Thứ Sáu, 8 tháng 5, 2026

Phát biểu lịch sử của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trước Quốc hội Sri Lanka

 DUY LINH

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chia sẻ Việt Nam và Sri Lanka tuy cách xa về địa lý, nhưng rất gần gũi về lịch sử, văn hóa và khát vọng phát triển.

Phát biểu lịch sử của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trước Quốc hội Sri Lanka - Ảnh 1.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu tại Quốc hội Sri Lanka - Ảnh: TTXVN

Ngày 8-5, trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước đầu tiên đến Sri Lanka, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã phát biểu tại Quốc hội Sri Lanka. Sự kiện, theo chia sẻ của Chủ tịch Quốc hội Sri Lanka Jagath Wickramaratne, có ý nghĩa lịch sử, truyền cảm hứng không chỉ cho Quốc hội và các nghị sĩ Sri Lanka mà còn chứa đựng nhiều chia sẻ về kinh nghiệm quý cho đất nước này.

Tuổi Trẻ Online trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Quốc hội Sri Lanka.

--------

Thưa Ngài Chủ tịch Quốc hội, Tiến sĩ Jagath Wickramaratne,

Thưa các vị nghị sĩ Quốc hội Sri Lanka,

Thưa toàn thể quý vị và các bạn,

Hôm nay, tôi rất vinh dự được phát biểu trước Quốc hội Sri Lanka, cơ quan lập pháp tối cao, nơi đại diện cho ý chí, nguyện vọng và lợi ích của Nhân dân Sri Lanka. Thay mặt Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam, tôi xin gửi tới Ngài Chủ tịch Quốc hội, các vị nghị sĩ và toàn thể Nhân dân Sri Lanka lời chào trân trọng, lời chúc sức khỏe và tình hữu nghị chân thành nhất.

Tôi trân trọng cảm ơn Quốc hội, Chính phủ và Nhân dân Sri Lanka đã dành cho Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam sự đón tiếp trọng thị, nồng ấm và thắm tình hữu nghị.

Tôi chúc mừng những nỗ lực và kết quả quan trọng mà Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ và Nhân dân Sri Lanka đã đạt được trong củng cố ổn định, phục hồi và phát triển đất nước. Việt Nam tin tưởng rằng, với truyền thống văn minh lâu đời, vị trí chiến lược tại Ấn Độ Dương, bản lĩnh của Nhân dân và quyết tâm của các nhà lãnh đạo, Sri Lanka sẽ tiếp tục vững bước trên con đường xây dựng một quốc gia hòa bình, ổn định, thịnh vượng và hạnh phúc.

Thưa quý vị và các bạn,

Sri Lanka có vị trí rất đặc biệt trong ký ức lịch sử và tình cảm của Nhân dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng ba lần dừng chân tại Sri Lanka trong suốt những năm tháng hoạt động cách mạng. Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Colombo được khánh thành năm 2013 và trở thành biểu tượng xúc động của tình cảm mà Nhân dân Sri Lanka dành cho Việt Nam.

Đối với Nhân dân Việt Nam, đó không chỉ là những dấu chân của một lãnh tụ trên hành trình đi tìm độc lập cho dân tộc mình. Đó còn là sự gặp gỡ tự nhiên giữa các dân tộc yêu chuộng tự do, hòa bình, nhân văn và công lý. 

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: "Nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì". Tư tưởng ấy có sự đồng điệu sâu sắc với khát vọng của Nhân dân Sri Lanka về một đất nước độc lập, hòa bình, ổn định và đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho mọi người dân.

Việt Nam và Sri Lanka tuy cách xa về địa lý, nhưng rất gần gũi về lịch sử, văn hóa và khát vọng phát triển. Hai dân tộc chúng ta đều có truyền thống lâu đời, giàu bản sắc, đề cao tinh thần nhân ái, khoan dung và hòa hợp. Phật giáo và các giá trị văn hóa phương Đông đã góp phần nuôi dưỡng trong mỗi dân tộc tình yêu hòa bình, lòng nhân ái và ý thức cộng đồng.

Kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 21-7-1970, quan hệ Việt Nam - Sri Lanka đã trải qua hơn nửa thế kỷ vun đắp. Năm ngoái, hai nước kỷ niệm 55 năm thiết lập quan hệ ngoại giao; Tổng thống Anura Kumara Dissanayake đã thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam và tham dự Đại lễ Vesak Liên hợp quốc tại TP.HCM.

Những sự kiện đó cho thấy quan hệ hai nước không chỉ được xây dựng bằng văn kiện ngoại giao, mà còn bằng sự hiểu biết, sự tin cậy và tình cảm chân thành giữa Nhân dân hai nước.

Hôm nay, tại Quốc hội Sri Lanka, tôi muốn chia sẻ với quý vị về hành trình phát triển của Việt Nam, đặc biệt là công cuộc Đổi mới gần 40 năm qua.

