Thứ Hai, 28 tháng 9, 2026

TIỀN THỜI VIỆT NAM CỘNG HÒA 1954–1975

 Việt Nam Cộng Hòa tiền thân kế thừa từ Quốc Gia Việt Nam do [vua] Bảo Đại đứng đầu làm Quốc Trưởng từ năm 1949–1955. Quốc Gia Việt Nam độc lập nằm trong Liên Hiệp Pháp nhưng quyền về in tiền và quân sự đều do Pháp nắm.


Đến đời Thủ tướng Bửu Lộc đã ký hiệp ước Matignon với Thủ tướng Pháp về việc trao trả độc lập lại cho Việt Nam, trong đó có quyền tự chủ tiền tệ vào ngày 6/4/1954. Nhưng không may, hiệp định Geneva được ký kết, Việt Nam bị chia đôi, chính phủ Quốc Gia chỉ còn quản lý từ vĩ tuyến 17 vào Nam. Theo đó viện phát hành tiền Đông Dương sẽ bị giải tán và thành lập Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam vào ngày 21/12/1954.

Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam có trụ sở ở số 17 bến Chương Dương Sài Gòn. Tiền Đông Dương của viện phát hành sẽ bị thu hồi từ 30 tháng 9 năm 1954, đến ngày 7 tháng 11 cùng năm. Tỷ giá hối suất qui đổi 1 đồng tiền Ngân Hàng Quốc Gia bằng 10 đồng tiền Đông Dương Việt–Miên–Lào.
 
 
Tiền giấy Việt Nam Cộng hòa phát hành không theo bộ mà rải rác từng mệnh giá bao gồm 4 giai đoạn:

– Giai đoạn 1 từ năm 1954–1955,

– Giai đoạn 2 từ năm 1955–1963,

– Giai đoạn 3 từ năm 1964–1966, và

– Giai đoạn cuối cùng là từ năm 1966 cho đến khi cuộc chiến tranh Việt Nam kết thúc vào năm 1975.

Thời Quốc Gia Việt Nam 1954–1955

Ở giai đoạn 1, ngân hàng giới thiệu các mệnh giá tiền quốc gia Việt Nam gồm 1 đồng, 5 đồng, 10 đồng, 20 đồng để đổi trước vì tiền của viện phát hành lớn nhất là tờ 200,000 đồng với hình vua Bảo Đại. Bốn tờ tiền này có kích thước như tiền Pháp rất lớn và gần như hình vuông. Bộ tiền này cũng được lưu hành sau ngày thành lập Việt Nam Cộng hòa nên vẫn được tính chung.
 


 
Thời Đệ Nhất Cộng Hòa 1955–1963

Cũng trong năm 1955 biến cố xảy ra. Bảo Đại bị Hội đồng Nhân dân Cách mạng quốc gia tại miền Nam Việt Nam lật đổ, yêu cầu thay thế Thủ tướng Ngô Đình Diệm làm Quốc Trưởng. Ngô Đình Nhiệm trở thành tổng thống, thành lập Việt Nam Cộng hòa trên toàn cõi miền Nam.

Bộ tiền giấy Việt Nam Cộng hòa thứ hai được phát hành bao gồm các mệnh giá 1, 2, 5, 100, 200, và 500 đồng. Bộ cũ vẫn tiếp tục được sử dụng song song cùng bộ mới.
 
 
Đến năm 1956 ngân hàng cho ?bác? Hàng bổ sung mệnh giá 50 đồng, 1 mục đồng xỏ mũi trâu có hình màu tím hoặc sau là nông dân phơi thóc.

Năm 1958 do chính phủ thấy sự bất hợp lý về hình ảnh tờ 200 đồng với hình ảnh người lính một súng nên đã phát hành thay thế bằng tờ 200 đồng màu tím kích thước lớn, mặt trước của tiền là hình ảnh Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam, mặt sau là tàu cá neo đậu.
 
 
Đến năm 1962, Chính phủ phát hành thêm ba mệnh giá 10, 20, 500 đồng, và dần dần thu hồi bộ tiền cũ, như vậy tiền sau đó đồng bộ. Riêng tờ 500 đồng năm ?1982? là tờ lớn nhất thuộc dòng hiếm, chỉ có 3 triệu tờ được phát hành gồm 3 Block A1, B1, và C1. Bóng chìm là Tổng thống Ngô Đình Diệm, mặt trước là dinh Độc lập trên nền kiến trúc cũ thời Pháp, mặt sau là hình nông dân với trâu đi cày, tờ này hay gọi là 500 đồng trâu xanh.
 


 
Ngày 1 tháng 11 năm 1963, chính biến đảo chánh đã xảy ra, quân đội tấn công vào dinh Gia Long nơi tổng thống đang ở. Sáng ngày 2 tháng 11 thì phía quân đội thảm sát hai anh em ông Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu. Cách Mạng 1 tháng 11 thành công, kết thúc nền Đệ nhất Cộng hòa bắt đầu thời kỳ quân quản.

