Xuan_Viet Nam_1965 (microfilm).pdf 64401< == click để xem hay right click để download
Tờ báo Xuân nầy xuất bản năm 1965 được lưu trử dưới dạng microfilm trong một trường Đại học Mỹ. Download link trên nếu thích. Còn mấy mươi tờ báo Xuân ngày xưa nơi đây Báo Xuân
Dưới đây tôi dùng OCR (Optical Character Recognition) viết lại thành dạng text cho dễ đọc. Bài dài quá tôi không dò hết được từng chữ máy làm OCR sai. Bạn nào nghiên cứu hay tham khảo xin đọc bản in chánh dạng PDF download từ link trên.
Nguyên tác: LÂM NGỮ ĐƯỜNG
Dịch giả: NGUYỄN XUÂN DÂNG
Tiểu thuyết gia ở Trung quốc thường có 1 lối tâm lý đặc thù, họ không sáng tác tiểu thuyết là vì Nho giáo, làm cho kẻ không đáng kể và sợ các hiện đại phương tây bài xích nữa, cho nên họ thường đặt tên mà không dám lộ cho ai biết. Xin lấy việc gán đầy làm tỉ dụ : ông Thị Nhị Minh về thế kỷ thứ 18 viết 18 quyển « Đã tấu bộc ngôn ». Vẫn nói tiểu thuyết là thật hay có nhiều ý kiến trác tuyệt cao cùng những tư tưởng lớn, cũng giống lối ký chuyện truyền thuyết, văn chương ông cũng giống như những văn chương điển hình của các văn nho gia chính thống hiện còn ghi chép trong bộ Hạ Mậu Tư toàn tập. Tuy cũng là soạn giả cuốn « Đã tấu bộc ngôn » không dám đề tên người soạn, nhưng ta thấy chính ông là soạn giả cuốn « Đã tấu bộc ngôn » vì căn cứ trên những văn chương trọn vẹn và toàn bộ của sách mà chứng minh thì rõ. Mùa thu năm 1890 đăng trên một tạp chí văn học, bộ Hạ Mậu Tư toàn tập, khiến cho ai cũng được lưu truyền mãi mãi, không biết vì tánh tò mò hay là không muốn đem bộ tiểu thuyết này vào trong tạp chí, kỳ thực bộ tiểu thuyết này là tác phẩm văn học rất hay của Hạ Quân. Lại như bộ « Hồng lâu mộng » mãi đến năm 1917 mới do lỗi khắc chương các bác sĩ Hô Chân xác nhận tác giả là Tào Tuyết Cần. Ông là trong các trí thức gia tàn dư của triều đại cũ Trung quốc và có thể nói là Tân văn đại gia duy nhất không thiên tuyệt hẳn (nói về lối văn và bạch thoại). Đến nay chúng ta vẫn chưa hiểu rõ tác giả Kim Bình Mai là ai. Và đến nay chúng ta cũng chưa quyết định trong 2 người Thị Nhị Am cùng La Quán Trung, ai là tác giả chính của bộ Thủy Hử.
Đoạn mở đầu kết của bộ « Hồng lâu mộng » đó là 1 thứ đặc trưng trong thái độ đối với tiểu thuyết, ta hãy xem họ nói ra sao :
“Nói chuyện lúc bà Nữ Oa luyện đá vá trời, bà đã luyện thành 36501 khối đá (ngoan thạch cao 12 trượng, rộng 24 trượng ở tây khe núi thuộc Đại hoang sơn). Bà Nữ Oa chỉ dùng hết 36500 khối, còn thừa 1 khối bỏ dưới Thanh canh phong. Sau khối đá này được 1 tăng 1 đạo mang xuống hồng trần 1 chuyến, lại trải qua không biết mấy đời mấy kiếp, nhân có Không Không đạo nhân đem tạo điêu đầu tiên, nên đi qua dưới Thanh canh phong. Vô kể Đại hoang sơn này, chợt thấy 1 khối đá lớn, nét chữ trên mặt rất phân minh, bên chép rõ ràng, kể rõ ngọn xuống, chốn đâu cùng những việc vân vật trong gia đình, cảnh nhân tình như thế cả. Không Không đạo nhân xem qua 1 lượt được biết khối đá này có chép lại hiện sao lại từ đầu đến cuối đem truyền cho người đời. Sau này nhân Tao Tuyết Cần xem xét trong 10 năm ở Điêu hồng hiên thêm bớt 5 lần soạn thành mạc lục chia ra chương hồi và đề là « Hồng lâu mộng ». Trên đây tức là duyên do của bộ Thạch đầu ký.”