Phát biểu lịch sử của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trước Quốc hội Sri Lanka - Ảnh 2.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Chủ tịch Quốc hội Sri Lanka Jagath Wickramaratne - Ảnh: TTXVN

Thưa quý vị và các bạn,

Gần 40 năm trước, khi bắt đầu công cuộc Đổi mới năm 1986, Việt Nam đứng trước muôn vàn khó khăn. Đất nước vừa trải qua nhiều thập kỷ chiến tranh, cơ sở hạ tầng bị tàn phá, nền kinh tế trì trệ, đời sống Nhân dân thiếu thốn, nguồn lực phát triển rất hạn hẹp. Trong bối cảnh đó, Việt Nam đã lựa chọn Đổi mới.

Đổi mới trước hết là đổi mới tư duy. Chúng tôi nhận thức rằng để phát triển đất nước, phải nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng thực tiễn, mạnh dạn thay đổi những cơ chế không còn phù hợp, khơi dậy sức sáng tạo của Nhân dân, phát huy vai trò của doanh nghiệp, mở cửa hội nhập với thế giới và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.

Từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, Việt Nam từng bước xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phát huy các thành phần kinh tế; bảo đảm vai trò quản lý, định hướng và kiến tạo phát triển của Nhà nước; đồng thời tôn trọng quy luật thị trường, khuyến khích cạnh tranh, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế.

Trong nông nghiệp, Việt Nam trao quyền nhiều hơn cho người nông dân, khơi thông năng lực sản xuất, bảo đảm an ninh lương thực, từng bước chuyển từ tình trạng thiếu ăn sang tự chủ lương thực và trở thành một trong những quốc gia có vai trò quan trọng trong xuất khẩu nông sản. 

Trong công nghiệp và dịch vụ, Việt Nam mở cửa thu hút đầu tư, phát triển cơ sở hạ tầng, hình thành các khu công nghiệp, khu kinh tế, thúc đẩy thương mại và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực, toàn cầu.

Về đối ngoại, Việt Nam kiên trì đường lối độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.

Từ thực tiễn ấy, Việt Nam đã đạt được những kết quả quan trọng, thể hiện qua các con số thống kê về kinh tế, xã hội (từ chỗ thiếu lương thực và nằm trong nhóm 20 nước nghèo nhất thế giới, Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, nằm trong số 32 nền kinh tế lớn nhất thế giới với quy mô GDP năm 2025 đạt mức 514 tỉ USD, GDP đầu người trên 5.000 USD/năm; là một trong 15 quốc gia có quy mô thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài hàng đầu thế giới, tham gia trên 20 hiệp định thương mại tự do, kết nối với hơn 60 nền kinh tế quan trọng trên thế giới...).

Tuy nhiên chúng tôi cũng nhận thức sâu sắc rằng Việt Nam vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức: Năng suất lao động cần tiếp tục nâng cao; chất lượng tăng trưởng phải được cải thiện; biến đổi khí hậu, già hóa dân số, cạnh tranh chiến lược, chuyển đổi số, chuyển đổi năng lượng và những biến động của thương mại toàn cầu đặt ra nhiều yêu cầu mới. Những kết quả đã đạt được không làm chúng tôi tự mãn; trái lại, càng phát triển, Việt Nam càng hiểu rằng phát triển là hành trình liên tục đổi mới, tự điều chỉnh, tự hoàn thiện và vươn lên.

Từ hành trình đó, Việt Nam rút ra một số kinh nghiệm mà chúng tôi cho rằng có thể có giá trị tham khảo đối với các quốc gia đang phát triển.

Thứ nhất, kiên định độc lập, tự chủ, đồng thời chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; thu hút đầu tư quốc tế, phát triển thương mại phải đi đôi với nâng cao năng lực nội sinh.

Độc lập, tự chủ là nền tảng để mỗi quốc gia bảo vệ lợi ích chính đáng của mình và lựa chọn con đường phát triển phù hợp với điều kiện của mình. Nhưng tự chủ không có nghĩa là khép kín. Tự chủ là có đủ bản lĩnh, năng lực và niềm tin để hợp tác với tất cả các đối tác trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng và cùng có lợi. 

Việt Nam luôn coi nội lực là quyết định, nhưng ngoại lực là quan trọng. Nội lực là con người, thể chế, văn hoá, truyền thống, khát vọng và sức sáng tạo của Nhân dân. Ngoại lực là tri thức, thị trường, công nghệ, đầu tư, kinh nghiệm quản trị và hợp tác quốc tế. Sức mạnh của phát triển nằm ở khả năng kết hợp hài hòa giữa hai nguồn lực đó.

Hội nhập quốc tế mở ra cánh cửa rất lớn, nhưng năng lực nội sinh vẫn mang tính quyết định. Thu hút đầu tư nước ngoài là cần thiết, nhưng không đủ. Phát triển bền vững đòi hỏi phải nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong nước, chất lượng nguồn nhân lực, công nghiệp hỗ trợ, năng lực quản trị, đổi mới sáng tạo và khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. 

Việt Nam đang nỗ lực chuyển từ tăng trưởng dựa nhiều vào vốn, lao động và tài nguyên sang tăng trưởng dựa nhiều hơn vào năng suất, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và chất lượng nguồn nhân lực.

Thứ haiphát huy vai trò của pháp luật, Quốc hội và quản trị quốc gia trong kiến tạo phát triển; đổi mới phải bắt đầu từ đổi mới tư duy và hoàn thiện thể chế.