Thời Quân quản 1963–1967

Trong thời kỳ này bộ tiền giấy Việt Nam Cộng Hòa năm 1964 mới được phát hành, bao gồm các mệnh giá 1, 20, 100 và 500 đồng.
 


 
Không bao lâu sau các anh hùng dân tộc được đưa lên bộ tiền Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa vào năm 1966. Tiền bộ tướng bao gồm 3 vị tướng đại diện cho 3 miền Bắc, Trung, và Nam; gồm 100 đồng Tả quân Lê Văn Duyệt, 200 đồng Vua Quang Trung [Nguyễn Huệ], và 500đ Hưng Đạo đại vương [Trần Hưng Đạo]. Đây là bộ tiền xưa Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa được rất nhiều người dân ưa thích bởi sự uy dũng tôn trọng lịch sử và tiền nhân.
 


 
Thời Đệ Nhị Cộng Hòa 1969–1975

Năm 1967 hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa được thay đổi, để thành lập nền Đệ Nhị Cộng Hòa, ông Nguyễn Văn Thiệu trở thành tổng thống thứ hai, đỉnh điểm cuộc chiến tranh Việt Nam leo thang tới trận Mậu Thân năm 1968. Kinh tế miền Nam bị ảnh hưởng, đồng tiền bị mất giá, có những chuyển biến thay đổi về thời cuộc, bộ tiền Việt Nam Cộng hòa năm 1969 ra đời. Lần này bộ tiền mới phát hành tăng dần theo các mệnh giá, không còn in mệnh giá nhỏ.

Bộ tiền Việt Nam Cộng Hòa năm 1969 hay còn được gọi là bộ hoa văn bao gồm 6 mệnh giá với 6 màu khác nhau. 20, 50, 100, 200, 500, và 1000 đồng.
 




 
Sáng ngày 25/8/1972, Ngân hàng phát hành bộ tiền năm 1972 lưu hành song song cùng bộ hoa văn cũ. Bộ tiền này hay còn được gọi là bộ tiền thú vì mỗi tờ là một con thú khác nhau. Bộ gồm 5 mệnh giá 50, 100, 200, 500, và 1000 đồng.
 





 
Đến cuối năm 1974, cuộc chiến ngày càng leo thang, vật giá ngày càng trượt dốc, chính phủ đã ban hành hai mẫu tiền giấy mới gồm 5000 đồng hình con beo và 10000 đồng hình con trâu. Đây là hai tờ lớn nhất và cũng là hai tờ cuối cùng của chế độ. Ngân khố quốc gia đã dự trữ sẵn một lượng lớn hai mệnh giá này và đã phát hành lương cho các công chức sĩ quan tại Biên Hòa vào đầu năm 1975.
 
 
Nhưng tình thế thay đổi, Sài Gòn sụp đổ, Ngân Hàng Quốc Gia được chính quyền mới tiếp quản nên hai tờ tiền trên đã không được lưu hành rộng rãi, chỉ một số ít được tuồn ra ngoài nên giá trị rất cao vì khan hiếm.

Sau ngày 30 tháng tư
[năm 1975] tiền giấy Việt Nam Cộng Hòa tiếp tục được lưu hành thêm năm tháng nữa. Đến ngày 22/9/1975, chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam đưa ra quyết định đổi tiền trên toàn miền Nam. Đồng tiền mới hay còn gọi là tiền “giải phóng” hay tiền Cộng Hòa miền Nam Việt Nam (CHMNVN). Tiền này lấy tên mới là “Ngân Hàng Việt Nam”, tỷ lệ quy đổi cũng khác.
 
 
Từ Quảng Nam – Đà Nẵng đổ về Nam thì 500 đồng VNCH bằng 1 đồng CHMNVN.

Từ Thừa Thiên–Huế đổ ra Bắc thì 1000 đồng VNCH đổi thành 3 đồng CHMNVN.

Mỗi gia đình chỉ được đổi tối đa 100000 đồng VNCH, với tiểu thương hay nhà máy phải ký thác vào ngân hàng. Tiền VNCH chính thức kết thúc sứ mạng.

Nguồn: D–money

Chủ Nhật, 27 tháng 9, 2026

Trăm năm di sản Ngô Viết Thụ: Món quà của Ngô Viết Thụ: Những kiệt tác kiến trúc hiện đại cho xứ sở

 Trong dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của KTS. Ngô Viết Thụ, nhiều người sẽ viết về cuộc đời ông. Bài viết này muốn đóng vai trò như một nhà phê bình kiến trúc, tập trung vào tác phẩm của KTS. Ngô Viết Thụ và ảnh hưởng của ông đối với kiến trúc và văn hóa Việt Nam.

