Thứ Ba, 20 tháng 1, 2026

TIẾNG « KHẤU » TRONG TỪ-NGỮ « SÂN - KHẤU » NGHĨA LÀ GÌ? Xuan_Viet Nam_1965

 


Xuan_Viet Nam_1965 (microfilm).pdf         64401

Trở về Kho Sách Xưa 1

HCD: Đây là bản OCR, nhận mặt chữ trên hình trang báo Xuân Viet Nam và đánh máy lại, tôi chưa dò từng chữ, nếu cần thì các bạn nên so lai với trang sách trong microfilm có thể download từ Quán Ven Đường link bên trên

Dưới đây tôi dùng OCR (Optical Character Recognition) viết lại thành dạng text cho dễ đọc. Bài dài quá tôi không dò hết được từng chữ máy làm OCR sai. Bạn nào nghiên cứu hay tham khảo xin đọc bản in chánh dạng PDF download từ link trên.

 

TIẾNG « KHẤU » TRONG TỪ-NGỮ « SÂN - KHẤU » NGHĨA LÀ GÌ ?

(Lời tòa soạn: Thế theo lời mời của mấy bạn trẻ trong bộ biên-tập, chủ-trương báo Xuân, ngoài mấy chuyện vui lạ, những hồi-ký, dật-sử, nên có những bài biên-khảo sưu-tầm về phong-tục văn-hóa Việt-Nam, chúng tôi đăng tải bài này, mong được giúp ích các bạn hiếu-học, nhất là những bạn sinh viên môn ngữ-học, hằng để tâm nghiên cứu và phát-huy tinh thần tiếng mẹ đẻ.)

LÊ-NGỌC-TRỤ

(Giáo sư ngôn ngữ học tại Đại học Văn khoa Saigon. Rất thiết tha những gì thuần túy tốt đẹp của Việt-Nam.)

 

Trong ngôn-ngữ, sự mượn tiếng lẫn nhau là việc thông-thường giữa các dân tộc có liên hệ với nhau về lịch sử địa-dư, về chính trị văn-hóa và xã-hội sinh hoạt. Song mỗi dân tộc có mỗi giọng phát âm riêng biệt, có mỗi tinh thần ngôn-ngữ thích-đáng, nên thường khó nói lại đúng y như giọng ngoại-ngữ, vì vậy, âm-điệu các tiếng mượn lắm khi biến-trại cách xa với chính âm của nó. Phát-âm đã chẳng được đúng như ngoại-ngữ, mà còn ráng uốn sửa đồng hóa tiếng mượn cho hợp với âm-hưởng của tiếng mình, dân-tộc nào cũng có xu-hướng ấy.

Tiếng Việt mượn nhiều tiếng của mấy dân-tộc láng-diềng, nhất là của Trung-Hoa, mà lối mượn lại càng đặc-biệt. Nhà nho mượn chữ Hán của kinh-điển sách-vở Trung-Hoa, nhưng không đọc theo giọng Tàu, lại phát-âm bằng giọng Việt. Kết-quả là tiếng Hán-Việt ngày nay. Rồi lại vịn vào tiếng Hán-Việt, ta biến-trại uốn-sửa âm-thanh của nó mà tạo nên nhiều tiếng Việt mới khác, để nó đủ ngôn-ngữ cung-ứng cho nhu-cầu xã-hội sinh-hoạt. Trong lúc ấy, bình-dân đại-chúng giao-thiệp tiếp-xúc với người Trung-Hoa, thì mượn thẳng ngay nơi giọng nói của họ, — giọng người Trung-Hoa miền Nam cũng như giọng người miền Bắc —, rồi cũng uốn-sửa Việt-hóa các tiếng mượn ấy. Kết-quả lâu đời được thông-dụng các tiếng mượn đã trở thành tiếng Việt-Nam thiệt-thọ, ngày nay khó nhận ra là mượn nữa.

Và tiếng Việt nhờ cấu-tạo theo hai lối nói trên, — lối nho-hóa là lối mượn của giới trí-thức đã khai-thác kho-tàng chữ Hán, và lối dân-hòa là lối mượn của giới bình dân —, mà được trở nên phong-phú dồi-dào. Chỗ đặc-biệt là các sự biến trại tiếng mượn đã theo một hệ-thống tinh thần Việt-ngữ.

