Thứ Hai, 14 tháng 9, 2026

“Détail d'un fort chinois couvrant la route de Bac-Ninh” (Chi tiết một đồn lũy Trung Hoa khống chế/bảo vệ con đường đi Bắc Ninh.) Bảo tàng George Eastman cũng xác nhận ảnh này thuộc bộ ảnh Hocquard, niên đại 1884–1885.

 “Tại sao năm 1884 lại có quân Thanh ở Bắc Ninh – tức ngay giữa miền Bắc Việt Nam?” Câu chuyện phía sau khá quan trọng, vì đây chính là một phần của cuộc đối đầu Pháp–Thanh dẫn tới Chiến tranh Pháp–Thanh 1884–1885.




1. Trước hết, chú thích bức ảnh là có cơ sở

Đây là ảnh của bác sĩ quân y Pháp Charles-Édouard Hocquard, trong bộ ảnh Le Tonkin – Vues photographiques, chụp trong khoảng 1884–1885.

Chú thích nguyên văn:

“Détail d'un fort chinois couvrant la route de Bac-Ninh”

nghĩa là:

“Chi tiết một đồn lũy Trung Hoa khống chế/bảo vệ con đường đi Bắc Ninh.”

Bảo tàng George Eastman cũng xác nhận ảnh này thuộc bộ ảnh Hocquard, niên đại 1884–1885.

Vì vậy, đây không phải là một đồn quân Nguyễn thông thường, mà người Pháp lúc đó xác định là công sự của lực lượng Trung Hoa.


2. Nhưng tại sao quân Thanh lại vào Bắc Kỳ?

Điểm mấu chốt nằm ở quan hệ Việt Nam – Trung Quốc thời Nguyễn.

Trong thế kỷ XIX, triều Nguyễn vẫn nằm trong hệ thống triều cống của nhà Thanh. Khi Pháp bắt đầu mở rộng quân sự ở Bắc Kỳ, triều đình Huế đã nhiều lần cầu viện nhà Thanh.

Đồng thời, Bắc Kinh coi việc Pháp chiếm Bắc Kỳ là một vấn đề an ninh ngay sát biên giới phía nam của Trung Quốc.

Đặc biệt sau khi Pháp đánh chiếm Hà Nội năm 1882, rồi mở rộng hoạt động quân sự, nhà Thanh bắt đầu đưa quân xuống Bắc Kỳ.

Một tài liệu nghiên cứu về cuộc chiến ghi nhận rằng vì Việt Nam vẫn được Trung Quốc xem là một nước chư hầu/triều cống, những thắng lợi của Pháp ở Bắc Kỳ khiến nhà Thanh lo ngại Pháp sẽ áp sát biên giới phía nam Trung Quốc.


3. Bắc Ninh năm 1884 thực sự có khoảng 20.000 quân Thanh

Đây là chi tiết rất đáng chú ý.

Đầu năm 1884, quân Pháp chuẩn bị đánh Bắc Ninh. Khi ấy Bắc Ninh không chỉ có quân Nguyễn.

Quân Quảng Tây của nhà Thanh đã đóng tại khu vực này với khoảng 20.000 quân, dưới quyền Tổng đốc Quảng Tây Từ Diên Húc (徐延旭); ông này đóng tại Lạng Sơn và giao việc chỉ huy trực tiếp ở Bắc Ninh cho các tướng dưới quyền.

Quân Thanh bố trí:

  • một bộ phận dọc đường cái quan phía tây nam Bắc Ninh;
  • một bộ phận ở Trung Sơn – Đáp Cầu;
  • xây dựng nhiều công sự, đồn lũy, trận địa pháo;
  • phối hợp với lực lượng Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc.

Có nguồn nghiên cứu ghi nhận Bắc Ninh lúc ấy là một căn cứ lớn của quân Thanh, với khoảng 20.000 quân.

Vì vậy bức ảnh ông đưa lên hoàn toàn phù hợp với bối cảnh quân sự lúc đó.


4. Và đây chính là nguyên nhân dẫn đến trận Bắc Ninh 1884

Pháp không chấp nhận việc quân Thanh hiện diện ở Bắc Kỳ.

Sau khi chiếm Sơn Tây cuối năm 1883, quân Pháp tiếp tục tiến về Bắc Ninh.

6–24/3/1884: Chiến dịch Bắc Ninh.

Quân Pháp khoảng 10.000–11.000 người tiến đánh lực lượng Thanh khoảng 20.000 quân, cộng với một số lực lượng Cờ Đen.

Ngày 12/3/1884, Bắc Ninh thất thủ.

Quân Thanh rút chạy và bỏ lại nhiều vũ khí, trong đó có cả pháo Krupp mới.

Điều đặc biệt là sau thất bại này, Pháp tiếp tục tiến lên và chiếm thêm Hưng Hóa, Thái Nguyên...


5. Có một điều rất thú vị: lúc ấy Pháp và Thanh chưa chính thức tuyên chiến

Đây là chỗ lịch sử khá phức tạp.

Năm 1884, tình trạng lúc đầu là một kiểu “chiến tranh không tuyên chiến”.

Sau trận Bắc Ninh, hai bên còn cố gắng thương lượng.

Ngày 11/5/1884, Pháp và Trung Quốc ký Hiệp ước Thiên Tân, theo đó Trung Quốc đồng ý rút quân khỏi Bắc Kỳ và thừa nhận sự bảo hộ của Pháp đối với Việt Nam.

Nhưng việc rút quân không diễn ra suôn sẻ.

Ngày 23/6/1884, quân Pháp và quân Thanh đụng độ tại Bắc Lệ (Bắc Lệ/Bắc Lệ, Lạng Sơn).

Sau đó quan hệ hai nước hoàn toàn đổ vỡ.

Đến tháng 8/1884, chiến tranh Pháp–Thanh chính thức bùng nổ.


6. Vì vậy, cần hiểu “quân Thanh ở Bắc Ninh” như thế nào?

Không nên hiểu đơn giản rằng:

“Nhà Thanh sang chiếm Bắc Việt Nam.”

Mà chính xác hơn là:

Trong bối cảnh triều Nguyễn vẫn thuộc hệ thống triều cống của nhà Thanh, khi Pháp dùng quân sự mở rộng quyền kiểm soát Bắc Kỳ, nhà Thanh đưa quân sang hỗ trợ phía Việt Nam và đồng thời bảo vệ lợi ích, an ninh của chính Trung Quốc ở biên giới phía nam.

Nhưng trên thực tế, quân Thanh đã trực tiếp tham chiến chống quân Pháp trên đất Bắc Kỳ.

Vì vậy trong các tài liệu Pháp người ta thấy những cụm từ như:

  • troupes chinoises – quân Trung Hoa;
  • armée du Kouang-Si – quân Quảng Tây;
  • fort chinois – đồn/lũy Trung Hoa;
  • soldats réguliers chinois – binh lính chính quy Trung Hoa.

Bộ ảnh của Hocquard thậm chí còn có cả ảnh ghi “Soldats réguliers chinois” – binh lính chính quy Trung Hoa, “Fort chinois à Hong-Hoa”, “Fort chinois à Dong-Son”, và “Détail d'un fort chinois couvrant la route de Bac-Ninh”.

Một chi tiết rất đáng chú ý về chính bức ảnh ông gửi

Dòng chữ dưới ảnh là “Bac-Vinh” hay “Bac-Ninh”?

Tôi kiểm tra bản gốc của bộ ảnh Hocquard thì xác nhận là:

“…couvrant la route de Bac-Ninh”

tức đường đi Bắc Ninh, không phải Bắc Vinh.

Cho nên nếu ông định đăng bức ảnh này lên Facebook, tôi đề nghị sửa chú thích thành:

Đồn lũy của quân Thanh khống chế đường đi Bắc Ninh, 1884.
Ảnh của bác sĩ quân y Pháp Charles-Édouard Hocquard.

