Thứ Hai, 28 tháng 1, 2013

Vĩnh biệt người “yêu tiếng nước tôi”!: Nhạc sĩ Phạm Duy

(Trái hay Phải)- Ngày hôm qua 27/1, trên các báo và mạng xã hội tràn ngập lời tiếc thương nhạc sĩ Phạm Duy- một cây đại thụ của âm nhạc Việt Nam. Ông ra đi mà chưa kịp đón mùa xuân cuối cùng của đời mình, gắng một chút nữa thôi, là ông đã chạm vào nó.

Nhạc sĩ Phạm Duy

Trên mạng xã hội, tôi ấn tượng nhất với lời chia sẻ của nữ đạo diễn Đoàn Minh Phượng- đạo diễn của “Hạt mưa rơi bao lâu”, tác giả của “Và khi tro bụi”: “Tiếc thương nhạc sĩ Phạm Duy, các bạn đừng R.I.P Phạm Duy, ông yêu tiếng Việt lắm”. Ấn tượng bởi sự chia sẻ tinh tế và chân thành của chị, người Việt mình, nhất là người trẻ, thường rất nhanh nhạy trong học tập nước ngoài, khi có người ra đi, người ta hay viết R.I.P (viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Rest in Peace” nghĩa là “yên nghỉ trong an bình”), đặt những con chữ xa lạ ấy cạnh sự ra đi của ông, thấy cứ chông chênh làm sao.
Cả đời Phạm Duy đã viết nhạc cho người Việt Nam, viết cho những đứa bé lên ba “Ông trăng xuống chơi”, viết cho em bé quê “Ai bảo chăn trâu là khổ, chăn trâu sướng lắm chứ/Ngồi mình trâu, phất ngọn cờ lau, và miệng hát nghêu ngao/ Nằm đồi non gió mát/ Cất tiếng theo tiếng lúa đang reo/Em đánh vần thật mau”.

Viết cho cô gái mới lớn bước chân vào tuổi yêu “Em tan trường về, đường mưa nho nhỏ/Ôm nghiêng tập vở, tóc dài tà áo vờn bay/Em đi dịu dàng, bờ vai em nhỏ/Chim non lề đường, nằm im dấu mỏ...”. Viết cho chàng trai buồn vì một cuộc tình đã vội chia xa: “Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo/Em nhớ cho mùa thu đã chết rồi!”.

Phạm Duy viết cho đất nước mà ông yêu đau đáu, đã từng “Khóc cười theo vận nước nổi trôi, nước ơi” bao nhiêu bản nhạc đã trở thành gia sản, nào là “Tình ca”, “Con đường cái quan”, “Mùa đông chiến sĩ”, “Tình hoài hương”, “Mẹ Việt Nam”... Ông cũng là một trong số ít các nhạc sĩ, không bao giờ vì nể phe phái chính trị nào, chỉ luôn dùng âm nhạc để nói lên một thứ tiếng duy nhất, đó là “tiếng nước tôi”.

Thật thiêng liêng lạ kỳ cái cụm từ “tiếng nước tôi” trong âm nhạc Phạm Duy, phải là người yêu đến thiết tha từng âm sắc mượt mà của tiếng dân tộc, từng thanh âm trong ngũ cung của ba miền Bắc Trung Nam thì mới viết được những bản nhạc chỉ một vài nét nhạc tấu lên là đã thấy thân thương như điệu hò điệu lý.

Vì “tiếng nước tôi” mà thêm yêu thương dân tộc mình, “yêu bác nông phu, đội sương nắng bên bờ ruộng sâu, nhớ mẹ quê chỉ biết cần lao, những trẻ quê bạn với đàn trâu, bé ơi”. Lời ca ấy cất lên, ai mà không xúc động, ai mà muốn cầm súng để phá nát khung cảnh yên bình thần tiên ấy của đất nước quê hương mình?

Trong kho tàng đồ sộ của mình, Phạm Duy đã phân chia thành nhiều ngăn, mà ngăn nào, ông cũng có các tác phẩm đặc sắc, từ trường ca, rong ca, Đạo ca, Thiền ca, tâm ca, tâm phẫn ca, tục ca... đều có những tác phẩm để đời đầy nét duyên dáng và thanh tao. Trong thế giới ấy, Phạm Duy có một cõi riêng của mình, ở đó, ông là ông hoàng đầy quyền lực, song cũng chính là một đứa trẻ ngồi hát nghêu ngao.

Phạm Duy cuối cùng đã hoàn thành tâm nguyện được trở về quê hương, để làm một chiếc lá rụng về cội khi nhắm mắt xuôi tay, nhưng không hiểu sao, từ trong sâu thẳm tâm can, tôi vẫn nghĩ giờ phút sau cùng, ông đã mơ được trở về Hà Nội. Về với con phố Hàng Cót nơi ông sinh ra, nơi ông được hưởng cái gien phóng khoáng, mê thích sự cách tân của cha ông- nhà văn Phạm Duy Tốn.

Năm 2005, Phạm Duy lần đầu trở về Hà Nội sau nhiều thập kỷ chia cách, ông đã đi một vòng quanh hồ Hoàn Kiếm, đã lần vào từng con ngõ nhỏ để tìm lại những người bạn gắn bó một thời như Giáo sư Lê Văn Lan, đã tưới một chai rượu lên mộ nhạc sĩ Văn Cao thay cho một lời tao ngộ. Ông đã mang chất hào hoa của Hà thành theo mình vào âm nhạc, ra với thế giới và cuối cùng lại lặng lẽ trở về.

Tôi tâm đắc với ý kiến của Tiến sĩ người Mỹ Eric Henry của trường Đại học North Carolina, ông đã viết trong một tiểu luận khá dài về nhạc sĩ Phạm Duy: “Nhiều năm nay, cả hai phía từng tham dự cuộc chiến tranh Việt Nam ngày xưa đều đã có những sự dịch chuyển để tiến lại gần nhau hơn. Sự chuyển hoá từ cả hai phía có vẻ chỉ là những thay đổi cỏn con, ngẫu nhiên, và cá nhân, như thể những hạt cát ngoài bờ biển, hoặc như những chiếc lá vàng mùa thu, nhưng không còn hồ nghi gì nữa về những kết quả chung cuộc. Khi nào cả hai phía cùng hoà giải với nhau thì họ sẽ thấy Phạm Duy đón họ ở đấy, vì ông đã thấy trước từ lâu rồi là sẽ có một ngày như thế”.

Phạm Duy, hơn ai hết, đã nhìn thấy trước ở dân tộc này một tinh thần hòa giải mênh mông như biển, những tị hiềm, hằn thù rồi sẽ bị xóa nhòa như dấu chân mờ in trên mặt cát sa mạc. Ông được dân tộc này sinh ra, đã thừa hưởng những tinh túy của văn hóa phương Đông và thẩm thấu văn minh phương Tây, ông biết sẽ không thể có con đường nào khác ngoài con đường xích lại gần nhau trong tình yêu quê hương xứ sở.

