hà Nội viếng Bác Hồ.
Anh Nguyễn Hữu Châu cho biết: “Sau tôi ra Bắc, nghe nói lại rằng, ông Vũ Kỳ kể: “Lúc Bác Hồ gần mất, còn hỏi thư ký Vũ Kỳ: Chú Thọ trong Nam đã ra chưa?”.
Đôi nhẫn cưới làm quà cho con
Ông Nguyễn Hữu Châu cho biết: “Cả cuộc đời cha tôi không biết vun vén gì cho cá nhân mình. Tôi nhớ khi cha tôi ra Hà Nội làm việc, năm 1972 nghe tin tôi cưới vợ trong chiến khu, ông gửi món quà cưới là một cặp nhẫn, có thế thôi. Đám cưới của chúng tôi thật ra cũng chẳng có gì, chỉ tuyên bố, rồi mọi người ăn đậu phộng, uống trà. Cơ quan cho nghỉ mấy ngày để hai vợ chồng tự đào hầm làm nhà ở”.
Tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa VI diễn ra từ ngày 24/6 đến ngày 3/7/1976, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ được bầu làm Phó Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Sau khi Chủ tịch Tôn Đức Thắng từ trần, ngày 5/4/1980, ông được Quốc hội cử giữ chức quyền Chủ tịch nước. Trên cương vị quyền Chủ tịch nước, ngày 19/12/1980, trước sự chứng kiến của các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước, tại Phủ Chủ tịch, luật sư ký lệnh công bố Hiến pháp 1980.
Ngày 4/7/1981, tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa VII, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ được bầu làm Chủ tịch Quốc hội kiêm Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Ông Nguyễn Hữu Châu kể: “Ngày 24/12/1996, ba tôi qua đời tại Thành phố Hồ Chí Minh, hưởng thọ 86 tuổi. Ba tôi qua đời 6 năm, các cơ quan chức năng mới sực nhớ ra ba tôi chưa từng được cấp nhà, chỉ ở nhà công vụ. Khi ấy, các cơ quan hữu quan mới làm thủ tục cấp đất, hỗ trợ tiền xây nhà, để gia đình chúng tôi làm một nơi tưởng niệm và hương khói cho ba tôi”.
Hàng ngày, ông Nguyễn Hữu Châu đều hương khói và chăm nom nhà tưởng niệm trưng bày nhiều hình ảnh tài liệu về cha mình - người luật sư đầu tiên giữ cương vị Chủ tịch Quốc hội.
Trần Nguyên Anh
Luật sư Nguyễn Hữu Thọ đã được Đảng và Nhà nước ta tặng Huân chương Sao Vàng và nhiều huân chương, huy chương cao quý; Nhà nước Liên Xô tặng giải thưởng quốc tế mang tên Lênin và Huân chương Hữu nghị; Nhà nước Cuba tặng Huân chương Đoàn kết chiến đấu; Nhà nước Bungari tặng giải thưởng Dimitrov, Hội đồng hòa bình thế giới tặng Huân chương Jolio Cunie.

Chủ Nhật, 21 tháng 6, 2026

Thăm đường Thánh Mẫu nhớ Tuổi Ngọc

 Đường Thánh Mẫu xưa thuộc ấp Nghĩa Hòa, nguyên là con đường mòn trước nhà thờ Chí Hòa - Sài Gòn. Từ năm 1954, đồng bào Công giáo miền Bắc vào đây lập nghiệp, đường được sửa chữa nâng cấp và đặt tên Thánh Mẫu. Sau 4.1975 đường đổi tên thành Bành Văn Trân. 

Đường Thánh Mẫu chỉ dài khoảng gần 1 cây số rưỡi, qua ngã tư Nghĩa Phát, ngã tư Sao Mai, ngã ba Chữ Đồng Tử, Vân Côi. Xóm anh Nguyễn ở là xóm đạo nằm trong hẻm Phú Lộc. Trong xóm chỉ vài nhà theo đạo Phật bao gồm nhà anh Nguyễn, không kể xóm người Nam gần đó. 