Phát triển bền vững cần một nền tảng pháp lý ổn định, minh bạch, công bằng và có khả năng thích ứng với thay đổi. Nếu Chính phủ mở đường bằng chính sách, thì Quốc hội bảo đảm con đường ấy được soi sáng bởi pháp luật, trách nhiệm giải trình và ý chí của Nhân dân.

Ở Việt Nam, Quốc hội có vai trò rất quan trọng trong thể chế hóa đường lối phát triển, ban hành pháp luật, quyết định các vấn đề lớn của đất nước, giám sát hoạt động của Nhà nước và phản ánh nguyện vọng của Nhân dân. Hôm nay phát biểu trước Quốc hội Sri Lanka, tôi càng thấy rõ hơn vai trò của các cơ quan lập pháp trong việc tạo dựng niềm tin, thúc đẩy cải cách và bảo đảm phát triển bao trùm.

Một chính sách đúng có thể tạo ra chuyển biến trong một lĩnh vực. Nhưng một tư duy phát triển đúng có thể mở ra con đường cho cả quốc gia. Đổi mới ở Việt Nam không chỉ là thay đổi một số chính sách kinh tế, mà là thay đổi cách nhìn về phát triển, về vai trò của Nhà nước, thị trường, người dân và doanh nghiệp.

Chúng tôi vừa làm vừa tổng kết, vừa thí điểm vừa nhân rộng, không nóng vội, không cực đoan, nhưng kiên trì đổi mới. Bài học của Việt Nam là phải xuất phát từ thực tiễn đất nước mình, tôn trọng quy luật khách quan, đồng thời biết học hỏi kinh nghiệm quốc tế một cách chọn lọc, phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Thứ ba, lấy người dân làm trung tâm, mục tiêu và động lực của phát triển.

Phát triển không chỉ là tăng trưởng GDP. Phát triển phải được đo bằng cuộc sống tốt hơn của người dân, bằng cơ hội học tập của trẻ em, bằng việc làm ổn định của người lao động, bằng sự an toàn của cộng đồng và bằng niềm tin của Nhân dân.

Với quan điểm "dân là gốc", Việt Nam luôn gắn tăng trưởng kinh tế với giảm nghèo, an sinh xã hội, giáo dục, y tế, phát triển nông thôn và nâng cao chất lượng sống. Người dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng, mà còn là chủ thể sáng tạo, người tham gia và người làm chủ tiến trình phát triển.

Một nền kinh tế có thể tăng trưởng nhanh trong một giai đoạn, nhưng một quốc gia chỉ phát triển bền vững khi người dân cảm thấy họ là người thụ hưởng, người tham gia và người làm chủ của tiến trình phát triển ấy.

Thứ tưcoi nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nền tảng quan trọng của ổn định và phát triển.

Đối với nhiều quốc gia đang phát triển, nông nghiệp không chỉ là một ngành kinh tế. Nông nghiệp còn gắn với an ninh lương thực, sinh kế của hàng triệu người dân, ổn định xã hội, văn hóa cộng đồng và khả năng chống chịu trước khủng hoảng.

Việt Nam bắt đầu nhiều bước đổi mới từ nông nghiệp và nông thôn. Từ kinh nghiệm của mình, chúng tôi nhận thấy rằng bảo đảm sinh kế của nông dân, phát triển hạ tầng nông thôn, hiện đại hóa sản xuất nông nghiệp, chế biến sâu, giảm thất thoát sau thu hoạch, xây dựng thương hiệu và thích ứng với biến đổi khí hậu là những trụ cột rất quan trọng của phát triển bền vững.

Thưa quý vị và các bạn,

Thế giới đang thay đổi rất nhanh. Khoa học - công nghệ, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi năng lượng, biến đổi khí hậu, dịch chuyển chuỗi cung ứng và cạnh tranh chiến lược đang tạo ra cả cơ hội lẫn thách thức cho mọi quốc gia.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

Để thực hiện mục tiêu đó, Việt Nam đang thúc đẩy mạnh mẽ cải cách thể chế, phát triển nguồn nhân lực, xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô; chăm lo tốt hơn đời sống Nhân dân; xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Chúng tôi hiểu rõ khát vọng lớn phải được chứng minh bằng hành động cụ thể, cụ thể là cải cách mạnh mẽ hơn, quản trị hiệu quả hơn, phát huy dân chủ rộng rãi hơn, đoàn kết toàn dân tộc sâu sắc hơn và hợp tác quốc tế thực chất hơn.

Những vấn đề đó không chỉ là yêu cầu riêng của Việt Nam. Đó cũng là câu hỏi chung của nhiều quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam và Sri Lanka: làm thế nào để phát triển nhanh hơn nhưng bền vững hơn; hiện đại hơn nhưng bao trùm hơn; hội nhập sâu hơn nhưng vẫn giữ vững độc lập, tự chủ và bản sắc dân tộc.