Vì vậy, khi khảo-sát tiếng Việt, ta nên chú-trọng đến phương-diện Việt-hóa tiếng mượn, và hệ-thống biến âm của tiếng mẹ đẻ.

Trong lúc tìm hiểu nghĩa mỗi tiếng, mỗi từ ngữ để chuẩn bị công việc biên soạn một quyển tự-điển Việt-Nam, tôi thắc mắc không biết tiếng « khấu » trong từ ngữ « sân khấu » nghĩa là gì, nó là tiếng Việt thuần túy, tiếng Hán-Việt hay là một tiếng mượn đã Việt-hóa.

Tra mấy tự-điển của Paulus Của, Génibrel, Việt-Nam tự-điển của Hội Khai trí, không thấy ghi tiếng Khấu này. Từ-điển của Cordier, Đào văn Tập, Thanh-Nghị ghi trơn từ-ngữ « sân-khấu » và giải thích đại đề : « khoảng rộng trong rạp hát để diễn trò (scène). » Có lẽ mấy tác giả này chỉ vịn vào công dụng của sự vật mà giải-nghĩa từ-ngữ sân-khấu, chứ chắc không nhận-thức được ý-nghĩa của chữ khấu riêng rẽ.

 

Hai ông Lý-văn-Hùng và Thôi-tiêu-Nhiên trong quyển Mô-phạm Việt-Hoa từ-điển, nơi chữ

khấu có ghi và giải thích bằng Hán-văn từ-ngữ sân-khấu : « Khấu đầu tạ ân chi trường, kim tả dụng chỉ hỉ trường », đại ý nghĩa là : « chỗ (ban hát) « khấu đầu » (cúi đầu) tạ ân (khán giả), nay mượn dùng để chỉ trường hát. » Có lẽ tác-giả muốn dùng từ-ngữ khấu đầu để gợi ý-nghĩa của chữ khấu trong từ-ngữ « sân khấu » chăng ? Như thế, thì mặc nhiên tác giả cho tiếng khấu là tiếng Hán-Việt và nó là một tiếng của từ-ngữ « khấu đầu ».

Chúng tôi không vừa ý với câu giải-thích trên về chữ khấu, và suy cứu theo khía cạnh khác, cho rằng đây là một tiếng mượn đã bị biến âm, lâu đời khó truy ra tiếng gốc, nên không hiểu được ý nghĩa chính-xác của nó.

 

Theo sử, nghệ-thuật hát bội được truyền sang nước ta từ thời nhà Trần, Việt-Nam sử-lược Trần-Trọng-Kim ghi : « khi quân nhà Trần đánh được quân nhà Nguyên (1284-1288) có bắt được một tên hát bội là Lý-Nguyên-Cát. Sau nó ở lại nước ta lấy cổ truyện mà đặt thành bài tuồng rồi dạy người mình hát. Khi con hát làm trò thì mặc áo gấm, áo vóc, theo dịp đàn, dịp trống mà hát. Sự hát tuồng của người Việt-Nam khởi đầu từ đấy. » Vậy lối hát này do người Nguyên truyền sang, và người Nguyên là dân Mông-Cổ nói giọng Trung-Hoa miền Bắc.

Theo dữ-kiện ấy, tôi tìm tài liệu trong sách Hán, thấy bộ Từ Hải nơi chữ khoa bạch 科白, giải thích như vầy : « Hí kịch trung hữu khoa bạch. Thủy ư Nguyên nhơn khúc bản, khoa vi cử chỉ, vị dĩ động tác biểu tình giả ; bạch vi ngôn đàm, vị dĩ ngôn ngữ biểu tình giả » : Đại ý là : « Lối hát tuồng có khoa bạch, khởi đầu từ thời nhà Nguyên. Trong bản tuồng, khoa là cử-chỉ kể khi dùng điệu bộ động-tác để biểu diễn tình cảm ; bạch là nói-năng, kể khi dùng lời nói đối-đáp hát xướng để biểu diễn tình-cảm ». Quyển Hán-Việt tự-điển của Thiều Chửu, nơi chữ Khoa nghĩa thứ 9, cũng giải-thích rằng : « Trong các bản tuồng chia ra từng tấn gọi là khoa bạch, khoa là chỉ về phần cử-động, bạch là chỉ về phần nói năng. » Vậy khoa là cử-động, là điệu bộ múa-men khi diễn kịch.