Yêu nhạc Phạm Duy, người Việt Nam yêu đất nước mình hơn, yêu những sáng mai thanh bình, những chiều hè gió mát, những đêm trăng thanh, yêu từng con đê, từng giọt sương trên cỏ, thương những bác nông phu trên đồng, vui với tiếng cười trong vắt của bầy trẻ thơ... Một tình yêu vùa giản dị vừa thanh cao như cảm nhận của nhà nghiên cứu nhạc Georges-Étienne Gauthier: “Sở dĩ cái tiếng “Việt Nam” có thể gợi nơi tôi một chút ý tưởng hoà bình và đẹp đẽ, nhân ái và từ thiện, sở dĩ trải qua nhiều tháng nhiều năm, tôi đã có thể yêu mến nước Việt Nam ít ra cũng như yêu mến chính nước tôi, sở dĩ như thế trước hết và trên hết là chính nhờ Phạm Duy".

Tuổi đời đã ngừng lại trên thể xác ông nhưng với một nhạc sĩ vĩ đại như Phạm Duy, tuổi trời chưa bao giờ ngừng lại, những gì ông đã cống hiến cho dân tộc này, cho đất nước này đã được tình yêu âm nhạc của triệu triệu người dân ghi nhận xứng đáng. Xin ông hãy nhẹ bước vào một cuộc rong chơi mới, với hành trang mang theo là câu hát như một lời tuyên ngôn nồng nàn: “Tôi yêu tiếng nước tôi”.

 
•Mi An









Thứ Năm, 24 tháng 1, 2013

Ông Nguyễn Mạnh Cầm: Dân tộc và thời đại với nội hàm mới...



SGTT.VN - Ngày nay, dân chủ, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội là trào lưu nổi trội. Còn ý chí tự cường, đoàn kết quốc gia và đồng thuận xã hội là cội nguồn sức mạnh của mỗi nước. Phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là phải kết hợp được nhuần nhuyễn các trào lưu phổ quát ấy.
Nguyên Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm

Nhân 40 năm ngày ký Hiệp định Paris về Việt Nam (27.1.1973 – 27.1.2013), nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng bộ Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm đã phát biểu như trên với nhóm phóng viên Tuần Việt Nam về quan điểm lịch sử khi đánh giá ý nghĩa của Hiệp định và về những kinh nghiệm trong quan hệ với các cường quốc tại hòa đàm Paris. Sau đây là nội dung cuộc trao đổi:

Lùi lại 40 năm sau sự kiện chấn động thế giới, giờ đây các nhà nghiên cứu quốc tế, từ nhiều góc nhìn khác nhau, nhận xét Hiệp định Paris về Việt Nam 1973 như một "tao đoạn kỳ lạ" (strange interlude), một "cự ly an toàn" (decent interval) trong cuộc chiến. Xin ông bình luận?

Ông Nguyễn Mạnh Cầm: Nhận xét Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam như một "strange interlude" là muốn nói tới "thời gian giải lao" giữa hai trận đánh. Trên thực tế, các hoạt động quân sự và ngoại giao đâu có dừng lại trong thời đoạn từ lúc ký Hiệp định cho đến khi tổng tấn công và nổi dậy!

Còn "cự ly an toàn" là muốn nói về ý đồ của Nixon vừa muốn tái cử, vừa muốn giữ Thiệu. Tuy nhiên, do chủ trương tràn ngập lãnh thổ của Sài Gòn, nên cơ hội hòa hợp dân tộc bị bỏ lỡ.

Nhưng vượt lên các thuật ngữ ấy là vấn đề triết lý lịch sử, nhất là khi chúng ta đã qua một thời gian khá dài, lùi lại 40 năm như phóng viên vừa nói. Về phương pháp luận, phải biết dựa vào những dữ kiện có thật, chứ không thể chỉ dựa vào cảm quan của người viết.

Có thể có chút phóng đại, nhưng tôi chia sẻ với nhận xét, có một lịch sử như nó diễn ra và một lịch sử như nhà sử học viết ra...

Phương án đấu tranh ngoại giao

Hiệp định Paris về Việt Nam, ngay như tên gọi đã có phần thiếu chính xác, một "misnomer" (gọi sai!). Tiếng là Hiệp định hòa bình năm 1973, nhưng trên thực tế, mãi tới ngày cuối cùng của tháng 4.1975, hòa bình thực sự mới được vãn hồi, nhưng nền hòa bình ấy được lập lại không theo cách mà các điều khoản của Hiệp định quy định. Ông bình luận như thế nào về nhận định này của GS Kolko, tác giả một trong những cuốn sách "best seller" về sự nghiệp đấu tranh của nhân dân ta, cuốn "Giải phẫu một cuộc chiến"?

Ông Nguyễn Mạnh Cầm: Hiệp định là phương án đấu tranh ngoại giao để đi đến thực sự kết thúc chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam. Và như mọi dự án chính trị trong lịch sử, đó là sự thỏa hiệp giữa các bên tham gia cuộc đàm phán ma-ra-tông. Phương án này phản ánh so sánh thế và lực giữa các bên, phản ánh các tình huống trong cuộc chiến vào thời điểm các bên quyết định ký kết để chấm dứt một giai đoạn, phục vụ cho ý đồ chính trị, quân sự của giai đoạn tiếp theo.

Một trong những điểm mấu chốt là ý đồ của các bên không giống nhau, thậm chí còn đối nghịch nhau. Cả bốn bên đều ý thức rõ điều này khi chấp thuận đặt bút ký. Vì vậy mới có định nghĩa kinh điển "ngoại giao là nghệ thuật của những điều không thể".

Việc lập lại hòa bình đã không diễn ra như các điều khoản của Hiệp định không hề giảm giá trị đích thực của Hiệp định, bởi vì lịch sử không bao giờ đứng yên. Lịch sử như một tiến trình và khi tiến trình ấy vận động thì nó không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của bất cứ ai, mà tùy thuộc vào diễn tiến khách quan của nhiều nhân tố. Bao giờ cũng có một giả thiết lịch sử và một thực tế lịch sử như tôi đã nói ở trên; sự giao thoa giữ hai mảng này có thể nhiều hay ít tùy thuộc vào tương quan lực lượng và tùy thuộc vào tương tác giữa các nhân tố chủ đạo trong quá trình vận động. Trên thực tế, nội dung Hiệp định đã mở ra nhiều "không gian trống" cho các tình huống về sau này...

Vâng, như chúng ta thấy, mặc dầu ký Hiệp định, nhưng Nixon vẫn tuyên bố, Mỹ chỉ công nhận Việt Nam Cộng hòa do Thiệu cầm đầu là chính phủ hợp pháp duy nhất. Điều này có nghĩa là Mỹ chỉ ủng hộ những nội dung nào của Hiệp định có lợi cho Mỹ và bỏ qua những phần còn lại.