Người Công giáo sống trong xóm khắn khít với nhau, cùng sinh hoạt ở nhà thờ Xây Dựng. Nhà cửa cất san sát, hẻm có duy nhất một cây sung cao lớn ở nhà ông Thoát, che mát cả sân trước ngôi nhà ba gian. Ngoài trái ăn được, vỏ cây sung dùng đốt thành than, giã ra rồi hòa nước sền sệt để thoa trị vết phỏng. Nhớ có lần anh của Nguyễn ra cánh đồng gần đó chơi sau khi có người vừa đốt rác, lửa bên dưới còn cháy âm ỉ nhưng ai đó đã đổ rác mới lên, anh đạp trúng nên bị phỏng chân. Mẹ của Nguyễn phải xin vỏ cây sung nhà ông Thoát về chữa vết phỏng. 

Trong xóm có nhiều con nít cùng trang lứa nên trò chơi rất phong phú, nhất là cánh đồng ở gần đó có thể chơi đá banh, đánh khăng, bắn bi (bi lỗ, bi hầm, bi tam giác) hay đá cá, đá dế, thả diều, câu cá, câu ếch, bắn chim, bắn ổi xoài… Trung tâm ăn vặt trong xóm là trước dãy nhà ba căn chắn ngang cuối hẻm với đủ các món từ các loại chè, khô, khoai bắp...  Tết đến thì chơi đánh bài, bầu cua tôm cá hoặc theo người lớn xem nấu bánh chưng. Trung Thu làm lồng đèn, Noel xúm lại giúp làm hang đá lớn ở nhà thờ.  

Nhà thờ Chí Hòa - một trong bảy ngôi nhà thờ, tu viện xưa nhất đất Sài Gòn - Gia Định - Chợ Lớn tọa lạc trên đường Thánh Mẫu xưa (nay thuộc khu đất số 149 đường Bành Văn Trân, TP.HCM). Ảnh: CTV


Giữa thập niên 1960, xe ngựa chở rau củ nông sản chạy lốc cốc mỗi ngày qua lại trên đường Lê Văn Duyệt từ Hóc Môn, Bà Quẹo về phía Sài Gòn. Trong hẻm cà phê Thăng Long (tên khác của hẻm Phú Lộc) chỉ có nhà trưởng ấp Nghĩa Hòa, ông Đinh Văn Thuấn là nhà xây. Quán cà phê Thăng Long trong xóm là nhà trệt, tường xây, lợp mái tôn, phía trước bán cà phê ở đầu hẻm và phía sau để ở có cửa thông ra hẻm. Thời đó một số nhà thích làm sân lộ thiên phía sau nhà có hồ chứa nước mưa. Từ đường Thánh Mẫu ra đường Lê Văn Duyệt, nếu quẹo trái ra phía ngã ba Ông Tạ và ngã tư Bảy Hiền, quẹo phải thì ra khu Hòa Hưng, Ngã Sáu rồi thẳng đến trung tâm Sài Gòn. Từ khu ba căn ra tiệm điện Nhật Quang có ngõ quẹo phải ra cánh đồng và khu vườn rau Lộc Hưng. Qua cánh đồng là cư xá Bắc Hải có lối vào từ đường Lê Văn Duyệt. Có thể đi qua các thửa ruộng của người dân đến khu Bắc Hải.

Nhà in báo Xây Dựng và tờ tuần san Tuổi Ngọc

Địa chỉ nổi bật nhất trong đường Thánh Mẫu mà cả Sài Gòn đều biết là nhà in - tòa soạn báo Xây Dựng, nơi từng in nhiều báo và tạp chí nổi tiếng miền Nam. Nhà thơ - ký giả Phạm Chu Sa viết trên Facebook về địa chỉ này khi nơi làm việc của ông, tuần san Tuổi Ngọc chuyển về đây năm 1973: “Trước 1975, đối diện nhà in Xây Dựng có quán cà phê Thăng Long với hàng chữ nổi bật dưới tên bảng hiệu: “20 năm danh tiếng”.