Phát biểu lịch sử của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trước Quốc hội Sri Lanka - Ảnh 3.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trao đổi với Chủ tịch Quốc hội Sri Lanka Jagath Wickramaratne - Ảnh: TTXVN

Thưa quý vị và các bạn,

Mỗi quốc gia có lịch sử, văn hóa, điều kiện, nguồn lực và lựa chọn phát triển riêng. Điều chúng tôi mong muốn chia sẻ là hành trình mà chúng tôi đã đi qua, có cả những thành công và chưa thành công, với tinh thần cầu thị và sẵn sàng cùng học hỏi.

Về quan hệ song phương, chúng tôi mong muốn cùng Sri Lanka mở ra giai đoạn hợp tác mới, sâu sắc hơn, thực chất hơn và hiệu quả hơn.

Tôi vui mừng thông báo với Quốc hội và Nhân dân Sri Lanka rằng trên nền tảng tin cậy chính trị, tình hữu nghị truyền thống và nhu cầu hợp tác ngày càng sâu rộng, Việt Nam và Sri Lanka đã nhất trí nâng cấp quan hệ hai nước lên Đối tác toàn diện. Đây là dấu mốc quan trọng, mở ra không gian hợp tác mới, toàn diện hơn, thực chất hơn và hiệu quả hơn giữa hai nước.

Với khuôn khổ quan hệ mới này, chúng ta có điều kiện thuận lợi hơn để làm sâu sắc hợp tác chính trị, quốc phòng - an ninh, kinh tế, thương mại, đầu tư, nông nghiệp, giáo dục, văn hoá, du lịch, khoa học - công nghệ, chuyển đổi số và phối hợp đa phương.

Trên tinh thần đó, tôi xin đề xuất một số hướng hợp tác lớn.

Thứ nhất, tăng cường tin cậy chính trị và hợp tác nghị viện.

Hai nước cần tiếp tục duy trì trao đổi đoàn cấp cao và các cấp; tăng cường hợp tác giữa các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội và địa phương hai nước; phát huy vai trò các cơ chế tham vấn, đối thoại, ủy ban hỗn hợp và các kênh hợp tác song phương.

Đặc biệt, Quốc hội hai nước có thể tăng cường trao đổi kinh nghiệm về lập pháp, giám sát, cải cách hành chính, chuyển đổi số trong hoạt động nghị viện, xây dựng pháp luật phục vụ phát triển bền vững, bảo vệ nhóm yếu thế, thúc đẩy bình đẳng giới và tạo cơ hội cho thanh niên. Việt Nam mong muốn hai Quốc hội thúc đẩy hoạt động của các nhóm nghị sĩ hữu nghị, làm cầu nối để quan hệ hai nước ngày càng gần gũi, thực chất.

Thứ hai, tạo chuyển biến mạnh mẽ hơn trong hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư.

Hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Sri Lanka còn nhiều dư địa. Hai nước có thị trường, sản phẩm, vị trí địa lý và năng lực bổ trợ cho nhau. Việt Nam có thể là cầu nối để Sri Lanka tăng cường hợp tác với ASEAN và Đông Nam Á; Sri Lanka có thể là cầu nối quan trọng để Việt Nam mở rộng hợp tác với Nam Á và khu vực Ấn Độ Dương.

Hai bên đã thống nhất mục tiêu đưa kim ngạch thương mại song phương lên 1 tỉ USD trong tương lai gần; đồng thời khuyến khích các biện pháp thiết thực như tạo thuận lợi thương mại, tăng kết nối doanh nghiệp, trao đổi đoàn xúc tiến, triển lãm, hội thảo, kết nối cung - cầu và xem xét các khuôn khổ pháp lý thuận lợi hơn cho đầu tư, thương mại.

Mục tiêu 1 tỉ USD không chỉ là một con số. Đó là biểu tượng cho niềm tin mới, động lực mới và không gian hợp tác mới giữa cộng đồng doanh nghiệp hai nước. Tôi đề nghị các cơ quan hữu quan hai nước phối hợp chặt chẽ, cụ thể hóa các thỏa thuận đã đạt được thành chương trình, dự án và kết quả thiết thực cho người dân, doanh nghiệp hai nước.

Các lĩnh vực có thể ưu tiên gồm nông nghiệp, chế biến thực phẩm, sản xuất, năng lượng tái tạo, linh kiện điện tử và ô tô, dược phẩm, bệnh viện, viễn thông, logistics, hạ tầng, du lịch, dịch vụ và công nghệ thông tin. Đây là những lĩnh vực mà Sri Lanka đã bày tỏ quan tâm thu hút đầu tư và hợp tác với Việt Nam.

Thứ ba, đẩy mạnh hợp tác nông nghiệp, an ninh lương thực và phát triển nông thôn.

Nông nghiệp là lĩnh vực rất gần gũi với cả hai quốc gia. Việt Nam sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm với Sri Lanka như tinh thần Tuyên bố chung năm 2025. Tôi tin rằng hợp tác nông nghiệp giữa hai nước không chỉ tạo thêm giá trị kinh tế, mà còn góp phần bảo đảm an ninh lương thực, sinh kế cho người dân nông thôn, thích ứng biến đổi khí hậu và thúc đẩy phát triển bao trùm.

Thứ tư, phát triển các động lực hợp tác mới: kinh tế biển, logistics, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và tăng trưởng xanh.