Thơ :
Đầy dẫy lời hoang đường
Một mớ lệ đau khô
Đều do tác giả si,
Ai hiểu mùi trong đó.
Đoạn kết thúc của câu này, chẳng ngay vào lúc hoạt kịch trong đời đến tối lúc rất bi thảm, khi mà vai chính Giả Bảo Ngọc gột đầu đi tu, cái linh tính đa tình thiện cảm của Bảo Ngọc đã trở lại nguyên hình khối ngoan thạch của bà Nữ Oa luyện khi xưa, mà vì Không-Không đạo nhân vừa nói lại gì sau dưới Thanh canh phong, ông nhìn thấy khối đá khắc chép bao nhiêu là câu chuyện nhân duyên kết quả, nhân lại soạn thành 1 bản, tìm đến Điêu hồng hiên trao cho Tao Tuyết Cần. Tao tuyết Cần cười nói : « Đã là giả cũng thơm ngon (lời nói quả mùa) nhưng không có cho nhân gian trái ngược. Vui được cũng 2, 3 bạn đồng chí, rượu say cơm no, rượu đã đến khuya, cũng tiêu khiển đôi chút, thì cần gì những bậc đại nhân hay tiên sinh mà để truyền cho đời. Cứ như cái lối tìm gốc xét nguồn xa người thì có khác gì kẻ khát vọng mà tìm không ? »
Không-Không đạo-nhân nghe xong ngửa mặt lên trời cả cười, ném bản sao xuống đất rồi lẳng lặng đi ra. Vừa đi ông vừa nói : « Quả nhiên là phù hoa hoang đường, không những tác giả không biết, sao giả không biết mà duyệt giả cũng không biết. Chẳng qua là văn chương chủ yếu mua vui mà thôi. Lại nghe nói người đời sau này bàn truyện ký này cũng có 4 câu thơ, để làm lời nói về duyên do của tác giả :
Nói đến chỗ đau khổ
Hoang đường thật đáng bi
Cuộc đời là cảnh mộng
Chớ nên cười người si »
Đây tuy là những câu nói hoang đường không thể tra xét vào đâu được, nhưng kể ra thật là cái động lòng người, bởi vì lại điểm lại thì tinh thần nhân vật trong chương này có chỗ hư thực và tìm vui thích mà ra. Sáng tác của họ hoàn toàn do động cơ sáng tác chân thành mà ra không phải vì danh vọng hay danh dự. Những người sáng tác tiểu thuyết không được đến giải thưởng hay danh dự mà còn vì sợ sáng tác tiểu thuyết nguy đến sinh mạng nữa.
Giang âm là quê quán của Thị Nhị Am, tác giả truyện Thủy Hử, đến nay vẫn còn lưu truyền một câu chuyện nói về Thị Nhị Am vì sao đã tránh khỏi sự nguy hiểm đến tính mạng. Cứ lối truyện thuyết thì Thị Nhị Am quả không hề ở vị trí đã biết trước những việc xảy ra. Nguyên lai trước đó ông không muốn làm quan với triều nhà Minh mà viết bộ tiểu thuyết này để tiêu khiển trong thời gian rỗi. Một hôm Chu thái Tổ cùng với Lưu Bá Ôn du hành đến Giang án. Lưu Bá Ôn là bậc đại học sĩ khôn ngoan, khi đó vì giúp nhà Minh có công, nên được triều đình coi vào bậc cột trụ. Bản thảo bộ Thủy Hử của Thị Nhị Am để trên bàn, không may bị Lưu Bá Ôn nhìn thấy. Bá Ôn với bút mực tài ba bỗng đọc thấy truyện sinh động ghê gớm nên lập tức tâu lên hoàng đế, nói rằng đây là chuyện có thể làm loạn lòng người. Thị Nhị Am bị bắt đem ra tra hỏi. Khi hỏi đến tác giả, ông giả vờ không biết chữ, chỉ nói là người chép thuê. Nhờ đó mới thoát chết. Cho nên có thể nói rằng : tiểu thuyết là một thứ văn chương nguy hiểm nhất.