Bốn bên đàm phán bàn tròn tại Paris vào tháng 1.1973 trước khi đi đến Hiệp định Paris

Đến lượt mình, chính quyền Thiệu cũng từ chối công nhận chính quyền cách mạng và chỉ chịu ký một văn bản tách rời, loại trừ mọi ám chỉ liên quan đến công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời. Tại sao lại có sự tréo ngoe như thế?

Đấy là phương thức của thỏa hiệp, mà căn cốt của vấn đề là ở chỗ phải tìm được lối thoát hợp lý, tại thời điểm ấy, cho một tình huống bất thường, đó là có hai chính quyền không công nhận nhau về mặt pháp lý, nhưng lại phải có chữ ký của cả bốn bên tham gia đàm phán thì mới đi đến chung cuộc của quá trình hòa đàm. Chính những tréo ngoe ấy đã tạo ra các "không gian trống" như tôi đã đề cập ở trên.

Đến lượt mình, các "không gian trống" ấy lại mở đường cho các biến cố lịch sử mà khi ký Hiệp định không phải tất cả các bên đều trù liệu giống nhau, thậm chí như tôi đã nói, hoàn toàn đối đầu nhau.

Vì các bên không công nhận nhau, đó là cơ sở khách quan để chính quyền cách mạng chủ động thay đổi so sánh lực lượng, tiến lên giành thắng lợi trên chiến trường về sau.

Quan hệ nước lớn với nước nhỏ

Ông đánh giá như thế nào về việc xử lý các mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước lớn liên quan đến quá trình đàm phán Paris? Làm thế nào mà chúng ta vẫn đạt mục tiêu trong bối cảnh có chia rẽ sâu sắc giữa Liên Xô và Trung Quốc?

Ông Nguyễn Mạnh Cầm: Đây là một chủ đề lớn, phức tạp nhưng rất bổ ích, nó không chỉ liên quan đến hòa đàm Paris, mà còn là "nguồn mạch chính" vận động hữu hình và vô hình trong quan hệ quốc tế giữa nước lớn với các nước nhỏ nói chung, cũng như trong toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam nói riêng.

Với tư cách là một cán bộ ngoại giao được chứng kiến sự chỉ đạo sát sao và trực tiếp của Bộ Chính trị, tôi nhận thức được một số nguyên tắc cơ bản để xử lý mối quan hệ với các nước lớn, dù đó là bạn bè, đồng minh hay đối thủ.

Ta đã giữ được quan hệ "cân bằng động" giữa Liên Xô và Trung Quốc, tranh thủ tối đa sự ủng hộ tích cực của cả hai đồng minh lớn, mặc dù mỗi nước giúp Việt Nam tùy thuộc vào khả năng và xuất phát từ yêu cầu chiến lược của mình. Các đồng minh lớn của ta, tuy bất đồng nhau, nhưng vẫn ủng hộ cuộc chiến đấu của nhân dân ta, vì một lý do quan trọng mà cố Tổng bí thư Lê Duẩn có lần đã giải thích một cách đơn giản: "Ta đánh là đánh cả cho Trung Quốc, cho Liên Xô!"

Với chính quyền Mỹ, ta đã chủ động có các cuộc tiếp xúc, tìm hiểu, gián tiếp và trực tiếp, nắm được yếu điểm cũng như điểm yếu chiến lược của siêu cường lúc bấy giờ để chuẩn bị các phương án đấu tranh.

Thời kỳ khó khăn nhất là năm 1972, lúc cả Trung Quốc và Liên Xô đều đi vào hòa hoãn với Mỹ, ta phải đối mặt với sức ép từ nhiều phía khác nhau, nhưng rồi đều vượt lên được, nhờ đường lối độc lập, tự chủ kết hợp với chủ trương đoàn kết quốc tế. Trong quá trình đàm phán ta đã tối ưu hóa các phương thức tập hợp lực lượng quốc tế, đồng thời tìm mọi cách tác động vào nội bộ đối phương, chuyển hóa tương quan lực lượng theo hướng có lợi cho cách mạng.

Vấn đề tạo thời cơ và nắm bắt thời cơ là bài học vô cùng quan trọng. Trong ngoại giao nói riêng và vận nước nói chung, nếu ta để nhỡ thời cơ, có khi phải mất rất lâu, thời cơ mới xuất hiện trở lại, hạn chế rất lớn đến lộ trình thực hiện các mục tiêu tổng thể của cách mạng.

Và ngành ngoại giao đã có những đóng góp như thế nào để phát huy mặt tích cực, hạn chế các tiêu cực của tình hình quốc tế trong thời gian hòa đàm?

Ông Nguyễn Mạnh Cầm: Ngành ngoại giao đã thực hiện tốt chức năng là "khớp nối mềm" giữa đất nước với thế giới, đã thực hành tốt bài học lớn của cách mạng Việt Nam là "kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại". Nhờ đó, chúng ta đã hình thành nên mặt trận rộng lớn nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam.

Về nghiên cứu chiến lược, ngoại giao đã đi trước một bước trong phân tích tình hình, đánh giá ý đồ của các bên liên quan. Chúng ta đã phát huy được vai trò tích cực và chủ động của ngoại giao, áp dụng phương thức vừa đánh vừa đàm. Biết người biết ta, biết cách kết thúc chiến tranh, đó là những bài học không bao giờ cũ cả.

Dân tộc, thời đại bối cảnh mới

Ý ông muốn nói tới bài học thời sự của Hiệp định đối với hoạt động đối ngoại của ta hiện nay?

Ông Nguyễn Mạnh Cầm: Hoàn toàn chính xác!

Tâm thức nô dịch và bá quyền, chinh phục và triều cống nhiều khi vẫn lấn lướt, tư duy "một mất một còn" vẫn nổi trội trong các mối bang giao. Đấy chính là khởi nguồn đã gây ra bao nghịch lý cho dân tộc Việt trong lịch sử, nay nếu ta không biết cách chế ngự nó, tương lai có nhiều điều khó dự đoán!
Nguyên Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm nói.

Nhưng như tôi đã nói, lịch sử chuyển động không ngừng, vì vậy, khi áp dụng các bài học trước đây phải luôn ý thức được nội dung mới trong những khái niệm cũ. Nói kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại thì giờ đây phải hiểu rằng cả hai vế trong định đề ấy đã có nhiều thay đổi.

Ngày nay, dân chủ, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội là trào lưu nổi trội. Còn ý chí tự cường, đoàn kết quốc gia và đồng thuận xã hội là cội nguồn sức mạnh của mỗi nước. Phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là phải kết hợp được nhuần nhuyễn các trào lưu phổ quát ấy. Có như vậy, mới có sức mạnh tổng hợp và vị thế Việt Nam mới thực sự vững chắc.

