Thứ Ba, 1 tháng 9, 2026

Có một văn bản viết tay liên quan đến sự kiện vua Bảo Đại thoái vị

 Tạp chí Xưa & Nay số 580 tháng 10.2025 có đăng bài “Lầu Kiến Trung - nơi “khai sinh” chiếu thoái vị của vua Bảo Đại” của tác giả Lê Thị An Hòa. Trong bài này, tác giả đăng một tài liệu lịch sử khiến nhiều người quan tâm.

Đó là ảnh chụp hai trang văn bản viết tay bằng bút mực trên giấy, và tác giả bài báo chú thích: “Bản chiếu viết tay của vua Bảo Đại ngày 19.8.1945. Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia III”. Có đúng như vậy không?

Có phải là bản chiếu viết tay của vua Bảo Đại?

Nếu đây là bản chiếu do chính vua Bảo Đại viết tay trên giấy, như hình ảnh công bố, thì quả là một sử liệu quan trọng. Không chỉ thế, đó còn là một hiện vật lịch sử quá hiếm hoi liên quan đến sự kiện vua Bảo Đại thoái vị vào tháng 8.1945.

Bởi vì cho đến nay, đã có nhiều văn bản chiếu thoái vị của vua Bảo Đại được công bố, nhưng đều là bản sao lục. Người hậu thế rất muốn xem tận mắt bản chiếu thoái vị ấy, do ông Phạm Khắc Hòe - Tổng lý Ngự tiền Văn phòng của triều đình Huế - soạn thảo, theo như ông Hòe viết trong hồi ký của mình, hay là đích thân vua Bảo Đại viết, theo như vua cho biết trong hồi ký Con rồng An Nam?

Hình ảnh hiện vật đăng trên tạp chí Xưa & Nay số 580 tháng 10.2025. Ảnh chụp lại trang báo.


Chúng tôi phóng to hình ảnh thì nhận thấy, nội dung văn bản này hoàn toàn không phải là bản chiếu thoái vị của vua Bảo Đại. Tiếp tục tìm kiếm thông tin ở nguồn tài liệu là Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, thì mới hay cơ quan này đã công bố tài liệu này từ bốn năm trước: ngày 22.8.2022, và hình ảnh hiện vật cũng như nội dung cho thấy rất rõ: đây là bức điện của Tổng lý Ngự tiền Văn phòng phát đi vào ngày 22.8.1945, có nội dung liên quan đến việc thoái vị của vua Bảo Đại vài ngày sau đó. (Xem công bố này trên fanpage của Trung tâm Lưu trữ quốc gia III).

Bức điện số 1855 GT do Trung tâm Lưu trữ quốc gia III công bố. Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia III


Bức điện viết tay số 1855 GT

Tài liệu nói trên là bức điện mang số hiệu 1855 GT do Tổng lý Ngự tiền Văn phòng triều đình Bảo Đại gửi cho các bộ trưởng Bộ Giáo dục, Bộ Thanh niên, cùng các vị Khâm sai Bắc bộ và Nam bộ, truyền đạt sắc lệnh của vua Bảo Đại, về việc việc mời các thủ lĩnh đảng Việt Minh thu xếp việc lập nội các mới. Bức điện được phát đi vào ngày 15 tháng 7 năm Bảo Đại thứ 20, tức ngày 22.8.1945. Đó là thời điểm vua Bảo Đại phải đối diện với đòi hỏi gắt gao phải thoái vị, và sức ép của cách mạng đã lên đến đỉnh điểm. 

Thông tin của Trung tâm Lưu trữ quốc gia III cho biết, một ngày trước đó, ngày 21.8.1945, Ngự tiền Văn phòng của triều đình đã gửi công văn số 1849 GT đến Bộ Giáo dục, Bộ Thanh niên và Phủ Khâm sai Bắc bộ, yêu cầu cung cấp tình hình thực tế của Bắc bộ, sau khi vua đã nhận được điện ký tên bởi các ông Hồ Hữu Tường, Nguyễn Văn Huyên, Ngụy Như Kon Tum, Nguyễn Xiển và Nguyễn Đình Thu yêu cầu vua thoái vị.

Ngày 22.8.1945, vua Bảo Đại tiếp tục yêu cầu Tổng lý Ngự tiền Văn phòng (ông Phạm Khắc Hòe) gửi công điện trả lời cho Ủy ban Nhân dân Cách mạng Bắc bộ: “Ngài vui lòng thoái vị ngay và sắp đặt sẵn sàng, nhưng vì có trách nhiệm trước lịch sử và toàn thể quốc dân và muốn Chính phủ mới chính thức ra mắt quốc dân một cách long trọng, Ngài mong ông Chủ tịch Chính phủ Nhân dân Cách mạng lâm thời gấp về Thuận Hóa để Ngài giao chính quyền và Ngài muốn cho ông biết ngày làm lễ ấy”.