Vì sao quân Thanh lại có mặt ở Bắc Kỳ?
Năm 1884, khi Pháp tiến hành chiến dịch đánh Bắc Ninh, khoảng 20.000 quân Quảng Tây của nhà Thanh đã hiện diện tại Bắc Kỳ, cùng lực lượng Cờ Đen chống quân Pháp. Bắc Ninh trở thành một trong những chiến trường quan trọng của cuộc đối đầu Pháp–Thanh, ngay trước khi Chiến tranh Pháp–Thanh 1884–1885 chính thức bùng nổ.

'Cú sốc' của cựu hiệu trưởng đại học ngày đầu vào Sài Gòn

 "Sự phát triển của TP sau này do chính những công dân được sinh ra ở đây, những công dân chọn nơi này để làm việc và sinh sống quyết định". 

-  PGS.TS Nguyễn Kim Hồng, nguyên Hiệu trưởng Trường ĐH Sư phạm TP.HCM, là một trong hàng ngàn trí thức được điều động vào giảng dạy, xây dựng miền Nam sau năm 1975.

Năm 1978, khi vừa tốt nghiệp ĐH Sư phạm Hà Nội, ông Nguyễn Kim Hồng được Bộ GD-ĐT phân công vào trường ĐH Sư phạm TP.HCM công tác.

“Cảm giác đầu tiên là rất lạ, mà nói thật là cú sốc. Tôi không nghĩ là Sài Gòn lại lớn và đẹp đến như vậy.

Khi vào làm việc, sự khác biệt đầu tiên mà tôi thấy là cơ sở vật chất. Ở Hà Nội, nơi tôi học, phòng thực hành địa chất nhỏ và ít mẫu vật hơn nhiều so với tại ĐH Sư phạm TP.HCM. Giảng đường với các camera truyền hình ảnh trực tiếp với tôi cũng là điều chưa có ở miền Bắc thời điểm đó”, PGS.TS Hồng nói.

{keywords}
PGS.TS Nguyễn Kim Hồng

Theo thầy Hồng, hình ảnh ấn tượng đầu tiên là sinh viên nữ mặc áo dài đi học, điều chỉ được thấy ở các hội diễn văn nghệ của sinh viên miền Bắc.

"Sinh viên Sài Gòn rất lễ phép. Đa phần sinh viên Sài Gòn thời điểm đó đều xưng con với tôi, mặc dù tôi chỉ hơn họ 3-4 tuổi thôi. Việc khoanh tay để chào khách, chào thầy, cô ở miền Bắc được coi là hiếm nhưng ở Sài Gòn lại như một điều tất nhiên. Tôi cảm giác nhà trường và các gia đình Nam Bộ chú ý nhiều hơn đến việc dạy lễ cho con em mình”, PGS.TS Hồng nói.

{keywords}
Nữ sinh Sài Gòn trong tà áo dài. Ảnh: Bill Mullin

Theo vị nguyên hiệu trưởng, nguyên nhân, có thể do miền Bắc tuy có thời gian dài chịu ảnh hưởng của lễ giáo phong kiến nhưng sau năm 1954, sự thay đổi lại quá nhanh chóng khiến những lễ giáo lẽ ra cần được duy trì lại bị mai một, trong khi ở miền Nam vẫn giữ được.

Nói về đồng nghiệp, thầy Hồng cho hay, phần lớn trí thức ở Sài Gòn trước năm 1975 mà ông gặp đều được đào tạo hoặc tu nghiệp ở Anh, Mỹ, Pháp... nói chung là ở các nước phát triển. 

“Trong lĩnh vực khoa học xã hội, theo tôi những giảng viên trước 1975 ở miền Nam được đào tạo tốt hơn. Trừ một số giảng viên từ các trường đại học ở miền Bắc tăng cường cho các đại học phía Nam có trình độ phó tiến sĩ, tiến sĩ khoa học, còn lại phần lớn là sinh viên vừa tốt nghiệp đại học.

Những trí thức còn ở lại khi đó thường ít nói về quan điểm riêng, đặc biệt là vấn đề chính trị. Có tình trạng thâm hụt khá lớn trong giới trí trức khoa học xã hội có trình độ cao ở miền Nam lúc đó khi nhiều người đã rời bỏ đất nước”, thầy Hồng nhớ lại.

Xách 20kg gạo trong vali bị “bắt”

Theo thầy Hồng, cuộc sống tầng lớp trí thức khi mới bước chân vào Sài Gòn rất khó khăn. Sinh viên mới ra trường chỉ hưởng 85% của bậc một (64 đồng/tháng), phải sống rất tằn tiện, nghỉ hè không có tiền về quê, cũng chẳng đủ tiền mua tài liệu, sách vở.

Những năm ấy, giảng viên phải đi trồng củ mì, tăng gia sản xuất ở Bình Phước. Ngày Tết, cán bộ công đoàn trường phải lặn lội xuống miền Tây mua gạo thơm, nếp, thịt heo, dưa hấu…cho cán bộ ăn Tết. Việc mua lương thực và thực phẩm không giản đơn vì chính sách “ngăn sông, cấm chợ”.

Nhiều trí thức ở miền Nam lúc đó còn phải bán cả đồ dùng trong gia đình như chén, đĩa... để có thể đảm bảo cuộc sống hàng ngày.

{keywords}
Thầy Hồng kể lại những câu chuyện ngay khi mới đặt chân vào miền Nam

“Còn nhớ có lần đi xuống dạy ở Cà Mau, tôi đã dùng toàn bộ tiền mời giảng và lương để mua gạo thơm và nếp, bỏ vào vali mang về ăn Tết. Giữa đường về thì bị quản lý thị trường kiểm tra, bắt lại. May tôi là giáo viên lại có có công lệnh đi dạy nên họ thông cảm mà cho qua. Thế là có một cái Tết có gạo trắng, nếp thơm”, thầy Hồng nhớ lại.

Về cuộc sống hàng ngày, thầy Hồng kể, điều ông thích nhất là con người Nam Bộ không can thiệp vào chuyện cá nhân. Họ không đưa chuyện cá nhân, cuộc sống mưu sinh vào công việc, chính trị...đó là điểm rất khác đối với người miền Bắc.

"Tôi cho rằng trước năm 1975, họ đã được dạy về những giá trị cá nhân của con người nên không bao giờ để chuyện này xen vào công việc, vào đời sống chính trị. Đó là những điểm văn hóa rất khác với người miền Bắc”, lời thầy Hồng.

{keywords}
Trường ĐH Sư phạm TP.HCM xưa. Ảnh: Tư liệu

Thầy Hồng cho rằng, những năm đầu sau khi đất nước thống nhất, những sinh viên ưu tú, nhiệt huyết đã được chọn, bù lấp cho khoảng trống thiếu giáo viên. Đội ngũ trí thức miền Bắc nói chung và giáo viên nói riêng đã làm “tròn vai” tại thời điểm đó. Sau này, cùng đội ngũ trí thức ở lại khi đó góp phần làm cho thành phố vượt khó và phát triển như hiện nay.

“Cũng giống như các địa phương khác, đội ngũ tri thức luôn có những đóng góp lớn vào sự phát triển kinh tế, xã hội. Họ có những đóng góp thiết thực tại thời điểm đó.

Tuy nhiên, sự phát triển của thành phố sau này do chính những công dân được sinh ra ở đây, những công dân chọn nơi này để làm việc và sinh sống quyết định. Chính họ mỗi ngày làm cho TP trở nên đáng sống hơn”, PGS.TS Nguyễn Kim Hồng nói.

Chuyện với một nhà tư sản Sài Gòn như tôi biết

 

Khác với tất cả những gì tôi đã hình dung một nhà tư sản được mô tả bóc lột, quan cách, ăn chơi, Lê Hoàng trước mặt tôi là một người hiểu biết, lịch lãm, nhân từ và phóng khoáng.