Sri Lanka có vị trí chiến lược tại Ấn Độ Dương, là điểm kết nối quan trọng của các tuyến hàng hải quốc tế. Việt Nam là quốc gia ven biển ở Đông Nam Á, đang thúc đẩy chiến lược phát triển kinh tế biển bền vững. Hai nước có thể hợp tác trong logistics, cảng biển, vận tải, thương mại hàng hải, bảo vệ môi trường biển, ứng phó thiên tai và phát triển kinh tế biển xanh.

Hai bên cũng có thể đẩy mạnh hợp tác trong chuyển đổi số, thương mại điện tử, trí tuệ nhân tạo, chính phủ số, dịch vụ công số, giáo dục số, y tế số, năng lượng tái tạo và tài chính xanh. Hai nước đã cam kết hợp tác trong khai thác các công nghệ mới, trong đó có trí tuệ nhân tạo, thương mại điện tử và chuyển đổi số, phục vụ phát triển bền vững và nâng cao chất lượng dịch vụ công. Đây là những lĩnh vực không bị giới hạn bởi khoảng cách địa lý. Trí tuệ, công nghệ, sáng tạo và dữ liệu có thể trở thành những cây cầu mới nối liền Việt Nam và Sri Lanka.

Thứ năm, tăng cường giáo dục, văn hoá, du lịch và giao lưu Nhân dân.

Quan hệ giữa hai quốc gia chỉ thật sự bền chặt khi được nuôi dưỡng không chỉ bằng thỏa thuận và văn kiện, mà bằng sự hiểu biết, giao lưu và tình cảm của người dân hai nước.

Việt Nam và Sri Lanka có nhiều điều kiện để phát triển du lịch văn hóa, du lịch Phật giáo, du lịch di sản, du lịch biển và du lịch sinh thái. Hai bên đã nhất trí tầm quan trọng của kết nối hàng không và khuyến khích các hãng hàng không sớm mở đường bay trực tiếp; đồng thời thúc đẩy các biện pháp tạo thuận lợi cho du lịch, kinh doanh và giao lưu Nhân dân.

Hai nước cũng cần tăng cường trao đổi sinh viên, học giả, nhà nghiên cứu, nghệ sĩ, doanh nghiệp trẻ; mở rộng học bổng; thúc đẩy hợp tác giữa các trường đại học, viện nghiên cứu; tổ chức các tuần lễ văn hóa Việt Nam tại Sri Lanka và Sri Lanka tại Việt Nam. Việt Nam trân trọng việc Sri Lanka sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm về khảo cổ học, bảo tồn di sản văn hóa; đồng thời Việt Nam cũng mong muốn tăng cường hợp tác trong nghiên cứu Phật giáo, văn hóa và lịch sử giữa hai nước.

Tôi cũng mong Quốc hội, Chính phủ và Nhân dân Sri Lanka tiếp tục quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi để cộng đồng người Việt Nam tại Sri Lanka ổn định cuộc sống, hội nhập tốt với xã hội sở tại và đóng góp tích cực cho quan hệ hữu nghị giữa hai dân tộc.

Thứ sáu, phối hợp chặt chẽ tại các diễn đàn khu vực và quốc tế.

Trong một thế giới đầy biến động, các quốc gia đang phát triển cần tăng cường đoàn kết, hợp tác và tiếng nói chung. Việt Nam và Sri Lanka cùng coi trọng chủ nghĩa đa phương, luật pháp quốc tế, vai trò của Liên hợp quốc, Phong trào Không liên kết và các cơ chế hợp tác khu vực.

Hai nước cần tiếp tục phối hợp trong các vấn đề cùng quan tâm như hòa bình, ổn định, an ninh và an toàn hàng hải; chống tội phạm xuyên quốc gia, khủng bố, tội phạm mạng, nhập cư bất hợp pháp; tham gia gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc; ứng phó biến đổi khí hậu; thúc đẩy tài chính khí hậu cho các quốc gia đang phát triển; và thực hiện các Mục tiêu phát triển bền vững. Tuyên bố chung năm 2025 cũng khẳng định tầm quan trọng của hòa bình, ổn định, an ninh, tự do hàng hải và tôn trọng luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982.

Việt Nam hoan nghênh định hướng của Sri Lanka tăng cường hợp tác với Đông Nam Á và ASEAN. Việt Nam sẵn sàng làm cầu nối để Sri Lanka mở rộng hợp tác với ASEAN; đồng thời mong muốn Sri Lanka tiếp tục là cầu nối để Việt Nam tăng cường quan hệ với Nam Á và khu vực Ấn Độ Dương.

Thưa quý vị và các bạn,

Các quốc gia vừa và nhỏ không tìm kiếm sức mạnh bằng đối đầu. Chúng ta tìm kiếm sức mạnh bằng đoàn kết, bằng luật pháp quốc tế, bằng năng lực tự cường, bằng chất lượng quản trị, bằng niềm tin của Nhân dân và bằng sự tin cậy giữa các dân tộc.

