Chủ Nhật, 27 tháng 9, 2026

Trăm năm di sản Ngô Viết Thụ: Món quà của Ngô Viết Thụ: Những kiệt tác kiến trúc hiện đại cho xứ sở

 Trong dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của KTS. Ngô Viết Thụ, nhiều người sẽ viết về cuộc đời ông. Bài viết này muốn đóng vai trò như một nhà phê bình kiến trúc, tập trung vào tác phẩm của KTS. Ngô Viết Thụ và ảnh hưởng của ông đối với kiến trúc và văn hóa Việt Nam.

Kiến trúc của KTS. Thụ chịu ảnh hưởng từ nền giáo dục tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Quốc gia tại Paris, nơi ông tốt nghiệp năm 1955. Thật thú vị khi Vann Molyvann - kiến trúc sư hàng đầu của Campuchia giữa thế kỷ XX - cũng sinh năm 1926 và theo học École Supérieure des Beaux-Arts cùng thời với KTS. Thụ.

Ngoài những thử nghiệm với kiến trúc hiện đại, ngôi trường này còn mang đến cho ông nền tảng cổ điển, tập trung vào phong cách mỹ thuật Tân cổ điển Beaux-Arts của Pháp. Vì thế, trong nhiều công trình, ông thường thể hiện sự trang trọng qua bố cục đối xứng hoặc gần đối xứng. Những đặc điểm khác của Beaux-Arts trong kiến trúc của KTS. Thụ bao gồm hệ thống không gian mang tính thứ bậc rõ rệt: từ bậc thang lớn, tiền sảnh uy nghi, các không gian chính nối tiếp từ sảnh, cho đến những không gian tiện ích ở cuối. Điều này đặc biệt rõ nét trong công trình Dinh Độc Lập mới. 

Các công trình Beaux-Arts cũng thường có phần chân đế hoặc tầng trệt được xử lý thô mộc, và đây chính là đặc điểm của Dinh Độc Lập cũng như nhiều thiết kế khác của KTS. Thụ, bao gồm tòa nhà chính của Đại học Nông Lâm tại Thủ Đức.

KTS. Ngô Viết Thụ chịu ảnh hưởng sâu sắc từ tuổi thơ và nền giáo dục ban đầu trong môi trường văn hóa truyền thống Việt Nam: âm nhạc, thi ca, mỹ thuật và kiến trúc. Ký ức về kiến trúc truyền thống đã trở thành hành trang quý giá, giúp ông trong quá trình học tập tại đại học, cũng như khi phụng sự đất nước với vai trò kiến trúc sư. Điều này thể hiện rõ nhất qua tính biểu tượng trong các thiết kế mặt đứng và cách tổ chức không gian mang tính thứ bậc trong những công trình ông sáng tác.

KTS. Thụ đã tận dụng cơ hội để khẳng định tài năng bằng việc tham gia cuộc thi thiết kế thường niên Grand Prix de Rome - giải thưởng danh giá nhất trong thế giới kiến trúc từ thế kỷ XVIII đến XX. Ông đoạt giải nhất năm 1955, năm cuối cùng tại École Supérieure des Beaux-Arts, và nhờ đó có ba năm lưu trú được tài trợ tại Hàn lâm viện Pháp ở Villa Medicis - Rome, để nghiên cứu về kiến trúc và quy hoạch đô thị.

Trong thời gian nghiên cứu tại Rome, ông đã xây dựng một đồ án quy hoạch tổng thể cho khu vực nối liền hai cực Chợ Lớn và Sài Gòn. Vào thời điểm đó, khu vực này còn thưa thớt dân cư và ít phát triển, cho phép hình thành một dải kéo dài gồm các công trình thương mại và hành chính, bao quanh bởi những mảng xanh rộng lớn. Đồ án mang tên “Liên đô thị Sài Gòn -  Chợ Lớn” được KTS. Thụ công bố khi trở về Việt Nam năm 1959 và trình lên Tổng thống Ngô Đình Diệm cùng chính phủ. Tuy nhiên, do áp lực thời chiến, kế hoạch không được triển khai, và khu vực này sau đó phát triển dần dần một cách tự phát.

Ngô Viết Thụ là kiến trúc sư châu Á duy nhất từng được Chính phủ Pháp trao giải Grand Prix de Rome. Khi rà soát danh sách các giải thưởng qua nhiều thế kỷ, chỉ có tên ông xuất hiện trong số những người đoạt giải. Sau đó, ở tuổi 36, ông trở thành kiến trúc sư châu Á đầu tiên được Viện Kiến trúc Hoa Kỳ trao tặng danh hiệu Viện sĩ danh dự vào năm 1962. Điều này diễn ra trước cả khi ông thiết kế kiệt tác Dinh Độc Lập cùng năm. Danh tiếng của ông đã được khẳng định từ trước nhờ hai dự án hợp tác với phía Mỹ đầu thập niên 1960: Trung tâm Nghiên cứu Nguyên tử Đà Lạt và Đại học Y khoa tại Chợ Lớn.