Nhà in Xây Dựng chủ yếu in nhật báo Xây Dựng nhưng cũng có in thêm một số tạp chí khác như Văn Học, Đối Diện, Tuổi Ngọc… Tạp chí Đối Diện do linh mục Chân Tín chủ biên nhưng thiên tả gần như công khai, nhiều lần bị chính quyền tịch thu và truy tố cùng với tạp chí Trình Bày do một số trí thức tên tuổi - cũng thiên tả - chủ biên. Khoảng giữa năm 1973, cảnh sát đột kích nhà in “hốt” tạp chí Đối Diện vừa in xong do nội dung có bài viết thiên tả lộ liễu hay sao đó. Đúng lúc tuần báo Tuổi Ngọc đang in nên bị “văng miểng”, cảnh sát hốt trọn tất cả ấn bản Đối Diện đã in và Tuổi Ngọc đang in!

Sau đó Tuổi Ngọc phải “di tản chiến thuật” sang nhà in báo Hòa Bình do linh mục Trần Du làm chủ nhiệm và người em Trần Hữu Quỳnh làm chủ bút. Linh mục Nguyễn Quang Lãm là chủ nhiệm kiêm chủ bút nhật báo Xây Dựng, viết báo với bút danh Thiên Hổ rất nổi tiếng. Ông rất có uy, chính quyền cũng ngại đụng tới ông. Nhưng nhà in của ông in báo thiên tả thì cảnh sát không nương tay.

Ông linh mục - nhà báo Thiên Hổ - Nguyễn Quang Lãm người cao lớn, da ngăm đen, chuyên mặc áo sơ mi ca rô ngắn tay, tự tay lái xe hơi đến tòa soạn. Bên cạnh nhà in là nhà nguyện nhỏ, mỗi sáng chủ nhật cha Lãm đến giảng đạo và làm phép giải tội cho các con chiên sống quanh đó”.

Nhà văn - họa sĩ Đinh Tiến Luyện (thư ký toà soạn tuần san Tuổi Ngọc trước 4.1975) vừa từ Mỹ về Việt Nam thực hiện triển lãm cá nhân đầu tiên “Một thời tuổi ngọc”, từ ngày 20 - 27.5.2026 tại TP.HCM. Ảnh: CTV


Bài viết từ năm 1973 của nhà văn Từ Kế Tường - cũng trong nhóm làm tờ Tuổi Ngọc - giúp hình dung chi tiết hơn: “Tòa soạn lúc bấy giờ mới dời về 9B/15 Thánh Mẫu. Một con đường nhỏ rẽ từ đường Lê Văn Duyệt nối dài. Hôm đầu tiên dong xe tìm địa chỉ này tôi tưởng như đi về một vùng xa xôi nào lắm. Con đường chạy hoài, giữa những thứ xe cộ chằng chịt nối đuôi nhau và bụi bặm mờ cả mắt. 9B/15 Thánh Mẫu. Tôi tìm ra nó giữa một cơn mưa nhỏ của buổi sáng.

Đứng ở đầu đường Thánh Mẫu có thể nhìn thấy rõ tấm bảng hiệu nhật báo Xây Dựng cao lêu nghêu nơi đầu cánh cổng sắt. Tấm bảng đã ngả màu tróc sơn, buồn thiu có lẽ từ ngày nhật báo này tự đình bản. Con đường nhỏ, tráng nhựa nhưng vẫn còn đầy ổ gà đọng nước. Bên tay mặt có quán cà phê Thăng Long, tay trái có nhà sách Ngọc Lan. Điều đặc biệt là chỉ một khoảng đường ngắn thôi nhưng có đến vài nhà làm kem. Đi qua những nơi ấy nhìn và nghe được tiếng động cơ quay xình xịch như một khu kỹ nghệ”. 