Việt Nam hiểu sâu sắc giá trị của hòa bình, bởi chúng tôi đã trải qua chiến tranh. Việt Nam hiểu giá trị của độc lập, bởi chúng tôi đã phải đấu tranh lâu dài để giành và giữ độc lập. Việt Nam hiểu giá trị của phát triển, bởi chúng tôi đã đi lên từ nghèo khó. Và Việt Nam hiểu giá trị của bạn bè, bởi trong những năm tháng khó khăn nhất, chúng tôi đã nhận được sự ủng hộ, đoàn kết và tình cảm quý báu của Nhân dân tiến bộ trên thế giới, trong đó có Nhân dân Sri Lanka.

Ngày nay, Việt Nam mong muốn biến tình hữu nghị truyền thống thành nguồn lực phát triển thực sự; biến sự tin cậy chính trị thành hợp tác kinh tế cụ thể; biến giao lưu văn hóa thành sự hiểu biết sâu sắc; biến khát vọng chung thành những dự án, chương trình và lợi ích thiết thực cho Nhân dân hai nước.

Tôi tin tưởng rằng với nền tảng hơn nửa thế kỷ quan hệ ngoại giao, với sự tương đồng về lịch sử, văn hóa và khát vọng phát triển, với quyết tâm của lãnh đạo và sự ủng hộ của Nhân dân hai nước, quan hệ Việt Nam - Sri Lanka sẽ bước vào một giai đoạn phát triển mới, sâu sắc hơn, thực chất hơn và hiệu quả hơn.

Thưa Ngài Chủ tịch Quốc hội,

Thưa các vị nghị sĩ,

Thưa quý vị và các bạn,

Từ Hà Nội đến Colombo, từ Biển Đông đến Ấn Độ Dương, chúng ta có chung một niềm tin: hòa bình là nền tảng, Nhân dân là trung tâm, phát triển là mục tiêu và hữu nghị là cây cầu bền vững nhất nối liền hai dân tộc.

Chúc Quốc hội Sri Lanka tiếp tục là biểu tượng của ý chí, trí tuệ và khát vọng của Nhân dân Sri Lanka.

Chúc Nhà nước, Chính phủ và Nhân dân Sri Lanka hòa bình, ổn định, phát triển bền vững và thịnh vượng.

Chúc quan hệ hữu nghị và hợp tác Việt Nam - Sri Lanka không ngừng phát triển, vì lợi ích của Nhân dân hai nước, vì hòa bình, ổn định và thịnh vượng của khu vực và thế giới.

Trân trọng cảm ơn.

Chủ Nhật, 3 tháng 5, 2026

Phim Bi, Đừng Sợ! (2011) full

 

Bi, đng s! gây tranh lun 15 năm trước

Bi, đng s! là phim điện ảnh đầu tay của đạo diễn Phan Đăng Di, ra mắt năm 2010 và là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất của làn sóng điện ảnh độc lập Việt Nam, gặt hái nhiều giải thưởng quốc tế lớn.

Trong đó có hai giải danh giá tại Tuần lễ phê bình điện ảnh quốc tế Cannes: giải ACID/CCAS từ Hiệp hội Các nhà phát hành phim độc lập và giải SACD dành cho kịch bản xuất sắc nhất.

Tuy nhiên sau khi ra mắt khán giả trong nước vào một năm sau đó, "đứa con" của Phan Đăng Di lại gây chia rẽ công chúng và giới chuyên môn, phê bình.

Trong khi nhiều khán giả cho rằng phim khó hiểu, đi ngược với những gì quen thuộc, thậm chí có một số cảnh nóng "vượt" ngưỡng tiếp cận khi mô tả trực diện về tình dục và những khao khát bản năng của con người; thì giới chuyên môn và những người yêu điện ảnh lại đánh giá cao.

Sau này, trong cuốn sách Phác tho đinh Vit Nam thi đi mi và hi nhxuất bản năm 2023, TS Ngô Phương Lan - Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến phát triển điện ảnh Việt Nam - cho rằng "phim của Phan Đăng Di thể hiện con người và xã hội Việt Nam táo bạo và khá mới mẻ, nhưng theo "gu" phương Tây. Vì vậy phim đến với khán giả Việt Nam rất chậm và khó khăn".

Đạo diễn từng chia sẻ "thế giới của Bi là một thế giới đơn giản, đầy những thứ đẹp đẽ đang chờ nó khám phá. Nó không cần biết đến những điều phức tạp, đáng sợ của thế giới người lớn. Nó chỉ vô tư chơi đùa, nó được mẹ yêu thương, che chở. Vì thế nó chẳng có gì phải sợ. Bi, đng s! thực ra là câu mà người lớn đang tự nói với chính mình, như một cách tự trấn an".

 https://youtu.be/mmomYkpg_Qk?si=cqhHqD3-o9A_CjLm

Thứ Sáu, 1 tháng 5, 2026

Hình ảnh không thể quên về chiến tranh Việt Nam của Nick Út

 Nick Út, tên thật Huỳnh Công Út, (sinh năm 1951) là người Mỹ gốc Việt. Ông là phóng viên ảnh cho hãng tin Associated Press, người chụp bức ảnh em bé Phan Thị Kim Phúc và những đứa trẻ khác bị bỏng do bom napalm của Mỹ tại Trảng Bàng – Tây Ninh (bức ảnh thường được biết với tên bức ảnh “Em bé Napalm” – “Vietnam Napalm Girl”). Bức ảnh đã mang lại cho ông giải Pulitzer và ông trở nên nổi tiếng.