Từ đó về sau tiểu thuyết ở vào hoàn cảnh không được coi là văn học chính thống. Những nhà nho chỉ coi tiểu thuyết là trò mua vui, không đáng kể. Nhưng vì vậy mà tiểu thuyết Trung Hoa mới có thể phát triển theo một hướng rất riêng, giàu sức tưởng tượng, nhiều tình cảm, nhiều sáng tạo, và cũng nhờ đó mà sinh ra những tác phẩm bất hủ cho đến ngày nay.
Theo lời bình luận của ký giả thì Hồng lâu mộng không hồ danh là một trong các tác phẩm vĩ đại của thế giới. Sự miêu tả nhân vật trong tác phẩm, nhân tình thấn thiết mà phong phú, đề tài cùng cố sự đều hoàn mỹ. Có thể xứng đáng với sự suy tôn sùng bái mà không hồ thẹn. Nhân vật của tác phẩm rất sống động so với bạn bè còn sống của chúng ta đối với chúng là còn thân cận thực tất khẩn thiết hơn, mà mỗi một nhân vật chỉ cần chúng nghe giọng điệu của lời nói là chúng ta đã có thể hiểu rõ là ai rồi. Tóm lại tác phẩm này đã cho chúng ta một câu chuyện cũ vĩ đại.
Dao đài, quỳnh quán một tòa Đại-quan-viên huy hoàng tráng lệ phú quí vinh hoa, một họ nhà quan đời đời trâm anh, bốn chị em gái cùng một cậu con trai lại thêm một người con gái có tư-dung diễm-lệ cùng sinh trưởng một nơi tóc tai cọ sát với những cảnh sinh hoạt vui chơi đùa giỡn; vài chục tì nữ rất mực thông minh, có kẻ tính tình ôn hòa nhã nhặn, có kẻ nồng nảy ngay thẳng, cũng có mấy người đem lòng luyến ái chủ nhân, cũng có mấy người tôi tớ không trung thành với chủ lại xen vào những vụ đánh ghen bêu xấu. Một vị lão thái gia cả năm chỉ mải lo việc quan ít khi ở nhà bao nhiêu công việc vật đều giao cho hai ba người con dâu nhưng cũng thu xếp đâu vào đấy cả. Một người thạo công việc, rất thông minh làm liều, đanh thép, là Phượng-Thư. Chủ động Gia-bảo-Ngọc là một cậu bé đang vào thời kỳ xuân tính phát động, vốn tính thông minh, linh lợi, thích len lỏi trong bọn phấn sáp. Cứ như trong truyện Gia-bảo-Ngọc ở trên cõi tiên sa xuống cõi trần trải qua kiếp vận để hiểu rõ tình duyên tức là nghiệp chướng trong cõi đời này. Cách sinh hoạt của Gia-bảo-Ngọc cũng giống như những đứa con một của những nhà đại gia ở Trung-Quốc, được săn sóc nuông chiều hết sức, hơn nữa là sự nịnh ái của bà nội. Bà nội là một vị lão thái thái uy quyền rất cao trong gia tộc. Nhưng Gia-bảo-Ngọc cũng có sợ một người đó là phụ thân của chàng. Bảo-Ngọc một khi nhìn thấy phụ thân thì không dám cựa. Bọn chị em trong Đại quan viên người nào cũng yêu quý Giả-bảo-Ngọc mà sự ăn uống thực ngủ của Gia-bảo-Ngọc đều do mấy người nữ tì quản cố, thậm chí họ phải hầu hạ chàng tắm rửa, và trông nom cho chàng thức, ngủ thâu đêm. Giả-bảo-Ngọc chung tình với Lâm-đại-Ngọc, Lâm-đại-Ngọc là một vị tiểu cô nương không cha mẹ ở nhờ nhà họ Giả, và là biểu muội của Giả-bảo-Ngọc. Nàng là một cô gái đa sầu hay ốm, nàng phải chứng tiêu hóa không tốt. Cứ phải dùng yên sào nhưng nhan sắc kiều diễm cùng tài thơ của nàng thì hơn hẳn bọn chị em, nàng yêu Giả-bảo-Ngọc với một tấm lòng hoàn toàn thuần khiết chân thật của xử nữ. Bảo-Ngọc lại có một người chị họ là Tiết-Bảo-Thoa nàng cũng yêu Bảo-Ngọc, nhưng nhiệt tình của nàng chỉ ngấm ngầm mà không bộc lộ, tính nàng ưa chuộng thiết thực, theo sự nhận xét của bậc già cả thì nàng so với Đại-Ngọc, có thể là người vợ xứng đáng hơn. Nên sau cùng do mưu vị lão thái thái làm chủ, dầu Bảo-Ngọc cùng Đại-Ngọc mà định việc hỏi Tiết-Bảo-Thoa cho Giả-bảo-Ngọc. Đại-Ngọc mãi đến lúc Bảo-Ngọc cùng Bảo-Thoa sắp thành hôn mới được biết tin này, làm cho nàng quá đau đớn mà phát ra tiếng cười cuồng loạn 1 hồi rồi hồn lìa khỏi xác. Thế mà Giả-bảo-Ngọc không hề biết gì cả, mãi đến đêm thành hôn Bảo-Ngọc mới nhận ra mưu mô của cha mẹ, nên biến thành con người ngây ngô hình như bị lạc mất hồn phách. Sau cùng chàng bỏ nhà đi tu.