Kiến trúc của KTS. Thụ chịu ảnh hưởng từ nền giáo dục tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Quốc gia tại Paris, nơi ông tốt nghiệp năm 1955. Thật thú vị khi Vann Molyvann - kiến trúc sư hàng đầu của Campuchia giữa thế kỷ XX - cũng sinh năm 1926 và theo học École Supérieure des Beaux-Arts cùng thời với KTS. Thụ.

Ngoài những thử nghiệm với kiến trúc hiện đại, ngôi trường này còn mang đến cho ông nền tảng cổ điển, tập trung vào phong cách mỹ thuật Tân cổ điển Beaux-Arts của Pháp. Vì thế, trong nhiều công trình, ông thường thể hiện sự trang trọng qua bố cục đối xứng hoặc gần đối xứng. Những đặc điểm khác của Beaux-Arts trong kiến trúc của KTS. Thụ bao gồm hệ thống không gian mang tính thứ bậc rõ rệt: từ bậc thang lớn, tiền sảnh uy nghi, các không gian chính nối tiếp từ sảnh, cho đến những không gian tiện ích ở cuối. Điều này đặc biệt rõ nét trong công trình Dinh Độc Lập mới. 

Các công trình Beaux-Arts cũng thường có phần chân đế hoặc tầng trệt được xử lý thô mộc, và đây chính là đặc điểm của Dinh Độc Lập cũng như nhiều thiết kế khác của KTS. Thụ, bao gồm tòa nhà chính của Đại học Nông Lâm tại Thủ Đức.

KTS. Ngô Viết Thụ chịu ảnh hưởng sâu sắc từ tuổi thơ và nền giáo dục ban đầu trong môi trường văn hóa truyền thống Việt Nam: âm nhạc, thi ca, mỹ thuật và kiến trúc. Ký ức về kiến trúc truyền thống đã trở thành hành trang quý giá, giúp ông trong quá trình học tập tại đại học, cũng như khi phụng sự đất nước với vai trò kiến trúc sư. Điều này thể hiện rõ nhất qua tính biểu tượng trong các thiết kế mặt đứng và cách tổ chức không gian mang tính thứ bậc trong những công trình ông sáng tác.

KTS. Thụ đã tận dụng cơ hội để khẳng định tài năng bằng việc tham gia cuộc thi thiết kế thường niên Grand Prix de Rome - giải thưởng danh giá nhất trong thế giới kiến trúc từ thế kỷ XVIII đến XX. Ông đoạt giải nhất năm 1955, năm cuối cùng tại École Supérieure des Beaux-Arts, và nhờ đó có ba năm lưu trú được tài trợ tại Hàn lâm viện Pháp ở Villa Medicis - Rome, để nghiên cứu về kiến trúc và quy hoạch đô thị.

Trong thời gian nghiên cứu tại Rome, ông đã xây dựng một đồ án quy hoạch tổng thể cho khu vực nối liền hai cực Chợ Lớn và Sài Gòn. Vào thời điểm đó, khu vực này còn thưa thớt dân cư và ít phát triển, cho phép hình thành một dải kéo dài gồm các công trình thương mại và hành chính, bao quanh bởi những mảng xanh rộng lớn. Đồ án mang tên “Liên đô thị Sài Gòn -  Chợ Lớn” được KTS. Thụ công bố khi trở về Việt Nam năm 1959 và trình lên Tổng thống Ngô Đình Diệm cùng chính phủ. Tuy nhiên, do áp lực thời chiến, kế hoạch không được triển khai, và khu vực này sau đó phát triển dần dần một cách tự phát.

Ngô Viết Thụ là kiến trúc sư châu Á duy nhất từng được Chính phủ Pháp trao giải Grand Prix de Rome. Khi rà soát danh sách các giải thưởng qua nhiều thế kỷ, chỉ có tên ông xuất hiện trong số những người đoạt giải. Sau đó, ở tuổi 36, ông trở thành kiến trúc sư châu Á đầu tiên được Viện Kiến trúc Hoa Kỳ trao tặng danh hiệu Viện sĩ danh dự vào năm 1962. Điều này diễn ra trước cả khi ông thiết kế kiệt tác Dinh Độc Lập cùng năm. Danh tiếng của ông đã được khẳng định từ trước nhờ hai dự án hợp tác với phía Mỹ đầu thập niên 1960: Trung tâm Nghiên cứu Nguyên tử Đà Lạt và Đại học Y khoa tại Chợ Lớn.