 - Khác với tất cả những gì tôi đã hình dung một nhà tư sản được mô tả bóc lột, quan cách, ăn chơi, Lê Hoàng trước mặt tôi là một người hiểu biết, lịch lãm, nhân từ và phóng khoáng.

Ngày 30/4/1975, Sư đoàn 5 tiến vào giải phóng Long An và quân quản Sài Gòn. Một tháng sau, chúng tôi lại hành quân về đứng chân ở căn cứ Bến Kéo (Tây Ninh) khi biên giới Việt Nam và Campuchia đang biến động.

Để chuẩn bị cho Đại hội thi đua Sư đoàn vào cuối năm 1975, tôi được Ban tuyên huấn sư đoàn phân công trở lại Sài Gòn in tập sách “Dũng sỹ đường 4” nói về những chiến công của Sư đoàn trong chiến dịch Hồ Chí Minh, làm nhiệm vụ cắt đứt đường 4, cô lập miền Tây, tiến vào giải phóng Sài Gòn.

Tôi được Ban quản lý in ấn TP.HCM lựa chọn và giới thiệu đến in sách tại nhà in Khắc Hạnh số 318 đường Trần Quý Cáp (nay là đường Võ Văn Tần), quận 3, TP.HCM.

{keywords}
Tác giả Lê Doãn Hợp (hàng đứng, thứ hai từ phải sang) và đồng đội trước giờ tiến vào Sài Gòn. Ảnh do tác giả cung cấp

Tại đây, tôi được tiếp cận và làm việc nhiều với nhà tư sản trẻ Lê Hoàng. Khác với tất cả những gì tôi đã hình dung về một nhà tư sản qua sách báo và thông tin truyền miệng là bóc lột, quan cách, ăn chơi… Lê Hoàng trước mặt tôi là một con người hiểu biết, lịch lãm, nhân từ và phóng khoáng.

Là một cán bộ tuyên huấn, tôi say sưa định hướng cho anh về CNXH và CNCS trong tương lai của Việt Nam. Anh nghe rất chăm chú, tiếp thu chứ không bình luận.

Tôi cứ nghĩ là anh đã ngấm dần những nguyên lý cơ bản nhất của chủ nghĩa Mác Lênin. Sau hơn 2 tuần in sách, khi sắp chia tay để trở về đơn vị, anh mời tôi lên Lái Thiêu (Bình Dương - Thủ Dầu Một) xem trang trại cây ăn quả khoảng 10ha của anh.

Có 7 công nhân vun trồng chăm sóc. Ngồi ở tầng 2, tòa nhà 3 tầng nằm giữa một rừng cây ăn quả, anh tâm sự với tôi nhiều điều thú vị, mà đã có lần tôi đem ra phát biểu tại kỳ họp thứ 5 BCH TƯ Đảng khóa 9.

Lê Hoàng trầm tư nói: Bức tranh về CNXH và CNCS mà anh Hai (Lê Hoàng gọi tôi là anh Hai vì biết tôi là con đầu của gia đình) đã nói với tôi là một bức tranh rất đẹp, nhưng trở thành hiện thực thì không dễ. Vì hơn nửa năm sau ngày giải phóng, nền kinh tế Sài Gòn cứ sa sút mãi, chưa có điểm dừng. Đặc biệt những người giỏi, người giàu đang ngấm ngầm rủ nhau vượt biên.

Một dân tộc mà người giàu không yên ổn làm ăn, tìm cách trốn chạy ra nước ngoài thì đất nước khó thịnh, dễ suy. Chế độ của anh Hai có thể trẻ em đỡ hư hơn, người già được quan tâm hơn, nhưng làm giàu trước mắt khó hơn. Vì thế nguồn lực để đóng góp cho Nhà nước và giúp người nghèo sẽ hạn hẹp hơn.

3 dấu ấn

Nửa tháng làm việc và quen biết Lê Hoàng, tôi còn có thêm 3 dấu ấn khó quên:

Một hôm tôi đang ăn sáng, thấy anh gọi một công nhân trong số hơn 70 công nhân trong nhà máy mà anh quản lý đến gặp và nói: Hôm nay là ngày giỗ cụ thân sinh của chú, tôi cho chú nghỉ một ngày để lo hương khói cho cụ, tôi có chuẩn bị một ít trái cây và chai rượu, nhờ chú đặt lên bàn thờ kính viếng cụ.

Người công nhân cảm động nhận quà, cúi gập người xuống cảm ơn cả anh và tôi. Tôi cảm động về hành vi đẹp của một ông chủ đối với người giúp việc.

Một kỷ niệm nữa là ngày 16/3/1976, tôi được về Bắc nghỉ phép sau gần 9 năm xa nhà. Chúng tôi chờ lịch bố trí xe ở trạm quân chính điều phối T67 (nay là nhà khách Quân khu 7). Chờ 2 ngày vẫn chưa có xe để đi, dù đã sắp xếp xong đội hình quân nhân cho từng xe một.

Sang ngày thứ 3, tôi tranh thủ đến thăm Lê Hoàng, hai anh em trò chuyện rồi ăn trưa, gần 3 giờ chiều tôi mới trở về trạm, thì được tin anh em đã lên xe ra Bắc từ lúc 10 giờ. Đồ đạc của tôi anh em đã đưa hết lên xe, tôi chỉ kịp hỏi số xe, rồi vẫy xe lam một mạch chạy đến trao đổi với Lê Hoàng.

Thấy tôi lo lắng, Lê Hoàng cười vui và trấn an: Anh Hai yên tâm, chờ tôi xử lý mấy việc xong, tôi sẽ lấy xe nhà chở anh Hai đuổi kịp đoàn. Hai anh em chạy cả ngày lẫn đêm, mãi đến gần TP Nha Trang mới gặp đoàn. Tôi lên xe của đơn vị, chia tay Lê Hoàng trong nỗi niềm đầy cảm mến.

Một dấu ấn nữa là khi tôi in xong sách trở về đơn vị, Lê Hoàng cho xe ô tô chở cả người và sách về tận Tây Ninh, có cả hoa quả, bánh kẹo, rượu bia, thuốc lá nói là quà Sài Gòn để anh Hai vui vẻ với đồng đội sau 15 ngày đi công tác xa, trở về đơn vị.

Đó là dấu ấn của một nhà tư sản dân tộc, có trí thức thời cuộc, luôn quan tâm đến người lao động, chu đáo với khách hàng và rất quý trọng Bộ đội cụ Hồ.

Về đất Bắc bề bộn bao việc sau giải ngũ, mãi đến đầu năm 1980, biết tôi thông thạo đất và người phương Nam, các đồng chí lãnh đạo Sở Xây dựng Nghệ Tĩnh cử tôi đi mua gạo cải thiện đời sống cho cơ quan.

Tôi mới có dịp tìm và ghé thăm Lê Hoàng. Tôi đến đúng số nhà và ngỡ ngàng khi đọc dòng chữ: “Hợp tác xã tiêu thụ quận 3”. Tôi e ngại không dám hỏi thăm gia đình Lê Hoàng qua những người bán hàng tại đó mà bước sang ngôi nhà đối diện bên kia đường, nơi trước đây là quán cà phê mà tôi và Lê Hoàng thường hay ngồi mỗi sáng.

Tôi hỏi bà chủ về Lê Hoàng và nhà in Khắc Hạnh. Bà cho biết, sau khi ông nội của Lê Hoàng qua đời, lo hương khói, lăng mộ cho ông xong, cả nhà Lê Hoàng đã vượt biên sang Tân Gia Ba (Singapore ngày nay) từ đầu năm 1979.

Tôi lặng người đi vì hối tiếc, thế là tôi đã mất một người bạn tốt, thành phố mang tên Bác mất một nhà tư sản trẻ yêu nghề và tâm huyết đối với đất nước, hơn 70 công nhân không có việc làm và mất đi một ông chủ đáng quý.

Hơn 40 năm rồi, dấu ấn về một nhà tư bản trẻ Sài Gòn vẫn hiện hữu trong tôi.