Các quốc gia nói chung và các cường quốc nói riêng đang rất thiếu nền tảng của văn hóa khoan dung. Cái tâm thức nô dịch và bá quyền, chinh phục và triều cống nhiều khi vẫn lấn lướt, tư duy "một mất một còn" vẫn nổi trội trong các mối bang giao. Đấy chính là khởi nguồn đã gây ra bao nghịch lý cho dân tộc Việt trong lịch sử, nay nếu ta không biết cách chế ngự nó, tương lai có nhiều điều khó dự đoán!

Đấy cũng là căn nguyên của việc trước đây các bên ký Hiệp định đã không tận dụng được tối đa cái cơ hội, cái triết lý của Hiệp định đã mở ra.

Cơ hội bình thường hóa quan hệ giữa Việt Nam với Hoa Kỳ bị đẩy lùi hàng chục năm cũng là do tư duy đối đầu ấy gây ra!

Ngày nay, chúng ta đang thực thi chính sách hội nhập toàn diện. Trong xu thế ấy, hẳn nhiên, một nền ngoại giao hiện đại là một nền ngoại giao phải xuất phát từ tâm thức văn minh thời đại, biết lấy các giá trị phổ quát làm động lực phát triển. Đó là cơ sở để bảo vệ các lợi ích quốc gia một cách hiệu quả! Trong quá trình này, vấn đề thời cơ, vấn đề tập hợp lực lượng, ngày nay ta gọi là xây dựng hệ thống các quan hệ đối tác, là những vấn để cốt tử của cách mạng.

Hãy nhớ hai vế đối trên mộ Nguyễn Trường Tộ: "Nhất thất túc thành thiên cổ hận / Tái hồi đầu thị bách niên cơ"; có thể hiểu là: "Một lần nhỡ thời cơ, hận muôn đời/ Khi quay đầu nhìn lại, cơ đồ mất trăm năm!".

Theo Tuần Việt Nam

'Một lần lỡ thời cơ mất cả trăm năm'

 Ông Nguyễn Mạnh Cầm là bộ trưởng ngoại giao cuối cùng
 (không kiêm nhiệm) có chân trong Bộ Chính trị
Cựu bộ trưởng ngoại giao Việt Nam Nguyễn Mạnh Cầm nói "tâm thức nô dịch và bá quyền, chinh phục và triều cống nhiều khi vẫn lấn lướt, tư duy 'một mất một còn' vẫn nổi trội trong các mối bang giao".

Ông cũng nói về tầm quan trọng trong xây dựng các mối quan hệ đối tác, trong đó có quan hệ với cựu thù Hoa Kỳ.

 Ông Cầm, 85 tuổi, giữ chức Ngoại trưởng từ 1991-2000, Phó Thủ tướng từ 1997-2002, và là bộ trưởng ngoại giao không kiêm nhiệm cuối cùng có chân trong Bộ Chính trị Đảng CSVN.

Ông vừa có bài Bấm trả lời phỏng vấn báo điện tử Tuần Việt Nam nhân dịp kỷ niệm 40 năm Hòa đàm Paris, trong đó ông đưa ra một số bình luận về chính sách đối ngoại của chính phủ Việt Nam gần nửa thế kỷ qua.
Người từng làm công việc theo dõi hội đàm Paris và thực hiện Hiệp định Paris về Việt Nam, sau đó đứng đầu ngành ngoại giao Việt Nam trong gần 10 năm, thừa nhận chính sách "cân bằng động" trong quan hệ với hai đồng minh lớn của Việt Nam thời kỳ chiến tranh với Hoa Kỳ - Liên Xô và Trung Quốc.
Chính sách này dựa trên nền tảng "một lý do quan trọng mà cố Tổng bí thư Lê Duẩn có lần đã giải thích một cách đơn giản: Ta đánh là đánh cả cho Trung Quốc, cho Liên Xô!".
Trong khi khen ngợi thành công trong đấu tranh ngoại giao để đi đến thực sự kết thúc chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam, ông Cầm cũng nói đến điều mà ông gọi là 'cơ hội bị bỏ lỡ'.
Trước hết, theo ông, cơ hội hòa hợp dân tộc bị bỏ lỡ sau Hiệp định Paris "do chủ trương tràn ngập lãnh thổ của Sài Gòn".
Đồng thời, trong những năm sau đó, "cơ hội bình thường hóa quan hệ giữa Việt Nam với Hoa Kỳ bị đẩy lùi hàng chục năm".

'Một lần nhỡ thời cơ, hận muôn đời '
Theo cựu ngoại trưởng Nguyễn Mạnh Cầm, thách thức đặt trước dân tộc Việt Nam cả trong quá khứ và hiện tại là tư duy đối đầu, triệt tiêu lẫn nhau trong quan hệ với các nước ngoài.
Bên cạnh đó, là chính sách của nước lớn đối với nước nhỏ, mà ông gọi là "tâm thức nô dịch và bá quyền, chinh phục và triều cống nhiều khi vẫn lấn lướt", tuy không chỉ rõ tên cường quốc.
"Đấy chính là khởi nguồn đã gây ra bao nghịch lý cho dân tộc Việt trong lịch sử, nay nếu ta không biết cách chế ngự nó, tương lai có nhiều điều khó dự đoán!"
"Cơ hội bình thường hóa quan hệ giữa Việt Nam với Hoa Kỳ bị đẩy lùi hàng chục năm cũng là do tư duy đối đầu ấy gây ra!"
Ông cảnh báo: "Vấn đề tạo thời cơ và nắm bắt thời cơ là bài học vô cùng quan trọng".
"Trong ngoại giao nói riêng và vận nước nói chung, nếu ta để nhỡ thời cơ, có khi phải mất rất lâu, thời cơ mới xuất hiện trở lại, hạn chế rất lớn đến lộ trình thực hiện các mục tiêu tổng thể của cách mạng."
Một số năm trước đây, sau khi Việt Nam và Mỹ bình thường hóa quan hệ năm 1995, đã có quan điểm trong thượng tầng lãnh đạo Việt Nam cho rằng nên thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược với Hoa Kỳ. Tuy nhiên, tiến trình này tới nay chưa dịch chuyển được bao nhiêu.
Ông Nguyễn Mạnh Cầm kêu gọi "vấn đề thời cơ, vấn đề tập hợp lực lượng, ngày nay ta gọi là xây dựng hệ thống các quan hệ đối tác, là những vấn đề cốt tử của cách mạng".
Ông cũng trích lời Nguyễn Trường Tộ, người được xem như một trong các ông tổ của ngành ngoại giao Việt Nam: "Một lần nhỡ thời cơ, hận muôn đời. Khi quay đầu nhìn lại, cơ đồ mất trăm năm".


Thứ Ba, 22 tháng 1, 2013

Phản hồi về bài nói chuyện của thiếu tướng Nguyễn Thanh Tuấn







Lễ nhậm chức Barack Obama......Barack Obama 2013 Presidential Inauguration - Complete .