Những việc kể lại rất rõ ràng kỹ lưỡng trên đây đều là miêu tả sự hưng suy của 1 đại gia tộc. Cái hoàn cảnh bất hạnh trong gia đình cứ lần lượt diễn tiến cho đến đoạn cuối làm cho người phải nghẹn hơi. Sự hoan lạc trong thời kỳ toàn thịnh qua đi, hiện tượng khuynh gia bại sản cứ phảng phất trên nét mặt mọi người không còn những bữa tiệc dưới trăng trong Tiết Trung thu, mà chỉ nghe những tiếng quì khóc than gào của những nơi đình viện tịch liêu; những cô gái mỹ miều xưa kia đều lớn lên và lấy chồng về các gia đình khác; những thị nữ hầu cận Bảo-Ngọc hoặc bị đuổi hoặc theo bôi giá hết, mà không may nhất là Tình-Văn vì có giữ tình khiết cùng chân tình thì lại hương tàn ngọc nát. Hết thảy ảo ảnh đều tiêu diệt.
Vì như có người phê bình là Hồng-lâu-Mộng có thể làm hủy diệt 1 quốc gia, nếu như thế thì nó đã hủy diệt Trung-quốc từ lâu rồi. Đại-Ngọc cùng Bảo-Ngọc đã thành người tình của toàn dân tộc, nhưng cũng có nhiều nhân vật đáng làm gương mẫu để cho người nhận biết: tính nhiệt liệt của Tình-Văn tính ôn nhu của Tập Nhân, tính hào sảng của Thỉ-Tương-Vân, tính đoan trang của Thám-Xuân-Tính linh tuệ của Diệu-Ngọc, tính biến bác của Phượng-Thư, mỗi người có 1 tính cách, mỗi người có điềm đáng quí, mỗi người đại biểu 1 khuôn màu đặc thù. Muốn thử tính khí của 1 người Trung-quốc phương pháp rất dễ dàng là hỏi xem họ thích Đại-Ngọc hay là thích Bảo-Thoa. Nếu họ thích Đại-Ngọc tức là họ theo chủ nghĩa lý tưởng; như họ tán thành Bảo-Thoa là họ theo chủ nghĩa hiện thực; như họ thích Tình-Văn thì họ có thể là 1 sáng tác gia tương lai; như họ thích Thỉ-Tương-Vân thì họ cũng thích thơ Lý-Bạch. Nhưng chính kỷ giả đây thì lại thích Thám-Xuân vì nàng có cả tính chất nhu hòa của 2 người là Đại-Ngọc cùng Bảo-Thoa, nên sau này nàng được hạnh phúc kết hôn làm một người vợ hiền khuôn mẫu. Cá tính của Bảo-Ngọc rõ ràng là mềm yếu không có 1 chút khí khái anh hùng nào thật không đáng được thanh niên sùng bái. Nhưng không kể khí khái ra sao, thanh niên nam nữ Trung-quốc đều đọc đi đọc lại 7, 8 lần bộ tiểu thuyết này mà còn thành lập một môn học vấn chuyên môn gọi là « Hồng học » với cái địa vị tôn sùng cùng những cuốn sách nghiên cứu trước tác rất nhiều, thật không kém gì những sách bình chú về trước tác của Shakespeare cùng Goethe.