Tôi viết mấy dòng này và nuôi hy vọng một ngày nào đó tôi được gặp lại Lê Hoàng và những người thân của anh; với tâm thế là Việt kiều yêu nước trở về đầu tư xây dựng quê hương trong sự nghiệp đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế hôm nay.

Lê Doãn Hợp

Chủ tịch Hội Truyền thông số Việt Nam, nguyên cựu chiến binh Sư đoàn 5, Quân khu 7

Thứ Sáu, 11 tháng 9, 2026

LÀM SAO PHÂN BIỆT ĐỂ VIẾT “DÒNG” và “GIÒNG

   


 GS Trần Huy Bích

Chúng ta cùng biết các nhà văn trong Tự Lực Văn Đoàn viết “giòng sông, giòng nước”:
Nhất Linh: Giòng Sông Thanh Thủy
Tú Mỡ: Giòng Nước Ngược
Thạch Lam: Theo Giòng
Các nhà văn, trí thức lớp sau viết “dòng sông, dòng nước”:
Doãn Quốc Sỹ: Dòng Sông Định Mệnh (1959)
Nhật Tiến: Tặng Phẩm Của Dòng Sông (1972)
Đằng Phương Nguyễn Ngọc Huy: Dòng Nước Sông Hồng (viết 1945, in vào thi tập 1985)Ngô Thế Vinh: Mekong, Dòng Sông Nghẽn Mạch (2007)
Vậy chúng ta nên theo các nhà văn lớp trước hay lớp sau?
1) Trước hết, ba cuốn tự điển Việt ngữ có thẩm quyền nhất của Việt Nam cho tới hiện nay: Việt Nam Tự Điển của Hội Khai Trí Tiến Đức (trang 155), Tự Điển Việt Nam của Lê Văn Đức & Lê Ngọc Trụ (quyển Thượng, trang 376), Đại Nam Quấc Âm Tự Vị của Huỳnh Tịnh Của (quyển I, trang 243) cùng viết là “dòng”. Cuốn Việt Ngữ Chánh Tả Tự Vị do nhà ngữ học Lê Ngọc Trụ biên soạn cũng viết “dòng” (trang 141).
2) Các tự điển do những học giả có uy tín khác biên soạn như Vietnamese-English Dictionary của giáo sư Nguyễn Đình Hòa cũng viết “dòng” (trang126). Giúp đọc Nôm và Hán Việt của linh mục Trần Văn Kiệm (trang 388) cũng viết như thế. Hầu hết tự điển Việt ngữ xuất bản ở trong nước hiện nay và tự điển chữ Nôm (ở trong nước cũng như ở hải ngoại) cùng viết “dòng”:
Tự điển chữ Nôm trích dẫn (Westminster, CA, 2009): Trang 299.
Tự điển chữ Nôm dẫn giải (Hà Nội, 2012): Trang 452.
3) Các nhà biên soạn tự điển có lý do để viết “dòng” (với D). Trong chữ Nôm, chữ ấy được viết như sau:
Phía trước là bộ Thủy 氵(nước) để cho biết có liên quan đến nước.
Phía sau là chữ Dụng 用 (dùng) để chỉ cách phát âm.
Vậy đó là một chữ “có liên quan đến nước” và phát âm giống chữ “dụng” (trong chữ Nôm đọc là “dùng”). Vì phát âm giống “dụng” và “dùng”, chúng ta cùng thấy âm “dòng” gần và tự nhiên hơn. Khi phát âm là “dòng” thì viết với D là đúng.
Vì lẽ đó, những ai năng tra cứu tự điển hoặc biết qua chữ Nôm (các giáo sư Doãn Quốc Sỹ, Trần Trọng San… và những người tốt nghiệp Văn khoa sau các ông) có khuynh hướng viết là “dòng”.
Giáo sư/nhà văn Doãn Quốc Sỹ là con rể nhà thơ Tú Mỡ. Là một giáo sư Quốc văn, dạy về Tự Lực Văn Đoàn, ông biết rất rõ nhạc phụ đã viết Giòng Nước Ngược (cũng như Nhất Linh, Thạch Lam đã viết Giòng Sông Thanh Thủy, Theo Giòng) nhưng ông không theo. Trong cương vị một nhà giáo, ông viết Dòng Sông Định Mệnh, vì nghĩ rằng như thế đúng hơn. Nhà văn Nhật Tiến có giao tình thân với văn hào Nhất Linh. Ông là người đọc lời vĩnh biệt khi hạ huyệt trong tang lễ Nhất Linh ở Sài Gòn ngày 13-7-1963. Tuy biết rất rõ Nhất Linh đặt tên cho tác phẩm cuối đời của mình là Giòng Sông Thanh Thủy, năm 1972 Nhật Tiến vẫn đặt tên cho một tập truyện của ông là Tặng Phẩm của Dòng Sông.
Trong Việt Nam thi văn hợp tuyển, khi cho in các tác phẩm văn học, giáo sư Dương Quảng Hàm cũng viết “dòng”:
– Sông Lục đầu sáu khúc nước chảy xuôi một dòng (Ca dao)
– Bình bạc vỡ tuôn đầy dòng nước (bản dịch Tỳ bà hành)
Khi phiên âm Truyện Kiều, các học giả Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim, Đào Duy Anh cũng đều viết “dòng”:
– Nao nao dòng nước uốn quanh (câu 55)
– Đem mình gieo xuống giữa dòng trường giang (câu 2636)
Các học giả của miền Nam trước 1975 như giáo sư Trần Trọng San trong cuốn Văn Học Trung Quốc Đời Chu Tần, cũng luôn luôn viết: “ngược dòng, xuôi dòng, dòng dõi…”.
4) Tại sao các nhà văn trong Tự Lực Văn Đoàn viết “giòng”?
Khi các nhà văn trong Tự Lực Văn Đoàn viết Giòng Nước Ngược và Theo Giòng, tuy Tự Điển Việt Nam của Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ; cùng Việt Ngữ Chánh Tả Tự Vị của Lê Ngọc Trụ chưa ra đời, nhưng hai bộ tự điển của Huỳnh Tịnh Của và Hội Khai Trí Tiến Đức đã xuất hiện (1895 và 1931). Rất có thể các vị không lưu tâm đúng mức đến bộ tự điển của Huỳnh Tịnh Của (xuất bản ở trong Nam), nhưng nhiều phần vì các vị có thành kiến với Hội Khai Trí Tiến Đức. Báo Phong Hóa đã đăng rất nhiều thơ văn giễu cợt, châm biếm Hội này. Trong khung cảnh ấy, việc theo những đề nghị về phương diện chính tả do tự điển Khai Trí Tiến Đức đưa ra là điều khó xảy ra.
5) Tự Lực Văn Đoàn cũng có những sai lầm khác về phương diện chính tả.
Khi xuất bản lần đầu năm 1936, tập truyện ngắn của Khái Hưng mà nay chúng ta gọi là “Dọc Đường Gió Bụi” được in với nhan đề Giọc Đường Gió Bụi. Thời nay chúng ta cùng biết rằng viết như thế là sai. Câu đầu bài “Chí Làm Trai” của Nguyễn Công Trứ vẫn được phiên âm là: Vòng trời đất dọc ngang, ngang dọc.
Tự Lực Văn Đoàn có những đóng góp rất quý giá về phương diện văn học và xã hội. Về văn học, đóng góp của Tự Lực Văn Đoàn cho nền văn xuôi Việt Nam (và cho cả Thơ Mới) rất đáng kể. Nhưng cách viết chữ quốc ngữ ở thời Tự Lực Văn Đoàn chưa hoàn hảo về phương diện chính tả. Đọc lại báo Phong Hóa, chúng ta thấy lỗi chính tả khá nhiều. Vì những lẽ ấy, tuy vẫn nên viết tên các tác phẩm của Nhất Linh, Tú Mỡ, Thạch Lam là Giòng Sông Thanh Thủy, Giòng Nước Ngược, Theo Giòng (đó là những danh từ riêng, tên các tác phẩm đã có địa vị trong văn học sử), chúng ta vẫn nên viết “dòng” (dòng nước, dòng dõi, dòng tu …) trong những trường hợp khác.
+ Góp ý của nhà văn Nhật Tiến, California:
Dĩ nhiên ta tôn trọng các tác phẩm đã in thành sách như của Nhất Linh (Giòng Sông Thanh Thủy), Tú Mỡ (Giòng Nước Ngược)…, và biết ơn công trình làm mới văn chương của Tự Lực Văn Đoàn từ giữa thế kỷ trước, nhưng phải nói rằng trong hai cơ quan ngôn luận của văn đoàn này, tờ Phong Hóa và tờ Ngày Nay hãy còn chứa đầy rẫy lời văn thô sơ hay lỗi chính tả. Như một số mục chính trên tờ Phong Hóa đã dùng những từ mà cho đến nay không còn ai dùng nữa như “Chuyện Ngắn” thay vì “Truyện Ngắn”, “Từ Nhỏ Đến Nhớn” thay vì “Từ Nhỏ Đến Lớn”, “Hạt Đậu Dọn” thay vì “Hạt Đậu Nhọn”, tòa soạn quảng cáo: “Xem Phong Hóa số Tết, 20 trang. In mùi, có bìa giấy trắng” thay vì “Xem Phong Hóa số Tết, 20 trang. In mầu, có bìa giấy trắng”… Cho nên tôi hoàn toàn đồng ý với những nhận định xác đáng của anh Trần Huy Bích về việc viết chữ “dòng sông,” thay vì viết “giòng sông”.
+ Góp ý của bác sĩ Hà Ngọc Thuần, Brisbane, Úc:
Bài viết của Anh Trần Huy Bích có thể gọi là “tường-tận”: Tường là nói rõ ràng, và tận là đã nói tới cùng. Có hai hệ-luận như sau: một là trong tương-lai chúng ta nên cùng đồng ý viết “dòng”, nhưng vì Việt Nam không có Hàn Lâm Viện để quy định chính tả nên việc này tuy dễ mà khó. Vả lại trong văn chương chẳng nên có sự bức bách, bắt người viết phải theo ý kiến mình, dù đó là ý kiến của số đông. Cũng không nên có sự chê trách vội vã đối với một bài văn vì một vài “lỗi” chính tả mà quên đi ý tưởng của toàn thể bài viết. Việc này thường đưa đến những mối bất hòa không cần thiết. Hai là sau này khi tái bản chúng ta có dám, hay có nên, thay đổi tựa đề của tác giả mà in là “Dòng Sông Thanh Thủy” (Nhất Linh), “Theo Dòng” (Thạch Lam) và “Dòng Nước Ngược” (Tú Mỡ), hay là chúng ta bắt buộc phải tôn trọng các tác giả và giữ nguyên tựa đề như đã viết trong quá khứ.
+ Góp ý của nha sĩ Nguyễn Thị Mỹ Ngọc, Columbus, Ohio:
Bản thân tôi nhiều khi cũng lúng túng vì chữ “dòng sông” và “giòng sông”. Cám ơn anh Huy Bích đã tra cứu và giảng giải rất cặn kẽ. Từ nay tôi sẽ dùng chữ “dòng” mà không còn phải lưỡng lự gì nữa. Còn chữ “giòng” coi như chữ cổ, vì ngôn ngữ theo thời gian có thể đọc khác đi một chút, như “ông trời” ngày trước ta gọi là “ông giời” vậy.
+ Góp ý của nhà văn Huy Văn Trương, Bellflower, California:
Tôi thường viết “dòng sông, dòng dõi, dòng họ” vì tôi dựa theo tự điển của Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ do nhà sách Khai Trí xuất bản năm 1970 tại Sài Gòn. Trong cuốn tự điển này không có chữ “giòng” nào hết. Tôi dùng cuốn tự điển này vì tôi thấy nó tạm đủ so với nhiều cuốn khác. Tuy vậy trong đó cũng có nhiều chữ, theo tôi nghĩ vẫn còn trong vòng tranh cãi, như người ta thường viết là “chia sẻ” thì trong Tự Điển Lê Văn Đức viết là “chia xẻ”… Từ trước tới giờ tôi viết “dòng sông” vì theo tự điển nhưng vẫn thấy lấn cấn thế nào đó. Đọc bài viết của anh xong, tôi không còn thấy lấn cấn nữa, mọi thắc mắc đã được giải tỏa. Đề nghị anh đăng bài này lên nhiều tờ báo để mọi người cùng được đọc.
+ Góp ý của cô Nguyễn Thị Ngọc Dung, cựu giáo sư Trung Học Võ Tánh, Nha Trang:
Xin cảm ơn anh đã gửi một câu chuyện thú vị về văn chương, ngôn ngữ Việt Nam, cách viết chữ “Giòng” hay “Dòng”. Ngọc Dung cũng xin mạo muội chen vào, bày tỏ một vài ý kiến riêng, nho nhỏ: Ngọc Dung cũng quen với chữ “Dòng” để chỉ “dòng sông” hay “dòng đời,” và chữ “giòng” để chỉ “giòng dõi”. Tuy nhiên, theo thiển ý, dù viết “giòng đời” hay “dòng dõi” cũng vẫn được. Điều quan trọng là KHÔNG SAI về ý nghĩa. Riêng về chữ “dòng” hay “giòng,” nếu suy từ chữ Nôm (dùng chữ “Dụng” thêm bộ “Thủy”) thì “dòng” nghe có lý hơn là “giòng”.
THB, Jun 12, 2021
Tố Ngọc Trần Sưu tầm