Trung tâm Nghiên cứu Nguyên tử tại Đà Lạt được thiết kế để đặt một lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu nhỏ, chủ yếu phục vụ cho việc sản xuất đồng vị phóng xạ y học và nông nghiệp. Ủy ban Năng lượng Nguyên tử Hoa Kỳ đã sắp xếp việc thuê và lắp đặt lò phản ứng này thông qua một nhà thầu Mỹ tại Đà Lạt, với thiết kế tiêu chuẩn dạng hộp cho khu vực lò và các không gian phụ trợ. Vì công trình nằm ở vị trí nổi bật tại Đà Lạt và sẽ là lò phản ứng đầu tiên ở Đông Nam Á, mang lại uy tín cho Việt Nam, nên năm 1960 Chính phủ Việt Nam Cộng hòa mời KTS. Ngô Viết Thụ cải thiện thiết kế. 

Trung tâm Nghiên cứu Nguyên tử Đà Lạt (nguồn: Lawrence Livermore National Laboratory Report TR-227253, Public Domain)


Khối nhà hình tròn bao quanh lò phản ứng được cho là mô phỏng hình ảnh nguyên tử, với các trụ ốp tường bố trí vòng quanh chu vi tượng trưng cho electron. Kỹ năng quy hoạch của KTS. Thụ đã đóng vai trò quan trọng trong việc định hình thiết kế. Các không gian phụ trợ và phòng thí nghiệm được bố trí thành vòng bao quanh khối lò, tạo môi trường làm việc thuận lợi hơn cho các nhà khoa học và kỹ thuật viên. Quần thể công trình hòa hợp với cảnh quan thiên nhiên. Cách tổ chức không gian phụ trợ cũng giúp giảm bớt khối tích bao che lò phản ứng và tạo cảm giác thân thiện cho khách tham quan.

Chính phủ Việt Nam Cộng hòa cũng sớm có kế hoạch thành lập một trường đại học y khoa, và phía Hoa Kỳ đã đề nghị hỗ trợ dự án này. Khu đất xây dựng ngày nay là Đại học Y Dược TP.HCM, thuộc khu vực Chợ Lớn. Việc thiết kế và xây dựng được tài trợ 50% bởi Chính phủ Việt Nam Cộng hòa và 50% bởi Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID), với sự hỗ trợ của Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ. USAID đã thuê công ty thiết kế y tế hàng đầu của Mỹ là Smith, Hinchman and Grylls để lập chương trình và quy hoạch tổng thể cho cơ sở mới. Kiến trúc sư Mỹ cũng chịu trách nhiệm lập hồ sơ thiết kế thi công và giám sát xây dựng.

Đại học Y Dược (nguồn: © Alexandre Garel)


Chính phủ Việt Nam Cộng hòa đặc biệt quan tâm công trình mới phải thích ứng với khí hậu nhiệt đới và phản ánh văn hóa Việt Nam. Lúc đó, KTS. Ngô Viết Thụ đang điều hành Văn phòng Tư vấn Kiến trúc và Chỉnh trang Lãnh thổ, trực thuộc Phủ Tổng thống, nên việc ông được chỉ định làm kiến trúc sư trưởng của nhóm gồm năm kiến trúc sư danh tiếng (Ngô Viết Thụ, Trần Văn Tải, Bùi Quang Hanh, Lê Văn Lắm, Nguyễn Mỹ Lộc) để phối hợp với phía Mỹ và các nhà tài trợ là điều tự nhiên.

Quần thể liên kết gồm bốn tòa nhà đã hòa nhập trong một ngôn ngữ chung của kiến trúc hiện đại Việt Nam phong phú, nhưng mỗi công trình vẫn giữ được bản sắc riêng. Nhóm thiết kế của KTS. Ngô Viết Thụ đã vận dụng nhiều kỹ thuật bố cục truyền thống Việt Nam, bao gồm kết cấu tường hai lớp và nhiều dạng lam chắn nắng khác nhau để đảm bảo thông gió và chiếu sáng tự nhiên. Các lam chắn nắng thẳng đứng được sử dụng ở mặt sau của các giảng đường.

Các lam chắn nắng đục lỗ được đúc sẵn bằng bê tông, lặp lại nhiều lần nhưng với nhiều cấu hình khác nhau. Hiệu ứng trên hầu hết các mặt đứng của công trình là sự “ren lưới” tinh tế nhờ hoa văn phức tạp của các lam chắn nắng. Những chi tiết bê tông đúc sẵn này đã tồn tại tốt qua nhiều thập kỷ, minh chứng cho năng lực và kỹ thuật đúc sẵn của Việt Nam. Quần thể này thực sự là một kiệt tác của quy hoạch và kiến trúc hiện đại Việt Nam.

Cả Trung tâm Nghiên cứu Nguyên tử Đà Lạt và Đại học Y Dược đều là những kiệt tác xứng đáng với danh hiệu Viện sĩ danh dự mà Viện Kiến trúc Hoa Kỳ trao tặng KTS. Ngô Viết Thụ năm 1962. Chất lượng và tinh thần hợp tác trong các dự án này đã được chính những kiến trúc sư và chuyên gia Mỹ tham gia cùng ông xác nhận.