Trung tâm Nghiên cứu Nguyên tử tại Đà Lạt được thiết kế để đặt một lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu nhỏ, chủ yếu phục vụ cho việc sản xuất đồng vị phóng xạ y học và nông nghiệp. Ủy ban Năng lượng Nguyên tử Hoa Kỳ đã sắp xếp việc thuê và lắp đặt lò phản ứng này thông qua một nhà thầu Mỹ tại Đà Lạt, với thiết kế tiêu chuẩn dạng hộp cho khu vực lò và các không gian phụ trợ. Vì công trình nằm ở vị trí nổi bật tại Đà Lạt và sẽ là lò phản ứng đầu tiên ở Đông Nam Á, mang lại uy tín cho Việt Nam, nên năm 1960 Chính phủ Việt Nam Cộng hòa mời KTS. Ngô Viết Thụ cải thiện thiết kế. 

Trung tâm Nghiên cứu Nguyên tử Đà Lạt (nguồn: Lawrence Livermore National Laboratory Report TR-227253, Public Domain)


Khối nhà hình tròn bao quanh lò phản ứng được cho là mô phỏng hình ảnh nguyên tử, với các trụ ốp tường bố trí vòng quanh chu vi tượng trưng cho electron. Kỹ năng quy hoạch của KTS. Thụ đã đóng vai trò quan trọng trong việc định hình thiết kế. Các không gian phụ trợ và phòng thí nghiệm được bố trí thành vòng bao quanh khối lò, tạo môi trường làm việc thuận lợi hơn cho các nhà khoa học và kỹ thuật viên. Quần thể công trình hòa hợp với cảnh quan thiên nhiên. Cách tổ chức không gian phụ trợ cũng giúp giảm bớt khối tích bao che lò phản ứng và tạo cảm giác thân thiện cho khách tham quan.

Chính phủ Việt Nam Cộng hòa cũng sớm có kế hoạch thành lập một trường đại học y khoa, và phía Hoa Kỳ đã đề nghị hỗ trợ dự án này. Khu đất xây dựng ngày nay là Đại học Y Dược TP.HCM, thuộc khu vực Chợ Lớn. Việc thiết kế và xây dựng được tài trợ 50% bởi Chính phủ Việt Nam Cộng hòa và 50% bởi Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID), với sự hỗ trợ của Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ. USAID đã thuê công ty thiết kế y tế hàng đầu của Mỹ là Smith, Hinchman and Grylls để lập chương trình và quy hoạch tổng thể cho cơ sở mới. Kiến trúc sư Mỹ cũng chịu trách nhiệm lập hồ sơ thiết kế thi công và giám sát xây dựng.

Đại học Y Dược (nguồn: © Alexandre Garel)


Chính phủ Việt Nam Cộng hòa đặc biệt quan tâm công trình mới phải thích ứng với khí hậu nhiệt đới và phản ánh văn hóa Việt Nam. Lúc đó, KTS. Ngô Viết Thụ đang điều hành Văn phòng Tư vấn Kiến trúc và Chỉnh trang Lãnh thổ, trực thuộc Phủ Tổng thống, nên việc ông được chỉ định làm kiến trúc sư trưởng của nhóm gồm năm kiến trúc sư danh tiếng (Ngô Viết Thụ, Trần Văn Tải, Bùi Quang Hanh, Lê Văn Lắm, Nguyễn Mỹ Lộc) để phối hợp với phía Mỹ và các nhà tài trợ là điều tự nhiên.

Quần thể liên kết gồm bốn tòa nhà đã hòa nhập trong một ngôn ngữ chung của kiến trúc hiện đại Việt Nam phong phú, nhưng mỗi công trình vẫn giữ được bản sắc riêng. Nhóm thiết kế của KTS. Ngô Viết Thụ đã vận dụng nhiều kỹ thuật bố cục truyền thống Việt Nam, bao gồm kết cấu tường hai lớp và nhiều dạng lam chắn nắng khác nhau để đảm bảo thông gió và chiếu sáng tự nhiên. Các lam chắn nắng thẳng đứng được sử dụng ở mặt sau của các giảng đường.

Các lam chắn nắng đục lỗ được đúc sẵn bằng bê tông, lặp lại nhiều lần nhưng với nhiều cấu hình khác nhau. Hiệu ứng trên hầu hết các mặt đứng của công trình là sự “ren lưới” tinh tế nhờ hoa văn phức tạp của các lam chắn nắng. Những chi tiết bê tông đúc sẵn này đã tồn tại tốt qua nhiều thập kỷ, minh chứng cho năng lực và kỹ thuật đúc sẵn của Việt Nam. Quần thể này thực sự là một kiệt tác của quy hoạch và kiến trúc hiện đại Việt Nam.

Cả Trung tâm Nghiên cứu Nguyên tử Đà Lạt và Đại học Y Dược đều là những kiệt tác xứng đáng với danh hiệu Viện sĩ danh dự mà Viện Kiến trúc Hoa Kỳ trao tặng KTS. Ngô Viết Thụ năm 1962. Chất lượng và tinh thần hợp tác trong các dự án này đã được chính những kiến trúc sư và chuyên gia Mỹ tham gia cùng ông xác nhận.

Năm 1873, thực dân Pháp tại Nam Kỳ đã xây dựng Dinh Thống đốc ở Sài Gòn nhằm phô trương sự “ưu việt” về văn hóa và quản trị. Công trình được thiết kế theo phong cách Beaux-Arts hậu Baroque, với những phòng nghi lễ rộng lớn, xa hoa. Đến thập niên 1920, dinh này được đổi tên thành Dinh Norodom. Từ năm 1945 đến 1954, nơi đây là trụ sở của Cao ủy Pháp, trước khi được bàn giao cho nước Việt Nam Cộng hòa mới thành lập. Tổng thống Ngô Đình Diệm đã đổi tên công trình thành Dinh Độc Lập và sử dụng cho đến năm 1962. 