Thứ Năm, 10 tháng 9, 2026

MỘT SỐ NÉT VỀ HÀNH NGHỀ Y SĨ TẠI MIỀN NAM TRƯỚC 1975

 Trần Văn Nam

Trong bài dưới đây, tôi xin trình bày về một số nguyên tắc, mà chúng ta thường gọi là quy chế hành nghề y khoa và các luật lệ hành nghề, các nguyên tắc đạo đức mà các bác sĩ hay các cá nhân hành nghề trong các ngành liên hệ với y khoa phải tuân theo.

Qua cách thức đào tạo và quy chế hành nghề chặt chẽ, người ta mới biết những người theo ngành học y khoa, nhất là các bậc đàn anh, đàn chị, đã phải vất vả như thế nào nên khi ra hải ngoại, hầu hết các vị đó đã thi tương đương và hành nghề rất thành công rực rỡ và gây tiếng tốt cho người Việt Nam tại hải ngoại.

Trước năm 1975, miền Nam Việt Nam tức Việt Nam Cộng Hòa với dân số gần 20 triệu người, mà chỉ có gần 2500 bác sĩ mà thôi, đa số lại bị động viên vì chiến tranh (trưng tập), phục vụ trong các đơn vị quân đội, chỉ có một số ít được phục vụ tại các bệnh viện thuộc Bộ YTế hay mở phòng mạch tư toàn thời gian sau khi giải ngũ hay hưu trí (tỉ lệ là 1bs/10.000 dân).

Có nhiều người thắc mắc về các danh xưng của các bác sĩ, lúc thì là y sĩ, lúc là bác sĩ, lại thêm dân y, quân y, trưng tập… vì họ không hiểu rõ về hệ thống tổ chức của ngành y khoa, nhất là do hệ thống quân y lại song hành với ngành dân y, thế nào là y sĩ, thế nào là quân y sĩ (y sĩ chuẩn tướng, y sĩ đại tá, y sĩ trung úy…) họ không phải là bác sĩ sao? Bài viết nầy xin được phân tích và trả lời các vấn đề trên.