Hồng-lâu-Mộng có thể đại biểu cho nghệ thuật tá-tác tiểu thuyết 1 mức độ khá cao của Trung-quốc. Nói tóm lại căn cứ vào nội dung của các tiểu thuyết của Trung-quốc có thể chia ra mấy loại điển hình. Những loại tiểu thuyết rất nổi tiếng có thể làm đại biểu cho các loại xin kể dưới đây:
1 — Hiệp nghĩa tiểu thuyết - « Thủy hử truyện »
2 — Thần quái tiểu thuyết - « Tây du ký »
3 — Lịch sử tiểu thuyết - « Tam quốc chí »
4 — Ái tình tiểu thuyết - « Hồng lâu mộng »
5 — Dâm đãng tiểu thuyết - « Kim bình mai »
6 — Xã hội phúng thích tiểu thuyết - « Nho lâm ngoại sử »
7 — Lý tưởng tiểu thuyết - « Kính hoa duyên »
8 — Xã hội tả thực tiểu thuyết - « Nhị thập niên mục đổ quái hiện trạng »
Chia ra từng loại 1 cách nghiêm chính đâu phải là dễ. Như Kim bình mai tuy 4 phần năm là những văn tự dâm đãng, nhưng cũng thề cho là 1 bộ tiểu thuyết xã hội tả thực rất hay. Tiểu thuyết này dùng ngòi bút vô tình và linh hoạt miêu tả những chuyện bình dân phổ thông, bề dâng hạ lưu, thô hào liệt thân, nhất là địa vị của phụ nữ Trung-quốc ở về triều nhà Minh. Trên bộ loại chính qui của các loại tiểu thuyết, nếu theo nghĩa rộng chúng ta còn phải vào 1 loại « cố sự bút ký » nữa. Cố sự này là những truyền thuyết trải qua rất lâu đời. Loại « cố sự bút ký » này thì nên đem Liêu trai chí dị cùng Kim cổ kỳ quan làm đại biểu. Kim cổ kỳ quan là 1 tác phẩm ưu tú nhất trong loại « cố sự bút ký » lưu hành từ đời xưa, và phần nhiều là cố sự lưu truyền trải qua bao thời đại.
Trước giả từng đem rất nhiều tiểu thuyết Trung-quốc cứ theo thế lực lưu hành cao hay thấp mà chia từng bậc, nếu đem những thứ tiểu thuyết lưu hành trên các đường phố mà biên thành mục lục thời rõ là những tiểu thuyết mạo hiểm, mà người Trung-quốc gọi là tiểu thuyết hiệp nghĩa phải đứng đầu mục lục. Đây là một hiện tượng kỳ quái, vì những hành vi hiệp nghĩa cũng đúng cấm thường, bị cha mẹ hoặc giáo sư cấm đoán de-net tâm lý này thật khó giải thích. Ở Trung-quốc những chàng trai hiệp nghĩa thường hay xung đột với những tuần cảnh hoặc huyện quan, làm liên lụy đến cả gia tộc, những hạng con cháu này thường bị đuổi ra khỏi gia đình mà nhập bọn với xã-hội hạ lưu; những người dân trượng nghĩa hành hiệp có nhiều nhiệt tình rất quan tâm đến công chúng nên thường can thiệp vào những công việc của người khác, thay những người nghèo khổ mà ôm nổi bất bình, những người dân này thường bị xã hội đuổi ra và nhập vào bọn lục-lâm. Trung-quốc là một nước không có chế độ hiến chánh làm bảo đảm. Một người thường hay thay người nghèo khổ bị áp bức ôm nổi bất bình mà ở vào xã hội không có hiến pháp để đảm bảo thì nhất định chỉ là một người vong mạng. Những người lương dân an phận trong xã hội mà hoan nghinh những vị hào hiệp trong giới lục-lâm cũng vì như một người đàn bà yếu đuối mà hoan nghinh một đại hán, mặt mũi đen thui, râu quai nón, lông bụng sồm soàm. Ta thử nghĩ xem khi có một người nằm khểnh trong chăn mà đọc truyện Thủy Hử thì sự yên vui, vừa ý phần khởi không thể nói xiết được, đọc đến chỗ nói về hành vi dũng cảm nghĩa hiệp của Lý Quí thì tinh thần khích ngang thư thái đến thế nào.