Ngày 27.2.1962, Dinh bị oanh tạc bởi hai phi công của không quân Việt Nam Cộng hòa trong một cuộc đảo chính nhằm lật đổ Tổng thống, khiến toàn bộ cánh nhà tây bắc bị phá hủy. Chính phủ quyết định phải sửa chữa ngay lập tức. Việc sửa chữa được khởi công, nhưng sau khi nền móng mới được xây xong mới thấy là các kết cấu cũ không thể kết nối với kết cấu mới và chi phí sửa chữa tăng lên quá cao, nên cuối cùng Tổng thống quyết định Dinh sẽ được phá bỏ hoàn toàn để xây dựng lại.

Chính quyền Ngô Đình Diệm đã tổ chức một quy trình thảo luận về thiết kế thay thế, với yêu cầu tận dụng nền móng cũ để tiết kiệm kinh phí. Vì thế, tất cả các phương án đều có hình khối và kích thước cơ bản giống nhau, đối xứng, mang tính trang trọng. Thực tế, lời mời gọi thiết kế tập trung vào việc “vẽ lại mặt đứng” của Dinh Độc Lập. 

Phương án kiến trúc của Ngô Viết Thụ cho Dinh Độc Lập, 1962 


Có 15 kiến trúc sư được mời nộp phương án thiết kế, trong đó 7 phác thảo cuối cùng, bao gồm phác thảo của KTS. Ngô Viết Thụ, được xem xét. Tất cả những kiến trúc sư này đều từng thiết kế vài công trình hiện đại tại Sài Gòn. Tuy nhiên, như ta thường thấy, họ đều cố gắng đoán định tâm lý và quan điểm của người quyết định cuối cùng - Tổng thống Diệm. Phần lớn cho rằng ông là người bảo thủ, chịu ảnh hưởng văn hóa Pháp, nên hầu hết các kiến trúc sư, ngoại trừ Ngô Viết Thụ, đã chọn phong cách Tân cổ điển, phong cách Đông Dương kết hợp Beaux-Arts Pháp với trang trí Á Đông, hoặc phong cách truyền thống Việt Nam.

Điều trở nên rõ ràng là Tổng thống Ngô Đình Diệm cùng các bộ trưởng đã nhận ra rằng công trình mới này sẽ là biểu tượng cho nước Việt Nam Cộng hòa. Vì thế, nó phải thể hiện hình ảnh một quốc gia đang bước vào thời đại công nghiệp và hiện đại hóa, mà kiến trúc hiện đại chính là ngôn ngữ của thời đại ấy. Do đó, các phương án Tân cổ điển hay phong cách Đông Dương - vốn gợi lại văn hóa thực dân Pháp lấn át văn hóa Việt - đều không phù hợp.

Sau khi tham khảo ý kiến các bộ trưởng, Tổng thống Diệm đã chọn thiết kế hiện đại của KTS. Ngô Viết Thụ. Là kiến trúc sư hiện đại tiêu biểu nhất của Việt Nam, phương án của ông kết hợp đường nét hiện đại với bản sắc Việt Nam một cách tinh tế. 

Quyết định này mang tính bước ngoặt: nó tượng trưng cho sự đoạn tuyệt hoàn toàn với quá khứ thuộc địa, đồng thời mở ra một tương lai hiện đại cho đất nước trong thời đại công nghiệp. Quan trọng hơn, nó khẳng định rằng văn hóa miền Nam Việt Nam đã thực sự tiếp nhận tinh thần hiện đại và chủ nghĩa hiện đại.

Ngô Viết Thụ chính là kiến trúc sư Việt Nam đúng thời điểm để đảm nhận trọng trách này và kiến tạo Dinh Độc Lập mới. Ông từng nói rằng kiến trúc hiện đại phải kết hợp tinh thần phương Đông, quy luật cân bằng tự nhiên, sự hài hòa với thiên nhiên cùng với quan niệm phương Tây về tỷ lệ vàng, kỹ thuật, và sự hài hòa giữa khối tích và tỷ lệ. Tất cả những điều đó được thể hiện trong phương án được phê duyệt và trong Dinh Độc Lập còn hiện hữu ngày nay, cũng như trong mọi công trình ông đã hoàn thành.

Mặt tiền Dinh Độc Lập mới (nguồn: © Alexandre Garel)


Bố cục tổng thể của Dinh Độc Lập đơn giản và rõ ràng, nhưng khách tham quan vẫn cảm nhận sâu sắc văn hóa Việt Nam qua cách tổ chức không gian mang tính thứ bậc, sự mở rộng ra cảnh quan xanh xung quanh, các chi tiết kiến trúc hiện đại lấy cảm hứng từ nghệ thuật và họa tiết Việt, cùng môi trường thân thiện với ánh sáng và thông gió tự nhiên.

Dù là một công trình hiện đại, nó vẫn tôn vinh văn hóa Việt qua các phù điêu đặt dưới cửa sổ ở hai cánh của Dinh. Những phù điêu này thể hiện các đề tài truyền thống như rồng, hổ, phượng hoàng, tạo nên lớp hoa văn trang trí trong tổng thể. Tường móng bằng đá chẻ và lớp ốp đá thô ở một số phần tầng trệt càng làm tăng thêm chiều sâu. Sự phức hợp trong bố cục đem lại cảm giác phong phú, cổ điển, nhưng toàn bộ công trình vẫn giữ trọn vẹn tinh thần hiện đại.