 

Chữ khoa  phát âm theo giọng Hán-Việt, giọng Tàu miền Bắc phát-âm là « khỏ » (!) hoặc « khổ » hay « khớ ». Và khoa bạch là « khớ bái ». Có lẽ khi xưa đã mượn âm khổ, khớ rời Việt-hóa thành ra tiếng khấu ngày nay chăng. Và nếu quả như vậy, ta mới hiểu được lọn nghĩa từ-ngữ « sân khấu » là : « nơi kép hát khoa bạch, cử-động múa-men hát xướng để diễn kịch ». Xét về âm với nghĩa của tiếng khấu, chuyển gốc ở từ ngữ « khoa bạch » là lối hát của người Nguyên bày ra, thì nó phù-hợp với lịch-sử đã ghi về lai-lịch lối hát bội, chúng tôi cho có thể là hợp lý lắm, xin thỉnh-giáo quý vị cao minh.

Vả chăng, do chữ « khoa » với nghĩa « cử-động », ta cũng mượn thẳng bên âm và nghĩa của tiếng Hán-Việt mà tạo thành tiếng khoa, trong câu « khoa chân khoa tay » là « múa chân múa tay » (Việt-Nam tự-điển). Hoặc đã biến âm tiếng khoa của Hán-Việt thành tiếng khua, trong câu « khua tay múa chân » « khua môi khua mỏ »

« Khua tay múa chân », trong Nam cũng nói « Huơ tay múa chân » hoặc « Huơi tay múa chân », hai tiếng huơ, huơi này cũng có nghĩa là « cử-động » song thuộc về tự-nguyên khác, do gốc chữ huy . Còn câu « khua môi khua mỏ » cũng có ngụ-ý « khoe-khoang lớn lối, nên tiếng khua một phần cũng bị ảnh-hưởng liên-hệ của tiếng khoa là « khoe ».

Nhân tiếng khua, chúng tôi tìm thấy một tự-nguyên khác, khi khua nghĩa là « cử-động mà có tạo nên tiếng động, như « khua động », « khua chén », « khua bát », « khua chuông gõ mõ »

« Tiếng tiều khua như đứt buồng gan » (chinh phụ)

« Gió cây khua phách, nước khe dạo đàn » (Phương Hoa) thì tiếng khua này chuyển nơi chữ tiếng khấu  là « gõ », « khỏ », là « khảy » hoặc « gảy » đàn. Hán-Việt tự-điển Thiều Chửu nơi khấu, nghĩa thứ 4, ghi : khấu môn : gõ cửa ; nghĩa thứ 6 : « gảy, lấy tay gảy đàn gọi là khấu huyền. »

Căn-cứ vào âm và nghĩa mà truy nguyên, ta thấy tiếng khấu  cho ra tiếng khỏ (gõ)khua và khảy (gảy), hay nói ngược trở lại, các tiếng Việt « khảy (gảy) đàn, khỏ (gõ), « khua động » chuyển nơi tiếng khấu  của Hán Việt.

Và tiếng khoa  cho ra các tiếng Việt : khoa, khua cử động và khấu, nếu khấu  cho ra « khua động » thì khoa cho ra khua (cử-động) và khấu, có thể hiểu được lắm. Sự liên-quan suy-loại này giúp chúng tôi vững tin rằng tiếng khấu trong từ-ngữ « sân-khấu » chuyển gốc nơi từ-ngữ Hán-Việt : khoa bạch.

Đây là một thí-dụ trong muôn vàn để chứng minh khả-năng đồng-hóa tiếng mượn trong ngôn ngữ ta, là sức biến-hóa phát-triển của tiếng Việt nó tiêu-biểu sức sống mãnh-liệt trường-tồn và tinh-thần bất-khuất, tự-chủ, vượng-tiến của dân tộc Việt-Nam.

Với chủ-trương « xây dựng quốc-học » của Chánh-phủ và Bộ Văn-hóa giáo-dục, chúng tôi hy-vọng và tha-thiết được thấy thực-hiện một Viện Ngữ học để đôn-đốc khảo-cứu tiếng mẹ để thâu-thập và điển-chế ngôn-ngữ, hầu soạn nên bộ tự-vị Việt Nam.

Có hiểu thấu được tinh-thần ngôn-ngữ, hồn thiêng của đất nước, mới ý-thức sâu-xa tinh-thần quốc-gia, nghĩa đồng-bào, mới cảm-thông lẽ sống còn của dân-tộc mà thương yêu đoàn kết với nhau.