— Nên nhớ tiểu thuyết Trung quốc thường thường nằm ở giường mà đọc. Tiểu thuyết thần quái thì ghi chép toàn những chuyện yêu ma cùng thần tiên cấu phép thuật là đã gom góp được một bộ phận rất lớn những cổ sự lưu truyền trong dân-gian, nhờ thế cổ sự này rất gần với tâm tính người Trung quốc. Trong mục « Trung quốc nhân dịch tâm linh » chương bốn trong bản thư, có nói đến tâm lý người Trung quốc có một quan niệm siêu tự nhiên thường thường lẫn lộn với hiện thực. Bộ Tây du ký, bác sĩ Timothy Richards từng đem dịch ra Anh văn gọi là « thiên-quốc cầu kinh kỷ » (A mission to Heaven) trong đó thuật chuyện mạo hiểm đi cầu kinh ở Ấn-Độ của Hòa-thượng Huyền Trang, nhưng chuyến mạo hiểm của ông có ba nhân vật, nửa vật nửa người làm bạn. Đó là hầu tử Tôn-Ngộ-Không, Trư-ra, Trư Bát Giới cùng một vị Sa Hòa-thượng. Bộ tiểu thuyết này không phải là một sáng tác nguyên thủy mà căn cứ những truyền thuyết trong dân gian về tôn giáo. Chuyện này chỗ rất đáng quí đáng hoan nghinh phải là nhân vật Tôn-Ngộ-Không, vì Ngộ-Không là đại biểu tâm lý ương ngạnh của nhân loại, vì Ngộ Không cứ mãi mãi thử làm những sự nghiệp không thể làm được. Ngộ Không ăn quả cấm ở Thiên cung đó là một quả đào đào như Eva ăn quả cấm trong Ai-đệ lạc-viên, mà phải chịu xử phạt trường kỳ là 500 năm khóa bằng giây sắt giam ở dưới chân núi đá, giống như Prométhée ăn trộm thiên quả mà bị giam. May gặp hạn giam vừa hết và do Huyền Trang tới mở khóa buông tha cho, vì thế Ngộ Không liền bái nhận Huyền Trang làm thầy và đảm nhiệm chức vụ bảo hộ việc đi sang Tây trúc, trên đường đi Ngộ Không phải chịu bao nhiêu yêu ma quỉ quái cố sức chiến đấu để mong lập công chuộc tội, nhưng tính ác độc trước kia vẫn còn tồn tại vì thế nên hiện hình biểu tượng một thứ nhân tính điêu ngoan dữ tợn, tranh đấu cùng với hành vi thánh triết. Trên đầu y đội một chiếc mũ Kim cô bất cứ lúc nào hề thứ tính của y phát tác phạm vào qui luật là Huyền Trang sư phụ của y niệm một câu kinh chú, lập tức mũ Kim cô trên đầu y càng bó càng chặt cho tới khi đầu óc rức rời như muốn nổ tung nên y không muốn phát tác nữa. Đồng thời Trư Bát Giới biểu tượng một căn tính nhân loại thú dục. Cái căn tính thú dục này về sau trải qua sự cảm hóa của của tôn giáo mà dần dần gột sạch. Những nhân vật kỳ dị này làm một chuyến trường chinh kỳ dĩ trên đường đi những dục vọng cùng những cám dỗ mê hoặc tranh giành không ngờ xuất hiện, tạo thành một chuỗi hoàn cảnh thích thú cũng khiến người hàng hai chiến đấu, hiền thần thông, thi ma lực, đấu bão pháp. Ở tai Tôn ngộ Không có dắt 1 cây bồng nhỏ, cây bồng này có thể biến tới một mức độ rất dài, không những thế mà y còn có một bản lĩnh như nhổ một chiếc lông chân có thể biến ra rất nhiều khỉ con để giúp y công kích kẻ địch mà tự thân y cũng có thể biến hóa, biến thành các khí cụ hay các thực dụng vật, đủ các kiểu các màu, y có thể biến ra chim loan chim hạc bay hiện ra con sẻ, con cá hoặc biến thành một tòa miếu, con mắt biến thành cửa, miệng biến thành cái ra vào, lưỡi thì biến ra tượng phật nếu yêu ma không để ý mà bước vào trong tòa miếu này thì sẽ bị miện y ngậm lại và nuốt vào bụng. Sự chiến đấu của Ngộ Không cùng với yêu ma thật là thần diệu, họ đánh đuổi nhau nhưng họ đều biết cưỡi mây nương gió chui xuống dưới đất không vướng, xuống nước không chết đuối, cái cách gánh nhau như thế làm sao em nhỏ nghe mà không thích cho được, ngay đến những hạng thanh niên trưởng thành, chỉ cần họ chưa tới trình độ « chuột » đã không buồn nhìn gạo thì đều lấy làm hứng thú.