Hậu diện Dinh Độc Lập (nguồn: © Alexandre Garel) 


Đặc điểm nổi bật nhất của mặt tiền là hệ thống chắn nắng cao hai tầng, gồm những trụ bê tông đúc sẵn, tạo hình trừu tượng (dạng tứ diện) gợi hình ảnh đốt cây tre - một tham chiếu rõ nét đến văn hóa Việt Nam. Nhà điêu khắc Nguyễn Văn Thế đã thiết kế các trụ điêu khắc này phối hợp cùng KTS. Ngô Viết Thụ. Các ký tự tượng hình chữ Hán của Trung Hoa và chữ Nôm cổ của Việt Nam cũng được đưa vào bố cục mặt đứng. Sự thích ứng này với khí hậu và văn hóa Việt Nam đã định hình bản sắc Việt cho công trình.

Hệ thống chắn nắng cùng các khe thông gió trên mặt đứng giúp không gian bên trong luôn mát mẻ mà hầu như không cần đến điều hòa. Các cửa sổ thép cao, hẹp, đặt ngay sau lớp brise-soleil có thể xoay dọc để điều chỉnh luồng gió. Nội thất của các phòng nghi lễ và phòng chính thức mang phong cách hiện đại tinh tế, với đồ nội thất được thiết kế riêng, mỗi phòng mang một phong cách hiện đại khác biệt.

Dinh Độc Lập vẫn là công trình quan trọng nhất ở miền Nam, bởi nó tượng trưng cho lựa chọn thoát khỏi ách thực dân để trở thành một quốc gia hiện đại. Kiến trúc hiện đại của dinh khẳng định rằng Việt Nam đã quyết định rời bỏ thời kỳ nông nghiệp để bước vào thời đại công nghiệp, đồng thời vẫn giữ được bản sắc văn hóa Việt.

Các kiến trúc sư và sinh viên Việt Nam - những người đã định hình kỹ thuật và ngôn ngữ kiến trúc hiện đại Việt Nam từ thập niên 1950 - đều chịu ảnh hưởng sâu sắc từ KTS. Ngô Viết Thụ. Ông đã tinh luyện ngôn ngữ hiện đại thành những kiệt tác kiến trúc và giới thiệu chúng ra thế giới. Chính những kiệt tác này đã tạo động lực cho sự phát triển tiếp nối của kiến trúc hiện đại Việt Nam, dẫn đến việc người dân tiếp nhận và phổ biến nó trong kiến trúc nhà phố, biệt thự mà ta thấy khắp đất nước ngày nay.

Mel Schenck (Kiến trúc sư và nhà sử học kiến trúc người Mỹ, nhập cư và sống ở TP.HCM từ năm 2005; tác giả cuốn sách Kiến trúc Hiện đại miền Nam Việt Nam: Chủ nghĩa Hiện đại bản địa giữa thế kỷ, 2020).

Ngô Viết Thụ trong mắt người đương thời

 “Tấm gương sáng của KTS. Ngô Viết Thụ về lòng nhiệt thành và sự vươn lên không mệt mỏi góp phần xây dựng quê hương, đất nước cùng với niềm tự hào về nhân cách và những cống hiến sẽ còn sống mãi”.  

Thủ tướng Võ Văn Kiệt (Chia buồn nhân lễ tang KTS. Ngô Viết Thụ - 9.3.2000)

KTS. Ngô Viết Thụ cạnh Thủ tướng Võ Văn Kiệt trong Dinh Độc Lập


“Bạn mới cùng tôi bàn đại ngã
Thân ta hạt bụi hóa vô cùng
Mênh mông vũ trụ đâu là rốn
Đâu cũng lòng ta đến ở chung
Bạn vội ra đi về vĩnh cửu
Trước sau trên ấy sẽ trùng phùng
Ngôi nhà cực lạc Trời xây sẵn
Kiến trúc trần gian bạn bổ sung”. 

Huy Cận (Chia buồn viết từ Bệnh viện Hữu nghị Hà Nội)


“Ông Ngô Viết Thụ đã từng nói: “Thiên tài của kiến trúc Việt Nam không nằm ở sự phong phú của thiết kế và tay nghề, ở những mái cong và rồng uốn lượn, mà chính là ở cách nó đáp ứng với thiên nhiên và môi trường để tạo nên một kiểu mẫu sống đặc thù”.

Những ai có may mắn được chiêm ngưỡng các tác phẩm của ông trong cuộc triển lãm này có lẽ sẽ muốn coi những lời ấy như thông điệp gửi đến chúng ta, những người Philippines. Bởi vì tất cả chúng ta - nhà văn, sử gia, kiến trúc sư, nhạc sĩ - hiện đang dấn thân vào một quá trình tìm kiếm tâm hồn trong nghệ thuật và khoa học của mình, nhằm để chúng mang đậm hơn dấu ấn của tâm hồn dân tộc, sẽ là điều hữu ích nếu chúng ta nghiên cứu thông điệp mà ông Ngô Viết Thụ đã cất tiếng đại diện cho kiến trúc Việt Nam”.

KTS. Antonio Sevilla Sindiong, Chủ tịch Viện Kiến trúc Philippines (PIA), viết trong bài giới thiệu ấn phẩm triển lãm quy hoạch - kiến trúc - hội họa của KTS. Ngô Viết Thụ tại Philippines năm 1961.