Năm 1873, thực dân Pháp tại Nam Kỳ đã xây dựng Dinh Thống đốc ở Sài Gòn nhằm phô trương sự “ưu việt” về văn hóa và quản trị. Công trình được thiết kế theo phong cách Beaux-Arts hậu Baroque, với những phòng nghi lễ rộng lớn, xa hoa. Đến thập niên 1920, dinh này được đổi tên thành Dinh Norodom. Từ năm 1945 đến 1954, nơi đây là trụ sở của Cao ủy Pháp, trước khi được bàn giao cho nước Việt Nam Cộng hòa mới thành lập. Tổng thống Ngô Đình Diệm đã đổi tên công trình thành Dinh Độc Lập và sử dụng cho đến năm 1962. 

Ngày 27.2.1962, Dinh bị oanh tạc bởi hai phi công của không quân Việt Nam Cộng hòa trong một cuộc đảo chính nhằm lật đổ Tổng thống, khiến toàn bộ cánh nhà tây bắc bị phá hủy. Chính phủ quyết định phải sửa chữa ngay lập tức. Việc sửa chữa được khởi công, nhưng sau khi nền móng mới được xây xong mới thấy là các kết cấu cũ không thể kết nối với kết cấu mới và chi phí sửa chữa tăng lên quá cao, nên cuối cùng Tổng thống quyết định Dinh sẽ được phá bỏ hoàn toàn để xây dựng lại.

Chính quyền Ngô Đình Diệm đã tổ chức một quy trình thảo luận về thiết kế thay thế, với yêu cầu tận dụng nền móng cũ để tiết kiệm kinh phí. Vì thế, tất cả các phương án đều có hình khối và kích thước cơ bản giống nhau, đối xứng, mang tính trang trọng. Thực tế, lời mời gọi thiết kế tập trung vào việc “vẽ lại mặt đứng” của Dinh Độc Lập. 

Phương án kiến trúc của Ngô Viết Thụ cho Dinh Độc Lập, 1962 


Có 15 kiến trúc sư được mời nộp phương án thiết kế, trong đó 7 phác thảo cuối cùng, bao gồm phác thảo của KTS. Ngô Viết Thụ, được xem xét. Tất cả những kiến trúc sư này đều từng thiết kế vài công trình hiện đại tại Sài Gòn. Tuy nhiên, như ta thường thấy, họ đều cố gắng đoán định tâm lý và quan điểm của người quyết định cuối cùng - Tổng thống Diệm. Phần lớn cho rằng ông là người bảo thủ, chịu ảnh hưởng văn hóa Pháp, nên hầu hết các kiến trúc sư, ngoại trừ Ngô Viết Thụ, đã chọn phong cách Tân cổ điển, phong cách Đông Dương kết hợp Beaux-Arts Pháp với trang trí Á Đông, hoặc phong cách truyền thống Việt Nam.

Điều trở nên rõ ràng là Tổng thống Ngô Đình Diệm cùng các bộ trưởng đã nhận ra rằng công trình mới này sẽ là biểu tượng cho nước Việt Nam Cộng hòa. Vì thế, nó phải thể hiện hình ảnh một quốc gia đang bước vào thời đại công nghiệp và hiện đại hóa, mà kiến trúc hiện đại chính là ngôn ngữ của thời đại ấy. Do đó, các phương án Tân cổ điển hay phong cách Đông Dương - vốn gợi lại văn hóa thực dân Pháp lấn át văn hóa Việt - đều không phù hợp.

Sau khi tham khảo ý kiến các bộ trưởng, Tổng thống Diệm đã chọn thiết kế hiện đại của KTS. Ngô Viết Thụ. Là kiến trúc sư hiện đại tiêu biểu nhất của Việt Nam, phương án của ông kết hợp đường nét hiện đại với bản sắc Việt Nam một cách tinh tế. 

Quyết định này mang tính bước ngoặt: nó tượng trưng cho sự đoạn tuyệt hoàn toàn với quá khứ thuộc địa, đồng thời mở ra một tương lai hiện đại cho đất nước trong thời đại công nghiệp. Quan trọng hơn, nó khẳng định rằng văn hóa miền Nam Việt Nam đã thực sự tiếp nhận tinh thần hiện đại và chủ nghĩa hiện đại.

Ngô Viết Thụ chính là kiến trúc sư Việt Nam đúng thời điểm để đảm nhận trọng trách này và kiến tạo Dinh Độc Lập mới. Ông từng nói rằng kiến trúc hiện đại phải kết hợp tinh thần phương Đông, quy luật cân bằng tự nhiên, sự hài hòa với thiên nhiên cùng với quan niệm phương Tây về tỷ lệ vàng, kỹ thuật, và sự hài hòa giữa khối tích và tỷ lệ. Tất cả những điều đó được thể hiện trong phương án được phê duyệt và trong Dinh Độc Lập còn hiện hữu ngày nay, cũng như trong mọi công trình ông đã hoàn thành.