Cùng xem lại một số bức ảnh tiêu biểu của ông về cuộc chiến tranh Việt Nam. Hình ảnh không thể quên về chiến tranh Việt Nam của Nick Út

Anh de doi ve chien tranh Viet Nam cua Nick Ut (1) - Anh 1

Một lính Mỹ bị thương khi đang tác chiến trong một khu rừng ở miền Nam trong cuộc chiến tranh Việt Nam, ngày 22/8/1969. Ảnh: AP Photo / Nick Ut

Anh de doi ve chien tranh Viet Nam cua Nick Ut (1) - Anh 1

Lính thủy đánh bộ VNCH di chuyển tới điểm tập kết để được trực thăng Mỹ chở đi sau khi càn quét khu vực phía Đông thị trấn Prey-Veng ở Campuchia, tháng 6/1970. Ảnh: AP Photo / Nick Ut

Anh de doi ve chien tranh Viet Nam cua Nick Ut (1) - Anh 1

Quân đội Sài Gòn chuyển các trang bị lên xe tải tại căn cứ Khe Sanh để chuẩn bị hành quân về các khu vực ven biển sau khi chiến dịch Lam Sơn 719 kết thúc, ngày 28/3/1971. Ảnh: AP Photo / Nick Ut

Anh de doi ve chien tranh Viet Nam cua Nick Ut (1) - Anh 1

Lính Sư đoàn 21 quân đội VNCH lội bùn trong khi tuần tra quanh một trạm chỉ huy mới ở rừng U Minh, ngày 1/8/1971. Ảnh: AP Photo/ Nick Ut

Anh de doi ve chien tranh Viet Nam cua Nick Ut (1) - Anh 1

Thống đốc bang California Ronald Reagan, người sau này trở thành Tổng thống Mỹ, cùng vợ là bà Nancy chào một nhóm phi công Mỹ tại căn cứ không quân Tân Sơn Nhất ở Sài Gòn, ngày 15/10/1971. Ảnh: AP Photo/ Nick Ut

Anh de doi ve chien tranh Viet Nam cua Nick Ut (1) - Anh 1

Lính VNCH di chuyển bằng xe bọc thép qua một đường mòn um tùm cây cối gần khu đồn điền cao su Mimot của Campuchia, ngày 26/11/1971. Ảnh: AP Photo/ Nick Ut

Anh de doi ve chien tranh Viet Nam cua Nick Ut (1) - Anh 1

Lính VNCH đưa đồng đội bị thương lên xe quân sự ở phần lãnh thổ Campuchia gần biên giới Việt Nam, ngày 2/12/1971. Ảnh: AP Photo/ Nick Ut

Anh de doi ve chien tranh Viet Nam cua Nick Ut (1) - Anh 1

Một binh sĩ Sài Gòn nói chuyện qua máy điện đài trên máy bay trực thăng bay gần Chrum, Campuchia vào ngày 2/12/1971, khi một trực thăng chở lính khác bay gần đó. Ảnh: AP Photo/ Nick Ut

Anh de doi ve chien tranh Viet Nam cua Nick Ut (1) - Anh 1

Người dân di tản từ thị xã An Lộc nghỉ ngơi ở một mương cạn ven đường, tháng 2/1972. Thị xã An Lộc nằm cách đó 8 dặm về phía Bắc, đang bị quân Giải phóng bao vây. Những cột khói bốc lên từ hoạt động không kích để giải vây cho thị xã của Mỹ và quân đội Sài Gòn. Ảnh: AP Photo/ Nick Ut

Anh de doi ve chien tranh Viet Nam cua Nick Ut (1) - Anh 1

Lính Sài Gòn vượt qua một con sông gần biên giới Campuchia, 11/3/1972. Ảnh: AP Photo/ Nick Ut

Anh de doi ve chien tranh Viet Nam cua Nick Ut (1) - Anh 1

Binh lính VNCH quan sát các cuộc oanh tạc của máy bay B-52 Mỹ vào các vị trí của quân Giải phóng cách 8 dặm về phía Tây thị xã Đông Hà, Quảng Trị, 11/4/1972. Ảnh: AP Photo/ Nick Ut

Anh de doi ve chien tranh Viet Nam cua Nick Ut (1) - Anh 1

Xe tăng T-54 do quân đội VNCH thu từ lực lượng Giải phóng trong chiến dịch Lam Sơn được trưng bày bên Phu Văn Lâu ở Hoàng thành Huế, tháng 4/1972. Ảnh: AP Photo/ Nick Ut.

Anh de doi ve chien tranh Viet Nam cua Nick Ut (1) - Anh 1

Khói bốc lên sau các đợt không kích của máy bay Mỹ vào vị trí của quân Giải phóng gấn Quốc lộ 13 phía Bắc Sài Gòn ngày 19/4/1972. Ảnh: AP Photo/ Nick Ut.

Anh de doi ve chien tranh Viet Nam cua Nick Ut (1) - Anh 1

Một chiếc máy bay Skyraider thuộc phi đội 518 của không lực VNCH ném một quả bom Napalm xuống làng Trảng Bàng, Tây Ninh ngày 8/6/1972. Ảnh: AP Photo/ Nick Ut.