 “Dinh Độc Lập ở TP.HCM là một tác phẩm kiến trúc lớn của ông Thụ. Nhà kiến trúc đã tạo ra một quần thể kiến trúc xinh đẹp phục vụ cho thành phố… Hoàn toàn có thể nói tác phẩm sáng tạo của nghệ sĩ bậc thầy như ông Ngô Viết Thụ xứng đáng được nghiên cứu sâu sắc và chi tiết nhất”.

V. Serebryansky, Kiến trúc sư và nhà phê bình Liên Xô viết trong bài Kiến trúc sư Việt Nam Ngô Viết Thụ, đăng Tạp chí Архитектура CCCP của Hội Kiến trúc sư Liên Xô. 


“Lịch sử Việt Nam vốn là lịch sử của các triều đại. Mỗi khi một triều đại mới lên ngôi, tất cả dấu tích của triều đại trước thường bị xóa bỏ. Ít nhất, đó là điều từng xảy ra trong quá khứ. Việc Dinh Thống Nhất vẫn tồn tại đến hôm nay chính là minh chứng rằng có những nhà chinh phục biết trân trọng một kiệt tác kiến trúc khi họ nhìn thấy nó!”.

Mitchell Owens, Nhà văn, nhà sử học, nhà báo Mỹ viết trong bài báo chuyên đề về Dinh Độc Lập trên New York Times.


“Năm 1993, Công ty Phú Mỹ Hưng tổ chức cuộc thi thiết kế quy hoạch tổng thể đô thị mới Nam Sài Gòn rộng 2.600 ha. Ban giám khảo là những kiến trúc sư nổi tiếng trong và ngoài nước.

Các nhà đầu tư nước ngoài mong muốn chúng tôi tìm được một giám khảo trong nước có tên tuổi ở tầm quốc tế. Tôi nghĩ ngay đến KTS. Ngô Viết Thụ, người đã thiết kế Dinh Độc Lập, Làng đại học Thủ Đức, Công trường Mê Linh, Viện Nguyên tử Đà Lạt... 

Nhưng để mời ông tham gia không dễ dàng. Tôi đã đến nhà trò chuyện làm quen với ông trong hai tuần liền mới mời được ông vào ban giám khảo. Thực ra, mỗi lần đến, tôi lắng nghe ông nhiều hơn vì ông có quá nhiều kiến thức, tư tưởng mới mẻ để học hỏi”.

Phan Chánh Dưỡng, nguyên Phó chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Liên doanh Phú Mỹ Hưng


“Nghệ sĩ như anh khó kiếm ra,
Kỳ công La Mã đã tài ba,
Còn kiêm điêu khắc cùng sơn họa,
Vui thú tinh thần khá thiết tha”.

GS-BS. Phạm Biểu Tâm, nguyên khoa trưởng người Việt đầu tiên của Đại học Y Dược Sài Gòn.

TỔNG THỐNG GỐC VIỆT XỨ NAVAJO: TIẾN SĨ BỬU NGUYỄN

 

Tổng thống đương nhiệm của Xứ Navajo (Navajo Nation) là ông Buu Nygren (Tiến sĩ Buu Van Nygren), nhậm chức từ ngày 10 tháng 1 năm 2023.

Ông là người Mỹ bản địa thuộc tộc Navajo và có một nửa dòng máu Việt Nam (cha là người Việt, mẹ là người Navajo).

Ông đắc cử ở tuổi 35, trở thành vị Tổng thống trẻ nhất trong lịch sử của Quốc gia Navajo. Nhiệm kỳ 4 năm

Xứ Navajo (Naabeehó Bináhásdzo) là vùng lãnh thổ bán tự trị lớn nhất của người bản địa tại Hoa Kỳ, rộng khoảng 71.000 km².
Nằm giao thoa qua các tiểu bang Arizona, Utah và New Mexico.
Thủ phủ: Đặt tại Window Rock, bang Arizona.

Nygren chào đời ngày 25 tháng 12 năm 1986 tại Blanding, Utah. Mẹ là người Navajo và cha là người gốc miền Nam Việt Nam, nên được lấy họ Việt khi đặt tên cho dòng họ của mình. Tên khai sinh "Bửu Nguyễn" của ông bị ghi nhầm thành "Buu Nygren" do mẹ ông (lúc đó 15 tuổi) phát âm và viết nhầm họ Nguyễn.

Nygren từng làm việc trong lĩnh vực quản lý xây dựng. Ông kết hôn với cựu dân biểu bang Arizona Jasmine Blackwater-Nygren.


Có ảnh bản đồ vị trí Navajo Nation dưới cmt

Xứ Navajo

Xứ Navajo (tiếng Navajo: Naabeehó Bináhásdzo) là một lãnh thổ bán tự trị của người bản địa Hoa Kỳ có diện tích 27.425 dặm vuông Anh (71.000 km2), gồm phần đông bắc Arizona, đông nam Utah, và tây bắc New Mexico tại Hoa Kỳ. Đây là khu người bản địa lớn nhất, với tổng dân số 173.667.

Xứ Navajo có một chính phủ hoàn chỉnh, gồm văn phòng điều hành, một viện lập pháp, và một hệ thống tư pháp, nhưng chính phủ liên bang Hoa Kỳ tiếp tục tham gia vào tất cả các khía cạnh. Hệ thống hành pháp ban hành việc thực thi pháp luật và có trách nhiệm trong dịch vụ xã hội, dịch vụ sức khỏe và giáo dục (Đại học Diné và các cơ sở giáo dục địa phương khác).