Mặt tiền Dinh Độc Lập mới (nguồn: © Alexandre Garel)


Bố cục tổng thể của Dinh Độc Lập đơn giản và rõ ràng, nhưng khách tham quan vẫn cảm nhận sâu sắc văn hóa Việt Nam qua cách tổ chức không gian mang tính thứ bậc, sự mở rộng ra cảnh quan xanh xung quanh, các chi tiết kiến trúc hiện đại lấy cảm hứng từ nghệ thuật và họa tiết Việt, cùng môi trường thân thiện với ánh sáng và thông gió tự nhiên.

Dù là một công trình hiện đại, nó vẫn tôn vinh văn hóa Việt qua các phù điêu đặt dưới cửa sổ ở hai cánh của Dinh. Những phù điêu này thể hiện các đề tài truyền thống như rồng, hổ, phượng hoàng, tạo nên lớp hoa văn trang trí trong tổng thể. Tường móng bằng đá chẻ và lớp ốp đá thô ở một số phần tầng trệt càng làm tăng thêm chiều sâu. Sự phức hợp trong bố cục đem lại cảm giác phong phú, cổ điển, nhưng toàn bộ công trình vẫn giữ trọn vẹn tinh thần hiện đại.

Hậu diện Dinh Độc Lập (nguồn: © Alexandre Garel) 


Đặc điểm nổi bật nhất của mặt tiền là hệ thống chắn nắng cao hai tầng, gồm những trụ bê tông đúc sẵn, tạo hình trừu tượng (dạng tứ diện) gợi hình ảnh đốt cây tre - một tham chiếu rõ nét đến văn hóa Việt Nam. Nhà điêu khắc Nguyễn Văn Thế đã thiết kế các trụ điêu khắc này phối hợp cùng KTS. Ngô Viết Thụ. Các ký tự tượng hình chữ Hán của Trung Hoa và chữ Nôm cổ của Việt Nam cũng được đưa vào bố cục mặt đứng. Sự thích ứng này với khí hậu và văn hóa Việt Nam đã định hình bản sắc Việt cho công trình.

Hệ thống chắn nắng cùng các khe thông gió trên mặt đứng giúp không gian bên trong luôn mát mẻ mà hầu như không cần đến điều hòa. Các cửa sổ thép cao, hẹp, đặt ngay sau lớp brise-soleil có thể xoay dọc để điều chỉnh luồng gió. Nội thất của các phòng nghi lễ và phòng chính thức mang phong cách hiện đại tinh tế, với đồ nội thất được thiết kế riêng, mỗi phòng mang một phong cách hiện đại khác biệt.

Dinh Độc Lập vẫn là công trình quan trọng nhất ở miền Nam, bởi nó tượng trưng cho lựa chọn thoát khỏi ách thực dân để trở thành một quốc gia hiện đại. Kiến trúc hiện đại của dinh khẳng định rằng Việt Nam đã quyết định rời bỏ thời kỳ nông nghiệp để bước vào thời đại công nghiệp, đồng thời vẫn giữ được bản sắc văn hóa Việt.

Các kiến trúc sư và sinh viên Việt Nam - những người đã định hình kỹ thuật và ngôn ngữ kiến trúc hiện đại Việt Nam từ thập niên 1950 - đều chịu ảnh hưởng sâu sắc từ KTS. Ngô Viết Thụ. Ông đã tinh luyện ngôn ngữ hiện đại thành những kiệt tác kiến trúc và giới thiệu chúng ra thế giới. Chính những kiệt tác này đã tạo động lực cho sự phát triển tiếp nối của kiến trúc hiện đại Việt Nam, dẫn đến việc người dân tiếp nhận và phổ biến nó trong kiến trúc nhà phố, biệt thự mà ta thấy khắp đất nước ngày nay.

Mel Schenck (Kiến trúc sư và nhà sử học kiến trúc người Mỹ, nhập cư và sống ở TP.HCM từ năm 2005; tác giả cuốn sách Kiến trúc Hiện đại miền Nam Việt Nam: Chủ nghĩa Hiện đại bản địa giữa thế kỷ, 2020).

Ngô Viết Thụ trong mắt người đương thời

 “Tấm gương sáng của KTS. Ngô Viết Thụ về lòng nhiệt thành và sự vươn lên không mệt mỏi góp phần xây dựng quê hương, đất nước cùng với niềm tự hào về nhân cách và những cống hiến sẽ còn sống mãi”.  