Thực sự, trong quân đội và dân sự chỉ có chuyên nghiệp y sĩ là người điều trị bệnh nhân (medecin, hệ thống Pháp; physician, hệ thống Mỹ). Còn danh xưng bác sĩ chỉ là tước vị của các người tốt nghiệp y sĩ sau khi trình luận án và được cấp bằng tiến sĩ y khoa (docteur en medecine, doctor of medicine, MD). Khi hành nghề trị bệnh, những vị nầy vẫn là y sĩ (nghiệp vụ) và tước vị tiến sĩ của họ là tiến sĩ y khoa (mà Việt Nam gọi là bác sĩ), vậy chữ bác sĩ chỉ có nghĩa là tiến sĩ y khoa. Tóm lại, với Việt Nam Cộng Hòa, các người hành nghề chữa bệnh của y khoa, của dân y hay quân y đều gọi là y sĩ, trong đó có những người đã trình luận án và được cấp bằng Tiến Sĩ Y Khoa Quốc Gia (National Doctor of Medecine).

Cũng xin phân biệt rõ là miền Nam (Việt Nam Cộng Hòa) trước 1975 không hề có những y sĩ xuất thân từ y tá với trình độ rất thấp như trong chế độ cộng sản. Trái lại, tại miền Nam chỉ có ngành trợ y để huấn luyện cấp tốc một số sĩ quan làm nhiệm vụ tải thương trên chiến trường, vì không đủ y sĩ, bác sĩ để đảm nhiệm công tác nầy

Chương Trình Đào Tạo Các Bác Sĩ Ở Miền Nam

Trước nhất, xin nói sơ qua về trình độ các bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ và nữ hộ sinh quốc gia miền Nam trước năm 1975. Khi thành lập trường Y Khoa Đông Dương thời Pháp, mặc dù đa số dân Việt Nam còn trình độ học vấn thấp nhưng chánh phủ Pháp đã tuyển chọn các sinh viên theo học Đại Học Y Dược phải có trình độ văn hóa cao (tú tài).

Figure 1

Figure 2

Trường Đại Học Y Khoa ở ngoài Bắc nầy, sau năm 1954, đã di chuyển vào miền Nam và đặt trụ sở trên đường Trần Quí Cáp Saigon và đa số giáo sư và giảng sư đều di cư vào Nam như các giáo sư Phạm Biểu Tâm, Trần Anh, Ngô Gia Hy, Nguyễn Huy Can, Nguyễn Hữu… và tiếp tục đào tạo các bác sĩ cho dân y và quân y miền Nam. Các sinh viên quân y vẫn học tại Đại Học Y Khoa Saigon, chứ không học tại trường quân y như nhiều người dân thường lầm, nhưng họ tình nguyện gia nhập quân y và khi ra trường sẽ phục vụ cho quân đội như là các quân y sĩ, và những bác sĩ quân y hiện dịch nầy thường đảm nhận những chức vụ chỉ huy cao cấp trong hệ thống Quân Y Việt Nam Cộng Hòa. Vì ảnh hưởng Pháp, nên trước năm 1960, Đại Học Y Khoa Saigon vẫn theo chương trình giảng huấn của Pháp. Sau năm 1960, Mỹ tăng viện cho Việt Nam Cộng Hòa, đặc biệt là sách vở và các dụng cụ y khoa nên chương trình huấn luyện y khoa bị ảnh hưởng mạnh. Cùng thời gian đó, năm 1957, LM Cao Văn Luận được Tổng Thống Ngô Đình Diệm bổ làm Viện Trưởng Viện Đại Học Huế và Ngài đã đi các nước vận động thành lập trường Đại Học Y Khoa Huế (mà khóa đầu tiên ở đây năm 1960) cũng theo khuynh hướng Đức và Mỹ, ra trường năm 1967. Đến năm 1970, Đại Học Y Khoa tư Minh Đức (do Giáo Hội Công Giáo khởi xướng) được thành lập tại Saigon. Sau năm 1975, Đại Học Y Khoa Minh Đức bị giải tán, sinh viên sáp nhập vào trường Y Khoa Saigon.

Trước năm 1962, muốn học Đại Học Y Khoa Saigon, phải theo học một năm dự bị tại Đại Học Khoa Học Saigon. Do thiếu cơ sở trường phải mượn cơ sở của trường Trung Học Petrus Ký tổ chức lớp PCB (physique, chimie, biologie, Lý- Hóa- Sinh). Sau khi đỗ chứng chỉ Lý- Hóa- Sinh mới được vào năm thứ nhất Y Khoa. Sau năm 1962, có thay đổi, Đại Học Y Khoa nhờ Đại Học Khoa Học mở dùm một lớp Dự Bị Y Khoa (APM) với chứng chỉ Lý Hóa Nhiên (SPCN) chú trọng nhiều về sinh vật học (biologie). Số sinh viên được tuyển là 200, rơi rớt dọc đường còn độ 150 – 180 ra trường bác sĩ Việt Nam. Khóa đầu tiên theo chương trình mới APM nầy năm 1962, ra trường năm 1969.

Chương trình huấn luyện y khoa gồm sáu năm, không kể năm dự bị: gồm hai năm đầu học về các môn học căn bản y khoa (cơ thể học, sinh lý học, sinh hóa học); hai năm sau (năm thứ ba, năm thứ tư ) học về bệnh lý (nội khoa, ngoại khoa, nhi khoa, sản khoa) được đi thực tập tại bệnh viện; hai năm chót (năm thứ năm, năm thứ sáu) học về trị liệu và thực tập tại các khu chuyên khoa tại các bệnh viện (nội trú và ngoại trú). Riêng năm thứ năm, khi tôi theo học có thêm các môn Y khoa phòng ngừa, Pháp y, Nghĩa Vụ Luận, Pharmacology (dược lý học), toxicology (độc dược học). Năm thứ sáu tiếp tục thực tập về trị liệu tại các khu chuyên môn và phải sửa soạn thi tốt nghiệp, gồm bốn môn bệnh lý nội khoa, ngoại khoa, sản khoa và nhi khoa. Sau khi đậu các kỳ thi bệnh lý sẽ được cấp chứng chỉ tốt nghiệp và hai tháng sau được quyền trình luận án. Sau khi các giáo sư chánh chủ khảo và các giám khảo chất vấn, nếu luận án được chấp nhận, sinh viên sẽ được cấp chứng chỉ tốt nghiệp văn bằng Bác sĩ Tiến Sĩ Y Khoa Quốc Gia (Docteur en Medecine Diplome d’État) và được xin gia nhập Y sĩ đoàn và xin mở phòng mạch tư.

Một thời gian sau khi được Bộ Quốc Gia Giáo Dục phê duyệt, sinh viên mới được nhận văn bằng Tiến Sĩ Y Khoa Quốc Gia (Bác Sĩ).

Đến đây còn phải qua giai đoạn xin hành nghề thông qua y sĩ đoàn (để mở phòng mạch) và phải nộp đơn ghi tên vào danh sách y sĩ đoàn và y sĩ đoàn sẽ cấp cho giấy phép hành nghề.

Những Phương Cách Hành Nghề Trong Quân Y Và Dân Y

Với bất cứ chánh phủ nào cũng có hai ngành hành nghề y khoa: Quân y và Dân y. Dân y thì sau khi tốt nghiệp các bác sĩ có quyền mở phòng mạch tư, làm việc cho các bệnh viện tư hay các cơ sở, công ty tư, hay với Bộ Y tế (các bệnh viện, chẩn y viện…), với các trường y khoa (đại học y khoa, Nữ Hộ sinh Quốc gia, điều dưỡng, y tá, y tá gây mê). Trước năm 1975, các bác sĩ, dược sĩ, nha sĩ khi mới ra trường phải phục vụ trong Bộ Y Tế một thời gian là hai năm, và sau đó, có quyền ra mở phòng mạch tư. Nhưng sau nầy, vì chiến tranh, các bác sĩ dân y cũng bị trưng tập động viên vào quân đội để phục vụ quân đội. Còn bác sĩ quân y hiện dịch thì dĩ nhiên phải làm việc cho quân đội theo đúng khế ước (một năm học thì hai năm phục vụ cho quân đội) nhưng vì tình hình chiến tranh liên tục, nhu cầu bác sĩ cần cho quân đội luôn luôn cao nên ít có bác sĩ được giải ngũ.