Barack Obama 2013 Inauguration Oath of Office





Barack Obama 2013 Inauguration Speech


Lễ nhậm chức Barack Obama

National Mall ngày nhậm chức. Ảnh: HM

Nước Mỹ có nhiều duyên nợ với ngày thứ 3. Rất thú vị lần này, bầu cử và tuyên thệ tổng thống trùng vào ngày này. Bin Laden chọn thứ 3 (11-9-2001), ngày ít người đi lại, để cướp 4 máy bay tấn công Mỹ. Theo lịch, công ty môi trường vùng Vienna (Virginia) thu gom rác vào hôm nay.
Muốn biết tình hình kinh tế? Nhìn vào thùng rác!
Một thống kê thú vị cho thấy, khủng hoảng tài chính có thể nhìn thấy trong…thùng rác. Kinh tế đi xuống, dân không đến quán bar mà mua rượu bia về nhà, tự thưởng thức, nên vỏ chai nhiều hơn. Khủng hoảng nhưng không thể không uống, vấn đề là uống ở đâu thôi. Hôm nay, vì tương lai kinh tế Mỹ và hình ảnh Hoa Kỳ trên thế giới, gần hai triệu người đổ ra National Mall (Quảng trường quốc gia Washington DC – gọi là Mall) nhằm lên dây cót tinh thần cho Tổng thống mới.

Kinh tế toàn cầu đang cơn suy thoái là thách thức lớn nhất của siêu cường Hoa Kỳ. Không phải chiến tranh Iraq, Afganistan hay Trung Đông. Đó chính là bài toán nan giải về công ăn việc làm, nạn thất nghiệp ngay trong lòng nước Mỹ, đang làm hàng trăm triệu người lo lắng.

Chưa nhậm chức, Obama đã lo kích cầu, mong dân đến shopping mall, mua bán, tiêu pha nhiều hơn. Người Mỹ không mua quần áo, hàng may mặc của Việt nam cũng bị bán hạ giá thảm hại. Họ tiết kiệm ăn uống thì cá basa nông dân Nam bộ không biết bán đi đâu. Người ta lo cứu mình, ai hơi đâu đầu tư vào Việt Nam. Nếu ai nghĩ rằng, kinh tế thế giới đi xuống không ảnh hưởng đến ta, chắc là người đó “đang ngồi đáy giếng, phán chuyện toàn cầu”.
“Trong đời tôi chưa bao giờ nhìn thấy nhiều người đến thế!”
Hôm nay, trời đất thử thách lòng kiên nhẫn của những người hâm mộ Obama. Thời tiết DC lạnh khủng khiếp, nhiệt độ hạ xuống -10oC, gió 25km/giờ thổi từng cơn, buốt tận xương tủy. 4:30 sáng, tôi ra bến metro Vienna. Đây là ga đầu tiên mà tầu đã chật ních. Ôtô xếp hàng dài để vào gara. Họ đỗ xe ở đây và bắt metro vào DC. Xung quanh ga, xe cảnh sát đèn lập lòe như hăm dọa tất cả ai có hành động đáng ngờ. Cao tốc 66 nối Virginia với Washington DC vắng tanh trong khi metro chật ních người.

Ngồi canh một bà da trắng vẻ niềm nở. Hỏi bà từ đâu tới. Đi máy bay từ Miami. Sao đi xa thế. Đây là ngày quan trọng của nước Mỹ. Chúng tôi đã chờ đợi 8 năm nay. Kinh tế đi xuống, ai cũng lo. Tôi ủng hộ Obama, một người thông thái, nhanh nhẹn, nói rất thuyết phục và…đẹp trai. Còn anh thế nào? Vẫn không bị mất việc sau ba tháng vừa rồi chứ?

Anh bạn trẻ da trắng, quê tận Ohio, đứng cạnh đế thêm, mong lão Bush về Texas càng nhanh càng tốt. Anh không quan tâm đến McCain mà ủng hộ Obama ngay từ phút đầu tiên. Đây là tổng thống mà chúng tôi cần.

Ngày thường, đi từ Vienna tới DC khoảng 35 phút nhưng hôm nay mất gần hai tiếng, như thế đã rất may mắn. Lên Phố 18 cắt Pennsylvania gần Nhà Trắng, đông nghẹt người dù mới 6 giờ sáng. Đến muộn rất có thể bị chặn lại vì trong Mall hết chỗ.

Mọi ngả đường cho ôtô vào DC đều bị chặn. Sáu cây cầu bắc qua sông Potomac và Anacostia chỉ dành cho người đi bộ. Cũng hay, khi bạn dựa vào đôi chân của chính mình thì đến đâu cũng được. Lang thang trên Mall, từ nhà tưởng niệm Lincoln đến đồi Capitol (nhà Quốc hội Mỹ) khoảng 3 km, chiều rộng khoảng 1km, với những bãi cỏ rộng mông mênh, xen với những công viên, du khách cứ việc vui thoải mái, hò hét và nhảy múa.

Nhiều màn hình khổng lồ truyền hình trực tiếp từ khán đài. Biết thân phận mình không thể chen chân vào với mấy ông bà da đen béo phục phịch nên tôi chọn phương án xem tivi trên quảng trường.

Được biết, ngày Chủ nhật 18-01-2009, Obama đến dự buổi ca nhạc tại nhà tưởng niệm Lincoln với khoảng 400 ngàn người tham dự. Chính nơi đây, vào năm 1963, Martin Luther King đã có bài phát biểu “I have a dream – Tôi có một giấc mơ” trước hàng trăm ngàn người, nói về ước nguyện, một ngày nào đó người da trắng, da đen tại Mỹ được sống hòa thuận và đối xử công bằng. Hôm nay giấc mơ ấy đã thành hiện thực.

Không hiểu giấc mơ của Luther King vĩ đại thế nào, riêng tôi đạt được ước mơ là xem…người rất thoải mái. Rất nhiều, xó xỉnh nào cũng thấy. Trong đời, tôi chưa bao giờ nhìn thấy mấy triệu người đổ ra một chỗ rộng lớn như thế này.

Có đến vài nghìn nhà vệ sinh lưu, thậm chí cả chỗ dành riêng cho người tàn tật ngay cạnh đồi Capitol. Ở đây không thể ra gốc cây hay bờ tưởng để xả nỗi buồn như ở Hà nội hay Sài gòn.

Những người xây dựng thủ đô Hoa Kỳ đã trù tính, National Mall phải chứa được vài triệu người mới xứng tầm nước Mỹ. Không biết dân da mầu nhiều hơn hay vì mầu da ấy bắt mắt hơn nên dường như thấy họ chiếm đa số trên quảng trường.

Người Mỹ thích hướng tới tương lai
Trên màn hình xuất hiện đôi Clinton-Hillary, ở dưới reo hò và phất cờ. Lúc ông Bush xuất hiện thì tiếng hù, đập chân thùm thụp, vài lá cờ bay lẻ tẻ. Hỏi ông đứng tuổi bên cạnh thì được biết, người Mỹ thích hướng tới tương lai. Di sản ông Bush để lại không đáng tự hào: thế giới đơn cực do Mỹ làm bá chủ, ghét quốc gia hậu thuẫn khủng bố, tấn công phủ đầu và sắp xếp lại bản đồ thế giới. Nhìn lại, việc nào cũng thấy hỏng, người ta huýt sáo là phải thôi.