Ông tả bên trong: “Một căn phòng nhỏ bề ngang rộng hơn bề dài. Chia ra làm hai, một bên dành cho tòa soạn một tờ tuần báo khác. Bên còn lại, rộng hơn, kê được hai cái bàn dài lớn, ba chiếc ghế sa lông bọc nệm cao su. Một tủ sắt. Hai lối đi. Ba chiếc ghế ngồi có thành dựa. Đó là “giang sơn” mới của anh em Tuổi Ngọc: Duyên Anh, Đinh Tiến Luyện, Phạm Đình Thống, Từ Kế Tường. Nếu so sánh hai tòa soạn cũ và mới, 38 Phạm Ngũ Lão và 9B/15 Thánh Mẫu thì 9B/15 rộng rãi hơn, thoải mái hơn nhưng lại ở quá xa Sài Gòn, mỗi lần anh em muốn tới thăm cũng rất ngại. Vì thế nên tòa soạn thường vắng vẻ”. 

Tuy vậy, ông lạc quan: “Hy vọng đây là vùng đất tốt cho Tuổi Ngọc cắm dùi. Bên cạnh có quán cà phê Thăng Long đông khách. Những nhà làm kem ăn nên làm ra, Tuổi Ngọc sẽ “dựa hơi” mà cũng ăn nên làm ra chăng?... 9B/15 Thánh Mẫu. Tự nhiên cái địa chỉ đáng yêu này và mùa mưa mới kéo tôi về với Tuổi Ngọc để kịp ngày thổi tắt hai ngọn nến mừng sinh nhật đã trở thành một địa chỉ hoa” (bài Sinh nhật mùa mưa, tuần san Tuổi Ngọc số 104, ngày 31.5.1973).

Tòa soạn báo Tuổi Ngọc ở đó một thời gian ngắn rồi lại chuyển đi nơi khác.

Nhà in và tòa soạn báo Xây Dựng trong hẻm là kỷ niệm tuổi thơ với Nguyễn. Hồi nhỏ, anh thường qua đó hằng ngày xin mấy trang truyện tranh Superman và Spiderman (can lại từ truyện tranh gốc để đăng) mang về đọc. Khi tòa báo đóng cửa, phần giáp với các căn nhà ở hẻm Phú Lộc chuyển qua làm các lớp học vườn trẻ.

Những đổi thay

Đến giờ, sau gần năm mươi năm sống ở xứ người, Nguyễn vẫn nhớ như in những ngày sống trong hẻm này cho đến năm 1978 lúc rời xa đất nước. Tuy xóm đa số là người Bắc nhưng trong xóm có một khu người Nam vây tường chung quanh.

Trong khu này có gia đình bác Tốt dạy đàn guitar “mô-đẹc” (modern). Bác lập ra một ban nhạc trẻ với hai cậu con trai và thêm hai thanh niên cũng trong khu đó. Ban nhạc có đủ tay trống, guitar bass, guitar điện và organ. Trong xóm còn có ban kèn thổi đám ma do một người con nhà bà Chánh Năng làm trưởng ban, thu hút tới 6 thanh niên trong xóm gia nhập. Nghe nói sau này ban kèn còn qua Campuchia và Thái Lan hành nghề. Người duy nhất trong xóm có chút tiếng tăm về âm nhạc là anh Bảo Ngọc dạy guitar classic cho Nguyễn năm lớp 8 và 9. Trước năm 1975, có lần anh trình diễn một Recital ở Hội Việt Mỹ.  Hôm sau có bài báo với tựa đề: Bảo Ngọc - Tiếng đàn bật máu! nói về sự thành công của buổi diễn. Khi xong, đầu ngón tay phải gảy đàn của anh có ngón rướm máu.  

Trên cánh đồng gần vườn rau Lộc Hưng có một gia đình người gốc Hoa là chú Tỷ có nhiều ruộng nhất ở đây. Trên đồng người dân trồng rau, bí, mướp, đậu, khoai, rau thơm, ớt, sả cung cấp cho chợ Nghĩa Hòa, chợ Bắc Hải và chợ Ông Tạ.   