Cư dân tại đây tiếp tục gặp phải vấn đề sức khỏe, nạn thất nghiệp và tác động của các tai nạn trong khai mỏ urani trước đây.

Chú thích

  1. "Demographic Analysis of the Navajo Nation/ Using 2010 Census and 2010 American Community Survey Estimates" Lưu trữ ngày 11 tháng 6 năm 2014 tại Wayback Machine, Arizona Rural Policy Institute (ARPI), Northern Arizona University

Liên kết ngoài


Xứ Navajo
Naabeehó Bináhásdzo
—  Khu dành riêng  —
Ấn chương chính thức của Xứ Navajo
Ấn chương
Hiệu ca: (không có)
("Dah Naatʼaʼí Sǫʼ bił Sinil"
được dùng trong một số dịp)
Vị trí của Xứ Navajo.
Vị trí của Xứ Navajo.
Xứ Navajo trên bản đồ Thế giới
Xứ Navajo
Xứ Navajo
Trực thuộcSửa dữ liệu tại Wikidata
Thành lậpNgày 1 tháng 6 năm 1868
Mở rộng1878–2011
Hệ thống Chapter1922
Hội đồng bộ tộc1923
Thủ phủWindow Rock
Hành chính
5 địa khu
Chính quyền
 • Kiểucộng hòa
 • Thành phầnHội đồng Xứ Navajo
 • Tổng thốngRussell Begaye
 • Phó tổng thốngJonathan M. Nez
 • Phát ngôn viên của Hội đồng Xứ NavajoLorenzo Bates
 • Thẩm phán trưởng Xứ NavajoAllen Sloan
Diện tích
 • Tổng cộng71,000 km2 (27,413 mi2)
Dân số (2010)[1]
 • Tổng cộng173,667
 • Mật độ2,4/km2 (6,3/mi2)
 166.826 người Navajo/người bản địa
3,249 người da trắng
3.594 khác, gồm cả người lai
Websitewww.navajo-nsn.gov

Chủ Nhật, 20 tháng 9, 2026

Văn bản gốc Hiệp định Sơ bộ Việt–Pháp ngày 6-3-1946

 

https://www.thanhuytphcm.vn/tin-tuc/-infographic-hiep-dinh-so-bo-6-3-1946-va-tam-uoc-14-9-1946-nuoc-co-ngoai-giao-xuat-sac-cua-da-1491884244


Văn bản gốc Hiệp định Sơ bộ Việt–Pháp ngày 6-3-1946, gồm bản tiếng Việt và bản tiếng Pháp

1. Bản tiếng Việt — toàn văn

Wikisource tiếng Việt đăng toàn văn Hiệp định và phụ khoản. Trang này ghi rõ nguồn văn bản là Báo Cứu Quốc số 180, ngày 8-3-1946, bản lưu tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I – Hà Nội, đồng thời đối chiếu với Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 4.

HIỆP ĐỊNH SƠ BỘ – toàn văn tiếng Việt

Trong đó có cả:

  • Hiệp định chính, 3 khoản
  • Phụ khoản, 4 khoản
  • tên và chữ ký HỒ CHÍ MINH – VŨ HỒNG KHANH – XANH TƠ NY.

Đặc biệt, trang thảo luận của Wikisource còn ghi chú rằng họ cố giữ cách viết nguyên văn năm 1946, chẳng hạn “phần tử”, “gây ra”, “êm dịu”, “chính tông”… chứ không hiện đại hóa câu chữ. Đây là điểm rất hữu ích nếu bác muốn nghiên cứu nguyên văn lịch sử, thay vì một bản dịch/biên tập sau này.


2. Bản tiếng Pháp — toàn văn

Nguồn của Université de Perpignan – Digithèque MJP có đăng nguyên văn tiếng Pháp với tiêu đề:

Convention préliminaire

Mở đầu bằng:

Le gouvernement de la République française, représenté par M. Sainteny…

và gồm Điều 1, Điều 2, Điều 3 cùng Accord annexe (phụ khoản).

Convention préliminaire du 6 mars 1946 – bản tiếng Pháp

Đây là nguồn tôi đánh giá rất đáng chú ý để đối chiếu tiếng Pháp, vì MJP thuộc hệ thống Đại học Perpignan của Pháp.


3. Một trang chuyên về chính Hiệp định 6-3-1946

Có một website chuyên về Hiệp định Sơ bộ Việt–Pháp 1946, do Thành đoàn Hà Nội/Cung Thiếu nhi Hà Nội giới thiệu công trình về địa điểm ký kết.

Trang này xác nhận có:

“Bản Hiệp định Sơ bộ Việt–Pháp ngày 06/3/1946 (bản tiếng Việt, tiếng Pháp, và phụ lục của Hiệp định)”.

Hiệp định Sơ bộ Việt–Pháp 6/3/1946 – trang tư liệu


 

 

Thứ Bảy, 19 tháng 9, 2026

Ba mươi hai năm Ba đã đi xa.