Nhớ chuyện sau ngày bầu cử, chú chó Barney của ông Bush bỗng nhiên nổi giận, đả phóng viên John Decker (Reuters) một miếng. Có thể hãng thông tấn này thường đưa tin không mấy hay ho về ông chủ nên chú cẩu trả thù hộ. Hôm mới đây, chú mèo đen India hay còn gọi là “Willi” yêu quí sống với gia đình Bush đã 18 năm bỗng lăn đùng ra chết. Có lẽ vì nuôi cả chó mực lẫn mèo đen trong Nhà Trắng, nên vận ông Bush không được đỏ, khi “đơn phương độc mã” lãnh đạo thế giới.

Obama lên làm tổng thống chưa biết có hơn Bush hay không, nhưng bên an ninh phải trả giá cao hơn rất nhiều. Mấy tháng nay, ngành an ninh Hoa Kỳ đã làm việc cật lực ngày đêm để chuẩn bị cho ngày lễ trọng đại này. Hàng rào lưới B40, những tảng bê tông khổng lồ, được dựng lên bao quanh quảng trường, nhằm ngăn người đi lại bừa bãi.

Phương tiện thông tin đại chúng được tận dụng tối đa để tuyên truyền cho việc đi lại trong ngày nhậm chức. Hàng ngàn người tình nguyện giúp hướng dẫn khách thập phương đến DC. Một chị dáng đi tất tưởi, gặp ai cũng chào và đưa cuốn cẩm nang “Làm thế nào tồn tại qua được ngày nhậm chức”. Hàng triệu du khách tới dự lễ lo làm sao đến được Mall không khém Obama làm Tổng thống lo cho kinh tế Mỹ.
Hàng triệu người rơi nước mắt

Biết mình không thể vào gần tòa nhà Quốc hội, tôi quyết đinh thám thính hôm trước để xem họ chuẩn bị như thế nào. Ra đó đã thấy loa ông ổng trên lễ đài phát thử lời thề của Tổng thống khi người ta luyện tập tại đồi Capitol:”Tôi xin thề danh dự rằng tôi sẽ lãnh đạo Nhà Trắng, làm hết sức mình để giữ gìn, bảo vệ Hiến pháp Hoa Kỳ. ” I do solemnly swear (or affirm) that I will faithfully execute the office of President of the United States, and will to the best of my ability, preserve, protect, and defend the Constitution of the United States”. Hôm nay, Obama xuất hiện thật, nhắc lại như cái máy mấy lời trên, dù ban đầu giọng hơi ngắc ngứ, có lẽ do cảm động.

Hàng triệu người đã khóc. Ảnh: HM

Thấy Obama xuất hiện, National Mall reo như sấm và cờ phất của hàng triệu người tưởng vỡ bầu trời DC. Khi ông đọc lời thề, nhiều người cúi xuống lau nước mắt. Hàng trăm triệu người da đen đã chờ đợi giây phút này hàng thế kỷ nay. Ai cũng sung sướng và hạnh phúc. Đây là lễ nhậm chức Tổng thống trang trọng nhất từ trước tới nay trong lịch sử Hoa Kỳ.

Anh bạn trẻ da đen quay sang tôi, mắt chớp chớp. Anh tỏ ý tiếc bố mẹ anh già quá, không thể ra đây để chứng kiến giây phút lịch sử này. Hai cụ đã sống qua thời bị phân biệt đối xử một cách tàn tệ của người da trắng. Thưở trước không được đến trường nên hai cụ vẫn mù chữ. Đây là trang sử đen tối trong lịch sử nước Mỹ về nạn phân biệt chủng tộc.

Hôm nay Obama đã làm nước Mỹ thay đổi. Với giọng hùng biện hiếm có, ông nói, chúng ta sẽ làm lại nước Mỹ. với những trách nhiệm thời đại mới, và hứa tương lai tốt đẹp cho Hoa Kỳ. Bài phát biểu dài 20 phút kết thúc. Trên màn hình đã thấy lễ duyệt binh. Obama, Michelle và các con theo đội duyệt binh theo đại lộ Pennsylvania về Nhà Trắng.

Còn ông bà Bush-Laura lên máy bay trực thăng ra sân bay Andrew. Tại đây, lên chiếc Air Force One (lúc này không được gọi tên như thế nữa vì ông đã là “nguyên”), để bay về Texas. Họ sẽ sống trong ngôi nhà 3 triệu đô ở Dallas cùng với chú chó Barney. So với mấy ổng hàng xóm như tỷ phú Ross Perot đang sở hữu ngôi nhà 24 triệu đôla hay Mark Cuban có nhà giá 18 triệu đôla, cựu Tổng thống “nghèo” nhất.

“Thay đổi. Vâng, chúng ta có thể – Change. Yes, We Can”
Ngày lễ đã kết thúc và dân chúng đang lo đường về. Đường chật ních tưởng chừng không thể len chân. Niềm vui qua nhanh, dù lời hứa “Change. Yes, We Can” vẫn còn vang vọng bên tai. Chợt nhớ mấy phút trước, Tông thống mới đã nhắc nhở “Thách thức của nước Mỹ còn rất nhiều, rất nghiêm trọng, và không thể ngày một ngày hai, có thể thay đổi”. Ông đã lôi hai triệu người đang mơ mộng trên quảng trường về với thực tại.

Quả đúng thật. Mấy anh chàng bán đồ lưu niệm hình Obama, đã hạ giá từ 4$ xuống 2$, nhưng ít người dừng lại hỏi. Người khác đang hy vọng chiếc xe của mình không dính vé phạt hay bị cẩu đi. Thấy xe rồi lại cầu Chúa đừng tắc đường. Sáng mai phải đi làm sớm. Obama nói sẽ giúp tất cả người nghèo nhưng chắc không thể giúp mình khi bị đuổi việc vì đến sở muộn.

Quay về nhà, dù rất mệt, tôi cố đẩy thùng rác rỗng vào vườn. Hôm nay, người Mỹ tiễn “nguyên Tổng thống” George Bush về Texas. Không chừng, vài di sản của ông cũng đi theo xe rác.

Nhà Trắng chính thức có chủ mới. Tuy vậy, nếu 4 năm tới, người thất nghiệp nhiều hơn, nhà cửa bị ngân hàng phát mại, shopping mall vắng tanh, rất có thể dân chúng vùng Vienna thấy xe của công ty môi trường vào thứ 3 hàng tuần, sẽ cho luôn cả lời hứa “Yes. We Can Change” vào thùng rác. Với người Mỹ, mọi lời hứa dù hay đến đâu nhưng không thành hiện thực, nên cho vào nhà vệ sinh mà giật nước.

HM. Viết từ Washington DC, ngày 20-1-2009.