Anh de doi ve chien tranh Viet Nam cua Nick Ut (1) - Anh 1

Làng Trảng Bảng bùng cháy do bom napalm, ngày 8/6/1972. Ảnh: AP Photo/ Nick Ut.

Anh de doi ve chien tranh Viet Nam cua Nick Ut (1) - Anh 1

Một cụ bà chạy khỏi làng Trảng Bàng, trên tay bế em bé bị bỏng nặng do bom napalm, 8/6/1972. Ảnh: AP Photo/ Nick Ut.

Anh de doi ve chien tranh Viet Nam cua Nick Ut (1) - Anh 1

Cô bé 9 tuổi Kim Phúc bỏ chạy trong hoảng loạn vì bỏng bom napalm tại làng Trảng Bàng, 8/6/1972. Bức ảnh này đã đem lại cho phóng viên Nick Út giải thưởng Pulitzer năm 1973 cho hạng mục Ảnh tin tức và đi vào lịch sử với cái tên “Em bé Napalm”.

Anh de doi ve chien tranh Viet Nam cua Nick Ut (1) - Anh 1

Một người lính VNCH đang cúi xuống bên cạnh đồng đội bị bỏng nghiêm trọng do bom những quả bom napalm ném sai mục tiêu ởTrảng Bàng, 8/6/1972. Ảnh: AP Photo/ Nick Ut.

Hình ảnh không thể quên về chiến tranh Việt Nam của Nick Út

Hai vợ chồng với năm đứa con di chuyển theo quốc lộ 13, từ An Lộc về Sài Gòn bằng xe máy, ngày 19/6/1972. Ảnh: AP Photo/ Nick Ut.

Anh de doi ve chien tranh Viet Nam cua Nick Ut (1) - Anh 1

Người dân tìm kiếm thức ăn và các đồ vật có giá trị trong đống đổ nát của chợ An Lộc ngày 22/6/1972, khi chiến sự tạm lắng ở nơi đây. Ảnh: AP Photo/ Nick Ut.

Anh de doi ve chien tranh Viet Nam cua Nick Ut (1) - Anh 1

Xe thiết giáp của quân đội VNCH di chuyển trên một kênh rạch ở tỉnh Định Tường (một phần của tỉnh Tiền Giang ngày nay), ngày 7/8/1972. Ảnh: AP Photo/ Nick Ut.

Anh de doi ve chien tranh Viet Nam cua Nick Ut (1) - Anh 1

Một người lính cầu khấn ở Lăng Ông Bà Chiểu, Sài Gòn ngày 24/1/1973. Ảnh: AP Photo/ Nick Ut.

Anh de doi ve chien tranh Viet Nam cua Nick Ut (1) - Anh 1

Vẻ sợ hãi của một phụ nữ di tản mang theo con nhỏ trên máy bay trực thăng quân sự gần Tuy Hòa, 22/3/1975. Ảnh: AP Photo/ Nick Ut.

S.T

Ảnh đặc biệt về cuộc sống đời thường ở Sài Gòn tháng 5/1975

Một “làn gió” tràn ngập khắp các ngả đường ở Sài Gòn những ngày đầu tháng 5/1975. Cùng cảm nhận điều này qua loạt ảnh do nhiếp ảnh gia Pháp Herve Gloaguen thực hiện.

Ảnh: Herve Gloaguen / Getty Images.

Ba chiến sĩ Giải phóng chạy xe Honda trên đường phố Sài Gòn, ngày 1/5/1975.

Một góc phố bình yên của Sài Gòn vào một buổi sáng đầu tháng 5/1975.

Anh bộ đội cầm tay bé gái trên vỉa hè.

Hai người lính trẻ trò chuyện với nhau trên đường phố.

Một phòng trọ treo cờ đỏ sao vàng trước cửa.

Hai vợ chồng chở hàng bằng xe máy trên đường Pasteur.

Những người phụ nữ bán xăng dầu trên đường phố.

Cô dâu và chú rể trong buổi tiệc cưới.

Hai chiến sĩ Giải phóng hội ngộ với người thân tại một cửa hàng.

Anh bộ đội viết thư về cho gia đình tại Bưu điện Thành phố.

Một cặp đôi tình tứ trên thảm cỏ công viên.

Các em nhỏ xem ảnh Bác Hồ được dán trên bức tường của một trường học.

Các em học sinh đang học cách chào quốc kỳ.

Ni cô ở chùa Ấn Quang.

Tại bậc thềm cổng chính của nhà thờ Đức Bà.

Người họa sĩ vẽ chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh để phục vụ lễ duyệt binh mừng chiến thắng ở Dinh Độc Lập.

Xe tăng của Quân đội Nhân dân Việt Nam tham gia buổi duyệt binh mừng chiến thắng ở Sài Gòn ngày 15/5/1975.

Các sinh viên đứng thành hàng để chuẩn bị diễu hành trong ngày lễ lớn.

Các quân nhân và người dân theo dõi lễ duyệt binh.

Nhiếp ảnh gia Herve Gloaguen tác nghiệp tại lễ duyệt binh.

CTV