Vua Bảo Đại (đứng ngoài cùng bên phải) và hoàng gia, chụp ảnh cùng các vị quan triều đình. Ảnh tư liệu


Cũng trong ngày 22.8.1945, Ngự tiền Văn phòng đã soạn thảo và gửi bức điện số 1855 GT mà Trung tâm Lưu trữ quốc gia III đang lưu trữ. Bức điện đó gửi cho sáu vị thành viên nội các chính phủ Đế quốc Việt Nam, thường gọi là chính phủ Trần Trọng Kim, lúc này đã rệu rã nhưng phải đến ngày 25.8.1945 thì mới chính thức giải tán. Các vị đó là Bộ trường Bộ Giáo dục Hoàng Xuân Hãn, lúc đó đang ở Hà Nội; Bộ trưởng Bộ Thanh Niên Phan Anh, Khâm sai Bắc Bộ lúc này là ông Nguyễn Xuân Chữ (thay ông Phan Kế Toại vừa từ chức vào ngày 17.8.1945), Khâm sai Nam Bộ Nguyễn Văn Sâm.

Bức điện đã nhắc lại một nội dung quan trọng mà vua Bảo Đại đã truyền đi trong bản chiếu động viên quốc dân vào ngày 17.8: “để hạnh phúc của dân Việt Nam lên trên ngai vàng của trẫm, ưng làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ”.

Bản chiếu thoái vị của vua Bảo Đại hiện đang lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia 3. Ảnh: Trung tâm Lưu trữ Quốc gia 3

Vua Bảo Đại trao ấn kiếm cho đại diện chính phủ cách mạng tại lễ thoái vị chiều 30.8.1945. Ảnh tư liệu của Pháp


Bức điện này phát đi thông điệp: nhà vua đã giải thể nội các lâm thời (tức chính phủ Trần Trọng Kim) và giao cho các thủ lĩnh đảng Việt Minh “liên lạc ngay với các đảng khác để lập ngay một nội các mới”. “Nội các ấy sẽ có nhiệm vụ chiêu tập một quốc hội gồm đại biểu của toàn quốc để ấn định chính thể nước ta. Trẫm sẽ vui lòng nhận chính thể mà quốc hội sẽ ấn định”. Tức là, vua sẽ thoái vị hoàng đế và tham gia vào chính thể mới, chứ không phải bị phế truất. Tuy nhiên, sau đó, diễn biến đã không diễn ra như mong muốn lúc đó của nhà vua.

Đến ngày 25.8, vua đã ban chiếu thoái vị. Và đến chiều 30.8, tức tám ngày sau bức điện đó, nhà vua đã làm lễ thoái vị, bàn giao chính thể cho Chính phủ Lâm thời đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vua đã trở về làm công dân một nước độc lập, và được mời làm cố vấn cho Chính phủ mới.

Văn bản viết tay trên giấy, do ai trực tiếp soạn thảo?

Ảnh chụp bức điện do Trung tâm Lưu trữ quốc gia III công bố cho thấy bức điện này được viết tay, bằng bút mực, trên giấy, và hiện vật đó đang được lưu trữ tại  nơi này. Xem hình ảnh hiện vật, nhiều người thắc mắc: không rõ văn bản được viết bằng bút mực trên giấy này do ai trực tiếp soạn thảo? Đây có phải là nét chữ của Tổng lý Ngự tiền Văn phòng Phạm Khắc Hòe, hay là một nhân sự văn thư của văn phòng này?

Nhưng điều chắc chắn, đây không phải là văn bản viết tay của vua Bảo Đại, vì văn bản đã ghi rõ: “Ngự tiền Văn phòng Tổng lý gửi…”. Càng không phải là bản chiếu viết tay của vua Bảo Đại ngày 19.8.1945” như bài báo đã đăng trên tạp chí Xưa & Nay tháng 10.2025.

Dù văn bản viết tay bằng bút mực trên giấy, qua thời gian đã có mờ nhòe, nhưng nội dung vẫn còn thể hiện rõ. Mời quý độc giả xem hình ảnh và nội dung bức điện trong phần phụ lục dưới đây:

Ngự tiền Văn phòng Tổng lý gửi cho Bộ trưởng Bộ Giáo dục, Bộ trưởng Thanh niên và Khâm sai Bắc Bộ Hà Nội, Khâm sai Nam Bộ Sài Gòn.

1855 GT - Khâm phụng hoàng đế sắc: các ông cung lục lời chiếu sau này cho các thủ lĩnh đảng Việt Minh và mời các thủ lĩnh ấy thu xếp việc lập ngay nội các mới. Sau khi nước ta được giải phóng ngày 9 tháng ba năm 1945, trẫm đã thấu rõ sự thống khổ của dân nên ngày 17 tháng 3 năm 1945 trẫm đã tuyên chiếu rằng chế độ chính trị từ nay căn cứ vào khẩu hiệu dân vi quý. Tới ngày 17 tháng 8 vừa đây trẫm lại nhắc lại rằng trẫm để hạnh phúc của dân Việt Nam lên trên ngai vàng của trẫm, ưng làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ.