Lời người viết: Tôi ít khi tham gia đám đông vì ghét lộn xộn. Nhưng hôm nay, Barack Obama “dựng” tôi dậy từ 4 giờ sáng. Mong muốn thay đổi của ông đã thức tỉnh hàng trăm triệu người Mỹ nếu không nói là hàng tỷ dân chúng trên hành tinh.
Sau một ngày thử làm phóng viên bất đắc dĩ, tôi thấy nghề cầm bút rất cần sự kiên nhẫn và dũng cảm. Đứng 8 tiếng dưới trời lạnh thấu xương mới hiểu, để có bức ảnh thời sự cho bạn đọc, không phải dễ dàng. Bỗng thấy cảm phục các anh chị làm báo. Có anh chị lênh đênh trên rốn lũ để mong hàng cứu trợ đến đúng lúc, giúp người hoạn nạn, thậm chí có người đổ máu trên trang viết… Mới hay, để có tâm với nghề làm báo, thách thức quả là không nhỏ chút nào.
Kính chúc Quí độc giả, Tòa soạn và những người cầm bút, năm mới an khang thịnh vượng.

Xem thêm:

Ngày nhậm chức Tổng thống 21-01-2013

Obama kêu gọi người Mỹ 'nắm lấy thời cơ'

Những hình ảnh đẹp nhất trong lễ nhậm chức của Obama










Thứ Bảy, 19 tháng 1, 2013


Ngày này cách đây đúng 39 năm, Trung Quốc dùng vũ lực cưỡng chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa. Hành động phi pháp ấy đã vấp phải sự kháng cự mãnh liệt của người Việt Nam và sự lên án mạnh mẽ của thế giới.

Ngày 25.11.2011, trong phát biểu trước Quốc hội, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đề cập tới hai thời điểm Trung Quốc xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam: “Năm 1956, Trung Quốc đã đưa quân chiếm đóng các đảo phía đông của quần đảo Hoàng Sa. Đến năm 1974, Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa trong sự quản lý của chính quyền Sài Gòn, tức chính quyền Việt Nam Cộng hòa (VNCH). Chính quyền VNCH lúc đó đã phản đối, lên án việc làm này và đề nghị Liên Hiệp Quốc can thiệp. Chính phủ lâm thời cách mạng miền Nam Việt Nam lúc đó cũng ra tuyên bố phản đối hành vi chiếm đóng này”. Thủ tướng cũng cho biết Chính phủ Việt Nam sẽ kiên trì đòi lại Hoàng Sa bằng biện pháp hòa bình.

Phát biểu của người đứng đầu Chính phủ của một đất nước Việt Nam thống nhất đã nhắc chúng ta nhớ tới một ngày bi tráng của 39 năm về trước, khi đất nước còn chia đôi. Đó là ngày 19.1.1974, Trung Quốc nổ súng cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa. Các chiến hạm cùng quân nhân VNCH đã chiến đấu quyết liệt, nhưng cuối cùng với một lực lượng mạnh hơn, Trung Quốc đã chiếm được cụm phía tây của quần đảo Hoàng Sa, sau khi đã chiếm cụm phía đông hồi thập niên 1950, qua đó chiếm đóng phi pháp toàn bộ quần đảo này từ đó đến nay

Xâm lăng

Trận hải chiến Hoàng Sa diễn ra trong khoảng 30 phút vào ngày 19.1.1974, nhưng trước đó nhiều ngày, Trung Quốc đã bắt đầu những chuyển động cho hành trình xâm lược của mình. Ngày 10.1, tàu Trung Quốc bắt đầu xuất hiện trong khu vực cụm tây quần đảo Hoàng Sa. Sau đó một ngày, Bộ Ngoại giao nước này phát đi từ Bắc Kinh tuyên bố rằng Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc và VNCH đang chiếm đóng phi pháp. Ngay lập tức, Tổng trưởng Ngoại giao Vương Văn Bắc của chính quyền Sài Gòn đã bác bỏ luận điệu ngang ngược này và lên án hành động xâm lăng gây hấn của Trung Quốc.

Lúc bấy giờ, về mặt quân sự, phía Việt Nam chỉ có một trung đội địa phương quân thuộc Chi khu Hòa Vang trú đóng trên đảo Hoàng Sa. Để tăng cường sức mạnh bảo vệ biển đảo, Tư lệnh Hải quân Vùng 1 Duyên hải vào ngày 15.1 đã ra lệnh cho tuần dương hạm Lý Thường Kiệt (HQ-16), do trung tá Lê Văn Thự làm hạm trưởng, trực chỉ Hoàng Sa. Tiếp theo, khu trục hạm Trần Khánh Dư (HQ-4) do trung tá Vũ Hữu San chỉ huy đang tuần tra vùng biển ngoài khơi Quảng Ngãi cũng được lệnh tức tốc tới bảo vệ Hoàng Sa. Sau đó, do diễn biến phức tạp, tuần dương hạm Trần Bình Trọng (HQ-5) và hộ tống hạm Nhật Tảo (HQ-10) cũng đã được điều động. HQ-5 là soái hạm, với hạm trưởng là trung tá Phạm Trọng Quỳnh; còn HQ-10 do thiếu tá - Hạm trưởng Ngụy Văn Thà chỉ huy. Ban Chỉ huy công tác trên biển của chiến dịch bảo vệ Hoàng Sa được đặt trên tàu HQ-5, với đại tá Hà Văn Ngạc thừa lệnh Tư lệnh HQ Vùng 1 Duyên hải làm chỉ huy trưởng.

Trong thời gian này, phía Trung Quốc đã cho tàu cá chở quân lính giả dạng ngư dân tiến chiếm một số đảo. Công điện 50.356 của Tư lệnh Hải quân Vùng 1 Duyên hải gửi HQ-4, HQ-5 và HQ-16 cho biết: “Trung Cộng đã bất thần tiến chiếm các đảo Robert (Cam Tuyền - NV), Duncan (Quang Hòa), Drummond (Duy Mộng) và Money (Vĩnh Lạc) thuộc quần đảo Hoàng Sa kể từ ngày 10.1.1974. Hiện có 2 tàu loại 100 tấn neo đậu tại đảo Robert... Trên đảo Duncan có 1 chòi quan sát... Tại đảo Money có 1 hầm còn mới...”. Công điện còn cho biết phi cơ của Sư đoàn 1 Không quân đang trực ở sân bay Đà Nẵng. Nhiệm vụ được giao cho lực lượng bảo vệ Hoàng Sa là trước hết sử dụng đường lối ôn hòa, yêu cầu kẻ địch rút khỏi lãnh thổ Việt Nam, trong trường hợp địch khai hỏa thì “tập trung khả năng để tiêu diệt địch”, lệnh từ văn phòng chỉ huy ở Đà Nẵng truyền ra cho HQ-5 nêu rõ.