Thủ tướng Võ Văn Kiệt (Chia buồn nhân lễ tang KTS. Ngô Viết Thụ - 9.3.2000)

KTS. Ngô Viết Thụ cạnh Thủ tướng Võ Văn Kiệt trong Dinh Độc Lập


“Bạn mới cùng tôi bàn đại ngã
Thân ta hạt bụi hóa vô cùng
Mênh mông vũ trụ đâu là rốn
Đâu cũng lòng ta đến ở chung
Bạn vội ra đi về vĩnh cửu
Trước sau trên ấy sẽ trùng phùng
Ngôi nhà cực lạc Trời xây sẵn
Kiến trúc trần gian bạn bổ sung”. 

Huy Cận (Chia buồn viết từ Bệnh viện Hữu nghị Hà Nội)


“Ông Ngô Viết Thụ đã từng nói: “Thiên tài của kiến trúc Việt Nam không nằm ở sự phong phú của thiết kế và tay nghề, ở những mái cong và rồng uốn lượn, mà chính là ở cách nó đáp ứng với thiên nhiên và môi trường để tạo nên một kiểu mẫu sống đặc thù”.

Những ai có may mắn được chiêm ngưỡng các tác phẩm của ông trong cuộc triển lãm này có lẽ sẽ muốn coi những lời ấy như thông điệp gửi đến chúng ta, những người Philippines. Bởi vì tất cả chúng ta - nhà văn, sử gia, kiến trúc sư, nhạc sĩ - hiện đang dấn thân vào một quá trình tìm kiếm tâm hồn trong nghệ thuật và khoa học của mình, nhằm để chúng mang đậm hơn dấu ấn của tâm hồn dân tộc, sẽ là điều hữu ích nếu chúng ta nghiên cứu thông điệp mà ông Ngô Viết Thụ đã cất tiếng đại diện cho kiến trúc Việt Nam”.

KTS. Antonio Sevilla Sindiong, Chủ tịch Viện Kiến trúc Philippines (PIA), viết trong bài giới thiệu ấn phẩm triển lãm quy hoạch - kiến trúc - hội họa của KTS. Ngô Viết Thụ tại Philippines năm 1961.


 “Dinh Độc Lập ở TP.HCM là một tác phẩm kiến trúc lớn của ông Thụ. Nhà kiến trúc đã tạo ra một quần thể kiến trúc xinh đẹp phục vụ cho thành phố… Hoàn toàn có thể nói tác phẩm sáng tạo của nghệ sĩ bậc thầy như ông Ngô Viết Thụ xứng đáng được nghiên cứu sâu sắc và chi tiết nhất”.

V. Serebryansky, Kiến trúc sư và nhà phê bình Liên Xô viết trong bài Kiến trúc sư Việt Nam Ngô Viết Thụ, đăng Tạp chí Архитектура CCCP của Hội Kiến trúc sư Liên Xô. 


“Lịch sử Việt Nam vốn là lịch sử của các triều đại. Mỗi khi một triều đại mới lên ngôi, tất cả dấu tích của triều đại trước thường bị xóa bỏ. Ít nhất, đó là điều từng xảy ra trong quá khứ. Việc Dinh Thống Nhất vẫn tồn tại đến hôm nay chính là minh chứng rằng có những nhà chinh phục biết trân trọng một kiệt tác kiến trúc khi họ nhìn thấy nó!”.

Mitchell Owens, Nhà văn, nhà sử học, nhà báo Mỹ viết trong bài báo chuyên đề về Dinh Độc Lập trên New York Times.


“Năm 1993, Công ty Phú Mỹ Hưng tổ chức cuộc thi thiết kế quy hoạch tổng thể đô thị mới Nam Sài Gòn rộng 2.600 ha. Ban giám khảo là những kiến trúc sư nổi tiếng trong và ngoài nước.

Các nhà đầu tư nước ngoài mong muốn chúng tôi tìm được một giám khảo trong nước có tên tuổi ở tầm quốc tế. Tôi nghĩ ngay đến KTS. Ngô Viết Thụ, người đã thiết kế Dinh Độc Lập, Làng đại học Thủ Đức, Công trường Mê Linh, Viện Nguyên tử Đà Lạt... 

Nhưng để mời ông tham gia không dễ dàng. Tôi đã đến nhà trò chuyện làm quen với ông trong hai tuần liền mới mời được ông vào ban giám khảo. Thực ra, mỗi lần đến, tôi lắng nghe ông nhiều hơn vì ông có quá nhiều kiến thức, tư tưởng mới mẻ để học hỏi”.

Phan Chánh Dưỡng, nguyên Phó chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Liên doanh Phú Mỹ Hưng


“Nghệ sĩ như anh khó kiếm ra,
Kỳ công La Mã đã tài ba,
Còn kiêm điêu khắc cùng sơn họa,
Vui thú tinh thần khá thiết tha”.