Dấu vết chiến tranh trước 1975 lan dần đến mọi nhà dù sống ở vùng đô thị. Nguyễn có người cậu ruột tên Hoài đi lính Việt Nam Cộng hòa và bị thương. Cậu mất một mắt và miểng đâm sâu dưới da, được xem là may mắn khi bao nhiêu thanh niên bỏ mạng. Cậu giải ngũ đi học lại, trở thành kỹ sư hóa học và làm cho hãng dầu hỏa Esson của Mỹ. Qua năm sau cậu được cấp một căn nhà khá đẹp ở Thủ Đức dành cho sĩ quan cao cấp. Cậu mua một chiếc xe Datsun lên thành phố mua gạo, mắm, đồ tạp hóa về bán thêm ở nhà. Sau này cậu và cả nhà ra nước ngoài. 

Những đứa bé ở đường Thánh Mẫu ngày xưa. Ảnh tư liệu 


Do có cha chết trận, Nguyễn được vào học trường Quốc gia Nghĩa tử dành cho con binh lính tử trận từ niên khóa 1973 - 1974. Trường nằm trên đường Võ Tánh (nay là Hoàng Văn Thụ) đoạn giữa ngã tư Bảy Hiền và Lăng Cha Cả. Trường có 3 phân hiệu: phổ thông, kỹ thuật và tổng hợp (kết hợp chương trình phổ thông, các môn kỹ thuật cho nam, các môn nữ công gia chánh cho nữ và các môn canh nông trồng trọt cho cả nam và nữ). Học sinh ở xa được nội trú. Nguyễn vào phân hiệu tổng hợp, lớp 6. Tháng 4.1975, trường đóng cửa sớm, công bố danh sách học sinh được phần thưởng lớp và phần thưởng toàn trường, trong đó Nguyễn được hạng nhì toàn trường. Nếu mọi chuyện suôn sẻ, phu nhân Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu sẽ trao phần thưởng vào cuối tháng 5.1975. Nhưng chuyện đó đã không xảy ra.

Một hai năm sau ngày 30.4.1975, quán cà phê Thăng Long chuyển thành nơi sản xuất mì sợi khi gạo còn khan hiếm. Khi Nguyễn rời Việt Nam, nhà này vẫn còn sản xuất mì sợi. Chủ tiệm điện Nhật Quang đã ra nước ngoài sau 1975. Mẹ của Nguyễn để tránh đi vùng kinh tế mới (do chưa có việc làm) đã làm cho ông bà Quang Vinh khi tiệm Quang Vinh lớn như một siêu thị trên đường Cách Mạng Tháng Tám - cách ngã ba Ông Tạ chỉ độ hơn chục căn. Khi tiệm cà phê Thăng Long chuyển qua sản xuất mì sợi, bà cũng làm công cho tiệm này một thời gian.  

Sau năm 1975, sinh hoạt văn nghệ nhiều hơn nên ban nhạc nhà ông Tốt có đất dụng võ. Họ đàn hát nhiều bài trong các sinh hoạt thanh niên, nhớ nhất là những ca khúc như Guantanamera, Tình ca du mục, Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây

Khoảng thập niên 1990, Nguyễn trở về thăm lại xóm cũ. Mọi căn nhà trong hẻm Phú Lộc (nay là đường Phú Lộc) và đường Thánh Mẫu cũ bây giờ xây đẹp và cao hơn xưa nhưng có cảm giác bít bùng. Ai cũng xây nhà ra đến mép đường, không còn sân trước. Hàng xóm gần như ai ở nhà đó, không còn cởi mở như trước kia có giỗ chạp là mời nhau hoặc biếu chút đồ ăn. Nguyễn thấy thành phố phát triển tân tiến như những thành phố lớn của các nước văn minh. Điều chưa thay đổi là vẫn còn nhiều người chưa thoát khỏi cuộc sống nhọc nhằn, mọi thứ với họ vẫn xa hoa không với tới. 

Nguyễn có con trai nhỏ. Anh muốn đưa con về chơi để biết nhiều về quê hương, một quê hương đã khác nhưng là nơi anh từng gắn bó cả thời niên thiếu.

Phạm Công Luận