Theo chế độ quân y Pháp thì khi ra trường (quân y hay dân y bị trưng tập) các bác sĩ, nha sĩ hay dược sĩ được đeo lon trung úy và hưởng lương với cấp bậc tương ứng và sẽ được thăng cấp tùy thâm niên quân vụ hay tùy nhu cầu cấp số. Trái lại, theo chế độ quân y Mỹ, các bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ quân y ra trường được đeo lon Thiếu tá; còn các bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ đi quân dịch chỉ hưởng cấp bậc binh nhì trong thời gian tập luyện quân sự cơ bản; còn bị trưng tập động viên trong thời chiến tranh thì được đeo lon Thiếu tá và sẽ được thăng cấp tùy thâm niên quân vụ hay tùy nhu cầu cấp bậc đòi hỏi.

Sau khi di cư vào Nam năm 1954 thì đến năm 1955 Đại Học Y Khoa Việt Nam (Saigon) mở lại khóa đầu tiên, tốt nghiệp năm 1960. Vì Quân Y Việt Nam ảnh hưởng ngành quân y của Pháp nên khi ra trường, các bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ cũng được hưởng cấp bậc sơ khởi là Trung úy. Việc cho hưởng cấp bậc cao chỉ nhằm hai mục đích là khuyến khích các sinh viên Y khoa gia nhập quân đội và tạo quyền thế cho các bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ. Theo chế độ quân y của Pháp các sinh viên y khoa xin gia nhập quân đội (quân y) thì được hưởng cấp bậc sinh viên quân y và mang cấp bậc tùy theo năm lớp và hưởng lương tương xứng: thượng sĩ, năm thứ 1; chuẩn úy, năm thứ 2, thứ 3; thiếu úy, năm thứ 4, thứ 5; trung úy, năm thứ 6.

Bác Sĩ Ra Trường Sớm

Trường Đại học Y khoa di cư vào Nam gồm các năm thứ nhất đến thứ sáu đã được tiếp tục học tại Đại Học Y Khoa Saigon. Các bác sĩ ra trường sớm, được phục vụ với tư cách y sĩ trung úy, sau đó mới trở lại trường để thi bệnh lý (của năm thứ sáu) và sau đó trình luận án. Sau năm 1961 (sau khi di cư vào Nam), chiến tranh tạm hòa hoãn vì hiệp định đình chiến chia đôi đất nước, năm 1954 hai miền Nam Bắc còn bận lo củng cố chính quyền tại miền Nam, các khóa bác sĩ quân y được học hết năm thứ sáu, được thi bệnh lý rồi mới được điều động ra đơn vị. Vì chiến tranh lan rộng, nhu cầu cần nhiều bác sĩ cho các đơn vị quân đội nên có khóa sinh viên quân y hiện dịch mới chỉ học hết năm thứ 5 đã được lệnh ra đơn vị sớm. Còn anh em bác sĩ dân y thì cũng vì nhu cầu phục vụ nên họ cũng bị trưng tập vào quân đội. Còn nếu được hoãn dịch thì phải đi phục vụ tại các bệnh viện dân sự 2 năm rồi mới được cho phép mở phòng mạch hay làm việc tại các cơ sở y tế, hay ứng tuyển làm nhân viên giảng huấn Đại Học Y Khoa Saigon hay các trường y khoa trung cấp (điều dưỡng, y tá….) Về lương bổng, các bác sĩ chưa trình luận án thì chỉ số lương bổng chỉ được 510, nếu đã trình luận án thì chỉ số lương là 690.

Trước năm 1967, các bác sĩ dân y khi bị trưng tập vào quân đội thì được hưởng lương trung úy và khi thăng lên đại úy, hưởng lương đại úy và một số tiền phụ cấp quân y. Khi tôi bị động viên vào khóa 12 trưng tập lúc đó do nghị định của Chủ Tịch Hành Pháp Trung Ương ký, thì các dân y sĩ bị trưng dụng vào quân đội sẽ được hưởng lương như sau:

– Y sĩ trung úy bậc 5 (chỉ số 590) nếu chưa trình luận án.

Y sĩ trung úy bậc 7 (chỉ số 690) nếu đã trình luận án. Tôi được hưởng chỉ số 690 vì đã trình luận án rồi. Khoảng tháng 3, 1972 tôi được lên đại úy và được hưởng lương y sĩ đại úy bậc 6, chỉ số 720. Đơn vị tôi chỉ có tôi và đại tá tư lệnh lãnh lương cao nhất. Sau nầy, Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm lại ký nghị định mới ấn định các y sĩ quân đội chỉ được hưởng lương cấp bậc như các sĩ quan khác (ngoài quân y), nhưng các bác sĩ được hưởng phụ cấp quân y mỗi tháng 8.000$. Vào đầu năm 1975, tôi được hưởng lương khoảng 40.000$/ tháng. Được biết các nha sĩ, dược sĩ ở dân sự có chỉ số lương là 550, còn các người tốt nghiệp cao học hành chánh thì lương chỉ số 510. Được biết, lương của một phó quận trưởng (gốc đốc sự hành chánh) có chỉ số 430, cùng với phụ cấp, được lãnh khoảng 33.000$/tháng trong khi quận trưởng (gốc sĩ quan quân đội, thời chiến tranh cần các sĩ quan quân đội đảm nhiệm các nhiệm vụ hành chánh để đáp ứng tình hình chánh trị và quân sự) và các sĩ quan thường phải qua một khóa huấn luyện gọi là quân chính với số lương khoảng 40.000$… Còn với công chức cao cấp từ giám đốc đến tổng giám đốc và quân đội, cấp đại tá, với chức vụ chỉ huy, kể cả phụ cấp khoảng độ 50.000$. Các quân y sĩ (bác sĩ quân y), hiện dịch hay trừ bị (trưng tập) phải có giấy phép của Bộ Tổng Tham Mưu (do Đại Tướng Cao Văn Viên ký) mới được xin mở phòng mạch tư (thường là gần đơn vị phục vụ). Các quân y sĩ (hiện dịch, không phải y sĩ dân y trưng tập) nguyên là những sinh viên tình nguyện gia nhập quân đội thì vì có ký khế ước cứ một năm học hưởng lương quân y thì phải phục vụ quân đội 2 năm, trước năm 1963, thì không được mở phòng mạch, nhưng sau nầy, vì thiếu bác sĩ, dân chúng cần bác sĩ săn sóc, nên Bộ Tổng Tham Mưu cũng cho phép mở phòng mạch tư ngoài giờ làm việc, nhất là ở vùng ngoại ô hay các tỉnh, huyện nhỏ. Trước năm 1975, vì thiếu y sĩ nên các bác sĩ chưa thi xong bệnh lý hay chưa kịp trình luận án, mới ra trường đã có job rồi, và sau nầy, khi có hoàn cảnh mới trình luận án sau.

Ngay đến ở Saigon, vì thiếu y sĩ (vì bị trưng dụng vào quân đội, nên mỗi năm Tòa Đô Chính cũng phải tuyển dụng một số sinh viên y khoa năm thứ 6 (khoảng 20-30 người) để phục vụ tại các chẩn y viện, đặc biệt là những phiên trực gác với chức vụ y sĩ… Mỗi ngày, những “bác sĩ” nầy làm việc (bán thời gian), khám bệnh 2-3 giờ vào buổi sáng (từ 7 đến 9 giờ) trước khi đến bệnh viện thực tập tiếp về bệnh lý và phải trực cấp cứu mỗi tuần một lần, lương trả khoán mỗi tháng khoảng 4.000$. Lúc đó tôi có làm tại Chẩn y viện Chánh Hưng với bác sĩ trưởng là bác sĩ Lưu Đức Thụ và trực tại Chẩn y viện Phú Lâm (với bác sĩ trưởng là bác sĩ Nguyễn Hữu Thư) từ đầu năm 1968 đến đầu năm 1969. Các bác sĩ Thụ và Thư là y sĩ trung tá quân đội biệt phái, sau cuộc tấn công Tết Mậu Thân của Việt Cộng.