Lúc bấy giờ, lực lượng chiến đấu của phía Trung Quốc có 11 tàu, trong đó có 2 tàu chống ngầm Krondstadt, 2 tàu quét lôi, vài tiểu đoàn thủy quân lục chiến và một số tàu chở quân. Bên cạnh đó, Trung Quốc còn có một đội quân dự phòng ở Hải Nam, trong đó có nhiều tàu tên lửa Komar và Osa.

Bản đồ Hải chiến Hoàng Sa 1974. Các chiến hạm VNCH (ảnh nhỏ) - Đồ họa: Hồng Sơn

Nổ súng

Sáng sớm 19.1, một toán Biệt hải từ HQ-4 và một đội Hải kích từ HQ-5 chia làm hai mũi dùng bè cao su đổ bộ lên tái chiếm đảo Quang Hòa. Một cuộc đọ súng xảy ra giữa quân VNCH và quân Trung Quốc đã chiếm đảo này từ trước cùng với số mới đổ bộ từ các chiến hạm gần đấy. Cuộc giao tranh này khiến 2 quân nhân VNCH tử thương và sau đó, do quân số ít hơn rất nhiều, hai toán đổ bộ của VNCH đã phải rời đảo, trở lại tàu.

Lúc này, các tàu chiến trên biển đã di chuyển theo đội hình chiến thuật, bộ chỉ huy trên soái hạm HQ-5 chỉ định mục tiêu cho từng chiến hạm thành viên để tiêu diệt. Theo đó, HQ-5 đối đầu tàu Krondstadt 274; HQ-4 đối đầu Krondstadt 271; HQ-10 đối đầu trục lôi hạm 396; HQ-16 đối đầu trục lôi hạm 389. Lúc 10 giờ 22 sáng 19.1.1974, lệnh tác xạ đồng loạt vào các chiến hạm Trung Quốc được ban hành từ HQ-5. Thông tin công khai trước đây cho rằng tàu Trung Quốc đã nổ súng trước. Tuy nhiên, mới đây, nguyên Hạm trưởng HQ-4 Vũ Hữu San xác nhận rằng, lúc bấy giờ, tàu chiến của VNCH đã “chủ động khai hỏa”. Ngay trong những phút đầu, một chiếc Krondstadt đã bị trúng đạn bốc cháy. Sau đó, chiếc Krondstadt thứ hai cũng hư hại và phải ủi vào rạn san hô gần đó để khỏi chìm. Phía VNCH cũng chịu tổn thất khi HQ-4 và HQ-5 đều trúng đạn nhưng vẫn còn chiến đấu được; HQ-16 bị hư hại nặng hơn và phải dần rút khỏi vòng chiến. Riêng HQ-10, là tàu nhỏ nhất, bị bắn chìm và Hạm trưởng Ngụy Văn Thà tử trận.

Đến gần 11 giờ, có tín hiệu cho thấy Trung Quốc đang tăng viện với các tàu tên lửa Komar xuất hiện từ phía xa. Nhận thấy tình thế bất lợi, chỉ huy trưởng Hà Văn Ngạc đã ra lệnh cho toàn bộ lực lượng rời vùng giao tranh. Trong cuộc chiến này, theo con số thống kê chưa đầy đủ, 53 quân nhân VNCH đã bỏ mình vì nước; một số quân nhân và nhân viên khí tượng bị bắt làm tù binh và đã được trao trả sau đó. Phía Trung Quốc có 4 tàu bị bắn hỏng và 18 binh sĩ chết.

Sau trận chiến ngắn ngủi nhưng ác liệt, Trung Quốc đã chiếm trọn quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Dù thế, trận hải chiến 1974 một lần nữa khẳng định ý chí bất khuất của người Việt Nam trong sứ mệnh bảo vệ chủ quyền. Trước một kẻ thù mạnh hơn và trong một tình hình chính trị chung có nhiều diễn biến bất lợi, các quân nhân đã kiên cường nổ súng vào kẻ xâm lăng. Cuộc chiến đó cũng một lần nữa làm nổi rõ tính phi nghĩa của Trung Quốc tại Hoàng Sa và trên toàn biển Đông về sau, như tuyên cáo của Bộ Ngoại giao VNCH số 015/BNG sau trận hải chiến 1974 đã vạch rõ: “Các hành động quân sự của Trung Cộng là hành vi xâm phạm trắng trợn vào lãnh thổ VNCH”. Hành động dùng vũ lực để chiếm lãnh thổ của nước khác đi ngược lại với Hiến chương LHQ, và vì thế, dù cho đã chiếm đóng toàn bộ Hoàng Sa gần 40 năm qua, Trung Quốc mãi mãi vẫn không có được một tư cách hợp pháp đối với vùng lãnh thổ này.

Tư liệu cho bài viết này được lấy từ Tài liệu Hải chiến Hoàng Sa (Vũ Hữu San, Trần Đỗ Cẩm), qua trao đổi với ông Vũ Hữu San và một số cựu quân nhân tham gia trận hải chiến cũng như tham khảo nhiều tài liệu khác.

Đỗ Hùng

Xem thêm:
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Hải chiến Hoàng Sa 1974

Thứ Ba, 15 tháng 1, 2013

The Human Body Life Story .




Với những công nghệ đồ họa máy tính, những kỹ thuật chụp ảnh tân tiến, những kỹ xảo quay chậm tuyệt diệu, chúng ta có thể khám phá mọi khía cạnh, mọi bộ phận trong cơ thể con người trong nhiều giai đoạn phát triển khác nhau trong cuộc sống : sinh ra, trưởng thành, rồi chết đi.

Bộ phim miêu tả chi tiết đồng thời người dẫn chương trình cũng giải thích thấu đáo các quá trình quan trọng của đời người như thụ thai, sự chập chững biết đi của trẻ, sự trưởng thành của thanh thiếu niên, sự lão hóa của người già hay cơ chế hoạt động cực kỳ phức tạp của bộ não (đây là bộ phận tiêu tốn nhiều năng lượng nhất trong cơ thể) và cuối cùng là cái chết
Qua cách nói dễ hiểu, trực quan và sống động của giáo sư Winston, các em nhỏ trên 10 tuổi hoàn toàn có khả năng cảm thụ được loạt phim này. Ngoài ra khán giả cũng sẽ rất bất ngờ và thú vị với những câu nói hóm hỉnh, những thống kê ngộ nghĩnh (chẳng hạn trung bình một người trong cả đời tốn mất 3 năm rưỡi thời gian để ăn và ăn hết 160 kg sô cô la). Bên cạnh đó là những tình cảm xúc động khi chứng kiến cảnh quay những phút cuối cùng của Herbie -- một bệnh nhân đang chống chọi với căn bệnh ung thư.



Phụ đề tiếng Việt:
http://youtu.be/a-krbInzT0o
http://youtu.be/fr09XD65JCI
http://youtu.be/xs76NI0PVx0
http://youtu.be/kcWxX00vJcw
http://youtu.be/Vaq23ZIFif8
http://youtu.be/cMKhuLm-jPE

http://youtu.be/RB3qq59_n08
................................................

Body Story