GS-BS. Phạm Biểu Tâm, nguyên khoa trưởng người Việt đầu tiên của Đại học Y Dược Sài Gòn.

TỔNG THỐNG GỐC VIỆT XỨ NAVAJO: TIẾN SĨ BỬU NGUYỄN

 

Tổng thống đương nhiệm của Xứ Navajo (Navajo Nation) là ông Buu Nygren (Tiến sĩ Buu Van Nygren), nhậm chức từ ngày 10 tháng 1 năm 2023.

Ông là người Mỹ bản địa thuộc tộc Navajo và có một nửa dòng máu Việt Nam (cha là người Việt, mẹ là người Navajo).

Ông đắc cử ở tuổi 35, trở thành vị Tổng thống trẻ nhất trong lịch sử của Quốc gia Navajo. Nhiệm kỳ 4 năm

Xứ Navajo (Naabeehó Bináhásdzo) là vùng lãnh thổ bán tự trị lớn nhất của người bản địa tại Hoa Kỳ, rộng khoảng 71.000 km².
Nằm giao thoa qua các tiểu bang Arizona, Utah và New Mexico.
Thủ phủ: Đặt tại Window Rock, bang Arizona.

Nygren chào đời ngày 25 tháng 12 năm 1986 tại Blanding, Utah. Mẹ là người Navajo và cha là người gốc miền Nam Việt Nam, nên được lấy họ Việt khi đặt tên cho dòng họ của mình. Tên khai sinh "Bửu Nguyễn" của ông bị ghi nhầm thành "Buu Nygren" do mẹ ông (lúc đó 15 tuổi) phát âm và viết nhầm họ Nguyễn.

Nygren từng làm việc trong lĩnh vực quản lý xây dựng. Ông kết hôn với cựu dân biểu bang Arizona Jasmine Blackwater-Nygren.


Có ảnh bản đồ vị trí Navajo Nation dưới cmt

Xứ Navajo

Xứ Navajo (tiếng Navajo: Naabeehó Bináhásdzo) là một lãnh thổ bán tự trị của người bản địa Hoa Kỳ có diện tích 27.425 dặm vuông Anh (71.000 km2), gồm phần đông bắc Arizona, đông nam Utah, và tây bắc New Mexico tại Hoa Kỳ. Đây là khu người bản địa lớn nhất, với tổng dân số 173.667.

Xứ Navajo có một chính phủ hoàn chỉnh, gồm văn phòng điều hành, một viện lập pháp, và một hệ thống tư pháp, nhưng chính phủ liên bang Hoa Kỳ tiếp tục tham gia vào tất cả các khía cạnh. Hệ thống hành pháp ban hành việc thực thi pháp luật và có trách nhiệm trong dịch vụ xã hội, dịch vụ sức khỏe và giáo dục (Đại học Diné và các cơ sở giáo dục địa phương khác).

Cư dân tại đây tiếp tục gặp phải vấn đề sức khỏe, nạn thất nghiệp và tác động của các tai nạn trong khai mỏ urani trước đây.

Chú thích

  1. "Demographic Analysis of the Navajo Nation/ Using 2010 Census and 2010 American Community Survey Estimates" Lưu trữ ngày 11 tháng 6 năm 2014 tại Wayback Machine, Arizona Rural Policy Institute (ARPI), Northern Arizona University

Liên kết ngoài


Xứ Navajo
Naabeehó Bináhásdzo
—  Khu dành riêng  —
Ấn chương chính thức của Xứ Navajo
Ấn chương
Hiệu ca: (không có)
("Dah Naatʼaʼí Sǫʼ bił Sinil"
được dùng trong một số dịp)
Vị trí của Xứ Navajo.
Vị trí của Xứ Navajo.
Xứ Navajo trên bản đồ Thế giới
Xứ Navajo
Xứ Navajo
Trực thuộcSửa dữ liệu tại Wikidata
Thành lậpNgày 1 tháng 6 năm 1868
Mở rộng1878–2011
Hệ thống Chapter1922
Hội đồng bộ tộc1923
Thủ phủWindow Rock
Hành chính
5 địa khu
Chính quyền
 • Kiểucộng hòa
 • Thành phầnHội đồng Xứ Navajo
 • Tổng thốngRussell Begaye
 • Phó tổng thốngJonathan M. Nez
 • Phát ngôn viên của Hội đồng Xứ NavajoLorenzo Bates
 • Thẩm phán trưởng Xứ NavajoAllen Sloan
Diện tích
 • Tổng cộng71,000 km2 (27,413 mi2)
Dân số (2010)[1]
 • Tổng cộng173,667
 • Mật độ2,4/km2 (6,3/mi2)
 166.826 người Navajo/người bản địa
3,249 người da trắng
3.594 khác, gồm cả người lai
Websitewww.navajo-nsn.gov