Nay xét ra nước ta đã đi tới một giai đoạn cần phải thực hành những nguyên tắc ấy một cách rõ rệt hơn. Vậy trẫm đã chuẩn cho nội các lâm thời giải chức và đã giao cho các thủ lĩnh đảng Việt Minh là đảng đã phấn đấu cho quyền lợi dân chúng trách nhiệm liên lạc ngay với các đảng khác để lập ngay một nội các mới. Nội các ấy sẽ có nhiệm vụ chiêu tập một quốc hội gồm đại biểu của toàn quốc để ấn định chính thể nước ta. Trẫm sẽ vui lòng nhận chính thể mà quốc hội sẽ ấn định.

Trong giờ nghiêm trọng này, đoàn kết là sống mà chia rẽ là chết. Vậy trẫm thiết tha khuyên toàn thể quốc dân hãy bình tĩnh giữ trật tự theo kỷ luật để huy động lực lượng toàn quốc mà đối phó với thời cuộc.

Khâm thử phụng ngự ký - Bảo Đại

Ban chiếu tại Thuận Hóa ngày 15-7 Bảo Đại thứ 20 (22/8/45)

Hoàng đế lại sắc các ông Khâm sai cung lục gửi lời chiếu này cho toàn thể quốc dân tuân phụng.

Minh Tự

AI LÀ CỰU CHỦ NHÂN CỦA HOÀNG SA, TRƯỜNG SA ?

 


Trong lúc làm luận văn Thạc Sỹ ngành An Ninh Quốc Gia ở trường Cao Học Hải Quân Hoa Kỳ (Naval Postgraduare School-NPS), tôi tình cờ đọc được bài nghiên cứu của một nữ học giả Bắc Âu về người Chăm ở miền Trung Việt Nam. Theo nghiên cứu của cô, người Chăm mới là những người đặt chân lên Hoàng Sa và Trường Sa đầu tiên.

Quả thật như vậy, vương quốc Chăm Pa là chủ nhân đầu tiên của Hoàng Sa và Trường Sa, vì thời cực thịnh của họ, cụ thể hơn là trước khi Huyền Trân Công Chúa được gả cho Vua Chăm, thì lãnh thổ của vương quốc Chăm-pa kéo dài tới Quảng Bình ở phía Bắc và Bình Thuận ở phía Nam. Nhưng quan trọng hơn là đặc điểm của người Chăm thời bấy giờ, đó là nghề biển. Người Chăm là những ngư dân và thuỷ thủ, gọi chung là những người đi biển (seafarer) giỏi hàng đầu Đông Nam Á. Hậu duệ của người Chăm ở đảo Hải Nam và nhiều quốc đảo ở Đông Nam Á như Nam Dương hay Mã Lai. Và ít ai biết rằng, biển Đông, tên tiếng Anh là biển Nam Trung Hoa (South China Sea), và cái tên South China Sea này là do người Châu Âu đặt tên, dựa trên vị trí của Trung Hoa. Trước đó, Biển Đông có tên là Biển Chăm-pa (Champa Sea hay Sea of Cham). Đó là cách gọi của các thuỷ thủ phía Nam Trung Hoa và quốc tế khi họ ghé thăm Vương Quốc Chăm-pa.

Dấu tích của người Chăm ở Biển Đông vẫn còn rõ nét cho tới tận bây giờ là đảo Lý Sơn ngoài khơi Quảng Ngãi và Cù Lao Chàm ngoài khơi Quảng Nam. Điển tích về sự thành thạo nghề biển của họ là việc vua Minh Mạng điều các ngư dân người Chăm ra Hoàng Sa khẳng định chủ quyền.

Ngay cả việc Trung Hoa khẳng định tính chính danh của họ ở Hoàng Sa, họ cũng viện diễn các ngư dân Hải Nam từng lên đảo và đánh bắt quanh vùng biển Hoàng Sa. Các ngư dân Hải Nam đó chính là hậu duệ của người Chăm tị nạn nhà Nguyễn.

Chuyện nhà Nguyễn đặt dấu chấm hết cho Vương Quốc Chăm-pa và sáp nhập lãnh thổ của họ vào Việt Nam là một sự thật lịch sử. Theo luật tự nhiên (natural law) trong luật quốc tế (international law), Việt Nam là người thừa kế chính thức 2 quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa của Vương Quốc Chăm-pa.

Nhưng tại sao Việt Nam không dùng luận chứng này để khẳng định chủ quyền biển đảo của mình ?