Hôm nay là ngày giỗ của Ba (Trần Hữu Nhơn cựu Thiếu tá (QLVNCH)
Ba rời xa tôi vào năm 1994. Đến hôm nay, năm 2026, đã tròn 32 năm.
Ba mươi hai năm… nghe thì thật dài. Đủ để một đứa trẻ trưởng thành, đủ để một thế hệ khác ra đời, đủ để nhiều chuyện của quá khứ dần chìm vào quên lãng. Vậy mà có những câu chuyện của Ba, càng lớn tuổi tôi lại càng nhớ rõ.
Ngày trước, thỉnh thoảng Ba kể cho tôi nghe về cuộc đời quân ngũ. Có những câu chuyện vui, có những chuyện Ba chỉ kể vài câu rồi im lặng. Khi ấy tôi còn trẻ, nghe chuyện của Ba như nghe chuyện của một thời xa xưa. Mãi sau này tôi mới hiểu rằng phía sau những câu nói bình thản ấy là cả một đoạn đời đầy chiến tranh, mất mát và những biến động mà thế hệ chúng tôi khó lòng cảm nhận hết.
Trong những câu chuyện ấy, có một chuyện tôi nhớ mãi.
Đó là mùa xuân năm 1979, ở Hoàng Liên Sơn.
Sau biến cố năm 1975, Ba bị đưa đi “học tập cải tạo”. Những chuyến đi cứ đưa Ba ngày một xa quê nhà, rồi cuối cùng ra tận vùng núi phía Bắc, gần biên giới Việt–Trung.
Ba kể rằng một đêm nọ, giữa núi rừng im vắng, từ rất xa bỗng vọng lại những tiếng nổ:
Đùng… đùng… đùng…
Lúc đầu chẳng ai biết chuyện gì xảy ra.
Những người trong trại nhìn nhau. Tiếng súng, tiếng pháo cứ vọng về từ phía biên giới, lúc xa, lúc gần.
Rồi không biết ai nói trước:
— Hay là người Mỹ quay trở lại?
Một ý nghĩ gần như không tưởng.
Nhưng Ba kể, lúc ấy nhiều người lại âm thầm vui trong bụng. Những con người đã sống nhiều năm sau hàng rào trại cải tạo chỉ cần nghe một biến động lớn bên ngoài cũng đủ để trong lòng lóe lên một chút hy vọng.
Nhưng có một điều khiến mọi người bắt đầu cảm thấy bất an.
Thường ngày cán bộ trong trại khá đông. Vậy mà tối hôm ấy gần như tất cả đều biến mất. Chỉ còn lại vài người canh giữ phía trước.
Không ai giải thích.
Đêm đó, chẳng mấy người ngủ được.
Sáng hôm sau, tiếng súng dường như càng gần.
Đến khoảng trưa, một cán bộ trẻ bước vào. Gương mặt anh ta căng thẳng. Anh nói nhanh với mọi người rằng quân Trung Quốc đã đánh qua biên giới và tình hình đang rất nguy cấp. Theo thông báo lúc đó, họ có thể tiến đến khu vực này chỉ trong vài giờ.
Rồi anh nói:
— Các anh thu xếp đồ đạc. Phải rời khỏi đây ngay.
Cả trại xôn xao.
Hơn hai trăm con người bắt đầu gom những tài sản ít ỏi của mình. Thực ra chẳng có gì nhiều: vài bộ quần áo, một ít lương khô và chút nước uống.
Trong lúc mọi người đang chuẩn bị, có người ghé tai hỏi:
— Bây giờ họ chỉ còn có hai người, mình hơn hai trăm người. Hay là mình trốn?
Một người khác im lặng một lúc rồi hỏi lại:
— Trốn đi đâu? Bên này là Việt Nam, bên kia là Trung Quốc. Chẳng lẽ chạy sang Trung Quốc?
Mọi người nhìn nhau.
Không ai nói thêm.
Khoảng nửa giờ sau, đoàn người lên đường.
Ba bảo đó có lẽ là một trong những ngày kỳ lạ nhất của những năm tháng tù đày.
Hơn hai trăm người tù đi giữa núi rừng mà gần như không có ai canh giữ.
Không còn những hàng rào trước mặt.
Không còn những người lính kè sát hai bên.
Chỉ có vài cán bộ đi trước dẫn đường.
Và cũng chẳng ai bỏ chạy.
Mọi người cứ thế lặng lẽ đi theo nhau, băng rừng, vượt suối, mang theo chút đồ đạc trên vai. Phía sau, những tiếng nổ vẫn vọng tới, dường như mỗi lúc một gần.
Đi được khoảng một giờ, đoàn người đến một trạm dừng chân.
Và chính tại nơi ấy, Ba nhìn thấy một cảnh tượng mà nhiều năm sau ông vẫn còn nhớ.
Từ phía biên giới, thương binh liên tục được chuyển về.
Người nằm trên cáng. Người đầu quấn băng. Người mình đầy máu. Có người bị thương rất nặng. Và cũng có những người khi đưa về đã không còn sống.
Khung cảnh hỗn loạn.
Những người tù đứng nhìn.
Rồi một chuyện xảy ra.
Không ai bảo ai.
Trong số những người bị đưa đi cải tạo có những người trước năm 1975 từng là bác sĩ, y tá hoặc làm trong ngành y.
Thấy thương binh được đưa về quá nhiều mà người cứu chữa lại quá ít, một vài người lập tức đặt hành lý xuống, xắn tay áo bước tới.
Một người nói:
— Cho chúng tôi dụng cụ. Chúng tôi biết làm. Để chúng tôi phụ cứu người.