Cái thói quen thích nói chuyện thần quái không chỉ hạn định trong những bộ tiểu thuyết thần quái, họ chen vào các thứ tiểu thuyết thậm chí như « Dã Tẩu Bộc Ngôn là một tác phẩm hạng nhất cũng không khỏi chịu cái lụy về thói quen này nhân đó mà giảm sắc. Dã Tẩu Bộc Ngôn là một bộ tiểu thuyết hiệp nghĩa kiêm luân lý. Cái thói quen thích nói chuyện thần quái lại làm giảm giá tiểu thuyết trinh thám cổ sự như bộ « Bao-công-Án » và làm cho tiểu thuyết trinh thám không thể phát triển hoàn bị được để cùng so sánh với những kiệt tác Âu Mỹ nhân vì thiếu quan niệm lý luận khoa học Bao-Công có thể là một đại trình thám gia trong lịch sử Trung-quốc và ông lại làm phán quan, ông giải quyết những vụ án ám sát bí ẩn nhờ những chỉ thị trong giấc mơ chứ không dùng đầu óc luận lý để phân tích như Phúc-nhĩ-ma-tư (?) Sự kết cấu lỏng lẻo của Tiểu-thuyết Trung-quốc gần giống như tác phẩm của D. H. Lawrence mà sự dài dòng thì gần giống những tác phẩm của Tolstoy cùng Dostoivsky trong tiểu thuyết Nga. Tiểu thuyết Trung-quốc cùng với Tiểu-thuyết Nga giống nhau rất rõ rệt. Vì họ đều có kỹ thuật tả thực chủ nghĩa, mà họ đều thích tả một cách tường tận họ chỉ thích giảng thuật có sự mà thiếu đặc tính chủ quan của Tây-Âu Cũng có tác giả miêu tả tâm lý rất tinh tế nhưng vì sự hiểu biết về tâm lý học chỉ có hạn. Cho nên nhiều việc cứ theo nguyện việc cũ mà thuật lại. Về sự miêu tả bức chân cải xã hội tà-ác thì Kim-bình-mai dẫu có chịu nhường The Brothers Karamazov. Tác phẩm về loại ái tình tiểu thuyết, kết cấu rất hay, Tiểu thuyết xã hội thịnh hành trong 1 thời từ 60 năm trước đây, kết cấu lan man đi lại giống như một bức gấm hỗn tạp, dệt những chuyện xưa việc lạ bằng đoản thiên ghép lại. Những đoản thiên tiểu thuyết chính thức thì mãi đến 20 năm trước đây cũng chưa có một tác phẩm nào hoàn mỹ ra đời. Các tân tác giả hiện đại đang cố sức miêu tả những tác phẩm giống như văn học Tây Phương mà họ đã đọc qua không kể là phiên dịch hay là sáng tác.
Trên đại thể, thì sự tiến triển mau chóng của tiểu thuyết Trung quốc, có thể phản chiếu sự tiến triển mau chóng trong cuộc sinh hoạt của nhân dân Trung quốc, sự tiến triển này rất to tát và hỗn tạp nhưng sự tiến triển không cốt ở thái độ nhanh chóng, sự sản sinh tiểu thuyết là chỉ để tiêu ma thời gian, nên có những thời gian nhàn hạ để tiêu ma mà độc giả cũng không cần chạy theo hỏa xa, nên cũng không không mong sự kết thúc. Tiểu thuyết Trung quốc cần đọc thong thả, vậy cần phải kiên nhẫn :
Bên đường đã có nhiều hoa nở
Mặc sức ai kia cứ hái hoa.
(Trích ngô quốc ngô dân)