Trình Luận Án Chậm Vì Kéo Dài Thời Gian Làm Nội Trú Tại Bệnh Viện

Có nhiều bác sĩ kể cả các giáo sư vì thời cuộc chiến tranh, vì nhu cầu đảm nhận chức vụ nội trú ở các bệnh viện:

– GS Phạm Biểu Tâm (cựu nội trú bệnh viện tại Hà Nội). Đúng ra GS đã trình luận án vào đầu năm 1941 nhưng vì nhu cầu, phải làm nội trú thêm 4, 5 năm nên sau nầy GS mới trình luận án vào năm 1947 (tổng cộng thời gian nội trú 8 năm).

– BS Bùi Mộng Hùng (YK59) trình luận án năm 1963 (tổng cộng thời gian nội trú 6 năm).

– BS Trần Xuân Ninh (YK63) trình luận án năm 1967 (tổng cộng thời gian nội trú 6 năm).

Trình Luận Án Chậm Vì Công Vụ

BS Văn Văn Của (YK55): Ông học năm thứ 6 vào năm 1955 và đầu năm 1956 bị trưng tập vào quân đội với cấp bậc Y sĩ trung úy trừ bị, gia nhập binh chủng Nhảy dù, giữ chức Y sĩ trưởng Nhảy dù; cuối cùng được bổ nhiệm làm Đô trưởng Saigon, thời Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương (1965-1968). Sau đó, ô n g trình luận án đầu năm 1969 rồi làm Viện Trưởng Viện Quốc Gia Y Tế Công Cộng Saigon. Sau năm 1975, ông bị tù cải tạo. Sau khi được thả về năm 1979, ông làm việc tại Bệnh Viện Da Liễu chung với tôi. Sau đó ông được bảo lãnh qua Pháp để đoàn tụ gia đình. Sau nầy, ông có đến thăm gia đình và bạn bè tại Mỹ. Ông đã mất tại Pháp cách đây trên 10 năm.

– BS Bùi Thế Cầu (YK60): Trình luận án năm 1970, cũng gia nhập binh chủng Nhảy dù, sau giữ chức vụ Tỉnh trưởng Gia Định.

– BS Bùi Hoành (YK59): Trình luận án năm 1964, vì công vụ, nguyên tỉnh trưởng Quảng Ngãi.

Không Trình Luận Án Và Không Hành Nghề Y Khoa

Có một số bác sĩ đã tốt nghiệp y khoa nhưng không trình luận án và không ghi tên gia nhập y sĩ đoàn, không hành nghề y khoa. Đó là trường hợp các bác sĩ Trần Kim Tuyến và Trương Khuê Quan.

– BS Trần Kim Tuyến: thuộc Quân Y khóa 1, tốt nghiệp năm 1955, ra đơn vị phục vụ chừng một năm rồi được điều về Phủ Tổng Thống (Ngô Đình Diệm) đặc trách Sở Nghiên Cứu Xã Hội Chánh Trị phủ Tổng Thống và từng trực tiếp làm việc với Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Cố Vấn Ngô Đình Nhu. Tuy chức vụ bề ngoài chỉ là một giám đốc một sở Nghiên Cứu Xã Hội Chánh Trị nhưng vai trò của ông trong ngành tình báo của chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa rất quan trọng. Trước cuộc đảo chánh năm 1963, ông được cử đi làm Tổng Lãnh Sự Việt Nam tại Ai Cập… Sau năm 1975, ông kịp thoát thân ra hải ngoại và định cư tại Luân Đốn, Anh Quốc.

– BS Trương Khuê Quan (YK57): y sĩ đại tá Trương Khuê Quan ra trường năm 1957, bị trưng tập với cấp bậc trung úy y sĩ, phục vụ tại miền Trung, đóng tại Ban Mê Thuột, ngoài việc hành nghề y khoa, ông còn chú trọng về nghề chăn nuôi: lập trại chăn nuôi và nuôi cá để giúp lính tráng có thực phẩm tươi. Khi Tổng Thống Diệm ra kinh lý tại Ban Mê Thuột (năm 1958), thấy ông phục vụ tốt và có sáng kiến kinh tế, xã hội (giúp binh sĩ và gia đình). Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã thăng cấp từ trung úy lên trung tá (trung uý y sĩ, đại úy thực thụ rồi lên trung tá giả định) cho ông làm Cục Trưởng Cục Xã Hội. Vì chức vụ cục trưởng là cấp chỉ huy cần cấp bậc cao nên Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã thăng cấp (giả định) cho Bác sĩ Trương Khuê Quan như vậy. Bác sĩ Quan sau nầy đã vận động thành lập trường Quốc Gia Nghĩa Tử tại Saigon, trên đường Nguyễn Văn Thoại nối dài (giữa Lê Văn Duyệt và Lăng Cha Cả, Tân Sơn Nhứt) thu nhận các con cái của các chiến sĩ hy sinh vì tổ quốc. Trường nầy đã do công sức và đóng góp của một số người hảo tâm và tặng lại cho Bộ Quốc Phòng. Sau Bác sĩ Trương Khuê Quan được thăng y sĩ đại tá thực thụ và được bổ nhiệm làm Viện Trưởng Quốc Gia Nghĩa Tử và chức vụ y sĩ đại tá là chức vụ ông mang lâu nhất trong các bác sĩ Việt Nam Cộng Hòa, nhưng thực tế, sau khi tham gia công tác xã hội như vậy, ông không còn thì giờ hành nghề bác sĩ y khoa. Các học sinh Quốc Gia Nghĩa Tử đều mang ơn và cám ơn ông. Nhạc sĩ Trần Quảng Nam ở San Jose chính là một cựu học sinh Quốc Gia Nghĩa Tử, là một trong những học sinh luôn nhớ công ơn ông.

Đôi Nét Về Hành Nghề Sau 1975 (Cộng Sản)

Y khoa sau năm 1975 chỉ học 6 năm (không có dự bị) Ra trường được cấp chứng chỉ tạm thời, phải phục vụ tại các tỉnh 2 năm với số lương 75% lương khởi đầu. Hai năm sau mới được phát văn bằng bác sĩ y khoa, nếu không đi làm 2 năm đầu nầy thì không được cấp bằng bác sĩ.

Không có y sĩ đoàn “quản lý”. Nếu muốn mở phòng mạch tư phải làm đơn xin và được Sở Y Tế cấp phép. Thực ra lúc đầu không có hành nghề tư vì chế độ cộng sản chỉ có công vụ mà không có tư hữu, mãi sau nầy, thấy không thể thực hiện chế độ công xã (vì các bác sĩ và mọi ngành nghề đều làm việc lấy lệ) nên nhà nước phải cho mở phòng mạch tư và cho buôn bán tư hữu “theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, lúc đó mới có chuyện cho mở phòng mạch bác sĩ.

Tóm lại, với sự chăm lo giảng dạy của các thầy (giáo sư, giảng sư…) các sinh viên được khuyến khích học hành giỏi giang nên các bác sĩ xuất thân trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa đều có trình độ cao. Sau nầy, vì hoàn cảnh đất nước thay đổi, các bác sĩ phải xuất ngoại (vượt biên) ra nước ngoài, đa số có hoàn cảnh và có đủ khả năng học lại các bằng tương đưng (Mỹ, Pháp, Úc…, hành nghề lại hải ngoại, làm rạng danh ngành y khoa Việt Nam Cộng Hòa, làm cho tập thể người Việt tị nạn được thơm lây.