Và họ bắt đầu làm việc.
Người băng bó.
Người cầm máu.
Người chăm sóc những thương binh vừa được chuyển từ phía trước về.
Những bàn tay của những người đang mang thân phận “tù cải tạo”, trong giờ phút ấy, lại đang cứu chữa cho những người thuộc phía đang giam giữ mình.
Có cán bộ ngạc nhiên hỏi:
— Các anh là ai?
Khi biết họ là những tù nhân được di chuyển từ trại Hoàng Liên Sơn, người cán bộ im lặng.
Ba kể đến đoạn này thường chậm lại.
Có lẽ chính trong khoảnh khắc ấy, Ba đã nhìn thấy một điều mà chiến tranh và chính trị đôi khi khiến con người quên mất.
Hôm qua có thể người này thuộc bên này, người kia thuộc bên kia.
Có thể họ từng mặc những bộ quân phục khác nhau.
Có thể lịch sử đã đặt họ ở hai phía.
Nhưng khi một con người đang nằm trước mặt mình, máu đang chảy và sự sống chỉ còn tính bằng phút, chẳng ai còn hỏi:
Anh thuộc bên nào?
Người biết cứu người thì cứu.
Người có sức thì khiêng cáng.
Người có thuốc thì đưa thuốc.
Bởi cuối cùng, họ vẫn nói cùng một tiếng nói.
Vẫn cùng một dòng máu Việt Nam.
Sau đó đoàn người lại tiếp tục lên đường. Họ đi thêm nhiều giờ, đưa cả những thương binh vào sâu hơn trong nội địa rồi được chuyển đến một trại khác.
Điều kiện lúc ấy vô cùng thiếu thốn. Cán bộ nói với mọi người rằng đang trong thời chiến, lương thực và phương tiện đều khó khăn, mỗi người phải cố gắng tự lo cho mình nhiều hơn.
Không ai than phiền.
Bởi lúc ấy, phía sau họ vẫn còn tiếng súng.
Rồi thời gian trôi qua.
Cuộc chiến biên giới dần lắng xuống. Vài tuần sau, Ba và những người tù được đưa qua trại ở Hà Nam Ninh
Và cuộc sống “học tập cải tạo” lại tiếp tục.
Dường như những ngày đặc biệt ấy chưa từng xảy ra.
Nhưng Ba thì không quên.
Nhiều năm sau, khi đã trở về với gia đình, Ba vẫn kể lại câu chuyện ấy cho tôi nghe.
Ngày ấy tôi nghe chuyện chỉ thấy lạ.
Bây giờ, khi chính mình đã đi qua hơn nửa cuộc đời, tôi mới hiểu tại sao Ba nhớ câu chuyện ấy đến vậy.
Ba không kể để nói ai thắng, ai thua.
Ba cũng không kể để nuôi thêm hận thù.
Có lẽ Ba chỉ muốn những đứa con của mình hiểu rằng lịch sử đôi khi đặt con người vào những hoàn cảnh rất nghiệt ngã, nhưng ngay giữa những hoàn cảnh ấy, lòng nhân ái vẫn có thể tồn tại.
⸻
Rồi năm 1994, Ba ra đi.
Tôi không ngờ lần chia tay ấy lại là lần chia tay mãi mãi.
Hôm nay là năm 2026.
Ba đã xa tôi 32 năm.
Ba mươi hai mùa giỗ đã đi qua.
Người con ngày nào ngồi nghe Ba kể chuyện giờ cũng đã lớn tuổi. Nhiều chi tiết của cuộc đời có thể đã phai mờ theo năm tháng, nhưng kỳ lạ thay, giọng nói của Ba trong những câu chuyện cũ vẫn còn đâu đó trong ký ức tôi.
Có những lúc tôi tự hỏi:
Giá như ngày ấy mình lớn hơn một chút…
Giá như mình chịu khó ngồi bên Ba lâu hơn một chút…
Giá như mình hỏi Ba thêm vài câu nữa về cuộc đời của Ba…
Nhưng thời gian không bao giờ quay trở lại.
Người kể chuyện năm xưa đã không còn.
Vì vậy hôm nay, trong ngày giỗ Ba, tôi ngồi viết lại câu chuyện này.
Không phải với tư cách một nhà viết sử.
Tôi chỉ là một người con đang cố gắng ghi lại câu chuyện mà cha mình đã từng kể, trước khi năm tháng làm cho những ký ức ấy phai đi.
Tôi muốn sau này con cháu trong gia đình khi đọc lại sẽ biết rằng ông của chúng đã từng sống trong một thời đại như thế.
Ông từng là một người lính.
Ông từng đi qua chiến tranh.
Ông từng trở thành người tù của một thời cuộc.
Và giữa núi rừng Hoàng Liên Sơn năm 1979, ông đã chứng kiến một khoảnh khắc rất đặc biệt: những con người từng đứng ở hai phía của lịch sử đã cùng đưa tay cứu lấy nhau khi đất nước lại đứng trước chiến tranh.
1994 – 2026.
Ba mươi hai năm Ba đã đi xa.
Nhưng hôm nay, khi tôi viết những dòng này, tôi có cảm giác Ba vẫn đang ngồi đâu đó bên cạnh, chậm rãi kể lại câu chuyện năm xưa…
Và tôi vẫn là người con ngồi im lặng nghe Ba kể.
Kính nhớ Ba trong ngày giỗ.
Ba đã đi xa 32 năm, nhưng câu chuyện của Ba vẫn còn ở lại.
Con viết lại hôm nay như thắp cho Ba một nén hương bằng ký ức — để những điều Ba từng trải qua không mất đi cùng năm tháng.
Tuan Anh Tran