Thứ Năm, 23 tháng 7, 2015

Xung quanh câu chuyện sống lâu




Mình nhận được bài viết dưới đây qua hộp thư bạn bè gửi từ đầu tuần. Đọc thấy thú vị và muốn chia sẻ với nhiều người trên blog. 

Trong thư gửi cho nhau có mấy lời bình kèm theo cũng rất đáng chú ý. Chẳng hạn:

“Sống thọ mà khỏe mạnh mới thực sự đáng giá”, chứ sống lâu mà đầy bệnh tật hoặc khỏe mà thiếu thốn đủ bề (vật chất và tinh thần) thì "sống thọ ý nghĩa gì nữa".

Nên ngày nay người ta rá vẻ thích: “SỐNG KHỎE, CHẾT NHANH”, nhưng với cả cụm những ý kèm theo, như ít của để dành (ý nói khi còn khỏe mạnh được tiêu pha thoải mái, hưởng tiện nghi, đi du lịch đây đó...); hoặc chết nhanh vậy ắt "nhiều người thương tiếc"... Khẩu hiệu sống trên hiện nay được nhiều tầng lớp người ưa chuộng, phấn đấu đạt tới…

Nhưng có người còn bàn luận thêm về sự sống lâu, hưởng tuổi thọ thật cao:

Đó là “Sống thọ như vậy để làm gì nhỉ ?”, vì đến khi ấy, “không còn ai thân thuộc, bản thân bị lệ thuộc trên nhiều phương diện", ví như về kinh tế dư dật không, sự chu cấp tài chính từ còn cái, rồi điều kiện sống có tốt hay không...; nếu mọi cái dưới mức trung bình, thậm chí khiếm khuyết, không có nữa... thì có khi sống thọ thế “còn khổ hơn bất kỳ hình phạt nào” chưa biết chừng... 

Bàn luận là vậy, thôi hãy để đấy tham chiếu. Tốt hơn hết xin mời bạn hãy đọc bài dưới đây trong nguyên văn (nghe nói lấy từ trên trang BBC) được một bạn người Việt yêu thích đề tài này dịch thuật lại...


Vệ Nhi g-th

---- 

Làm sao để sống thọ trên 110 tuổi?


Tác giả: Rachel Nuwer


Sống đến 100 tuổi luôn là dịp để ăn mừng, nhưng ngày nay có quá nhiều người 100 tuổi đến nỗi các nhà khoa học chẳng buồn theo dõi họ nữa.




Hồi năm 2012, Liên Hiệp Quốc ước tính có khoảng 316.600 người trên 100 tuổi trên thế giới.
Cho đến năm 2050, con số này được dự đoán sẽ tăng lên hơn ba triệu người.
Những người siêu thọ
Có một nhóm người còn đặc biệt hơn nữa, đó là những người sống trên 110 tuổi.
Nhóm nghiên cứu lão khoa, một nhóm các nhà nghiên cứu toàn cầu có trụ sở ở Los Angeles, theo dõi dữ liệu của những người cao tuổi nhất trên thế giới.
Tính đến cuối tháng Ba 2015, có 53 người trên 110 tuổi hiện đang còn sống. Điều đáng buồn là người lớn tuổi nhất thế giới, cụ bà Misao Okawa ở Nhật Bản, 117 tuổi, đã được thông báo đã qua đời hôm 1/4.
Cụ Okawa sinh vào năm 1898 và hiện nay chỉ còn bốn người còn sống – ba người Mỹ và một người Ý, tất cả đều là nữ, có ngày sinh trước năm 1900.
Điều này có nghĩa là họ đã sống qua ba thế kỷ. Điều làm cho họ đặc biệt là thế giới sẽ phải chờ tới ít nhất là năm 2100 mới có thể có được một "bộ tứ đại thọ" khác - gồm bốn người sống qua ba thế kỷ.
Cụ Misao Okawa, sinh năm 1898, là một trong số ít người sống qua ba thế kỷ (Hình: Getty Images)
Những người còn lại có thể sẽ ra đi trong vòng chưa tới 10 năm nữa do những người trên 110 tuổi thường chỉ giữ danh hiệu này trong khoảng thời gian ngắn.
Thời gian trôi qua không ngừng nghỉ có nghĩa là những người già nhất trên thế giới sẽ lần lượt ra đi.
Điều này khiến cho các chuyên gia trên trong nhiều lĩnh vực – sinh học, lịch sử, nhân chủng học văn hóa – đang cố gắng tìm hiểu những gì họ có thể từ những người đặc biệt này trong lúc họ vẫn còn sống và những bí quyết giữ gìn sức khỏe họ có thể truyền đạt lại cho chúng ta.
Đồng hồ sinh học chậm
Lý do hiển nhiên nhất để nghiên cứu những người lớn tuổi nhất hiện còn sống là tìm hiểu kinh nghiệm làm sao giữ sức khỏe lúc tuổi già.
Những người trên trăm tuổi ‘dường như sinh ra với đồng hồ sinh học chậm hơn tất cả chúng ta’, Stuart Kim, một nhà sinh học chuyên nghiên cứu về lĩnh vực phát triển sinh học ở Đại học Standford, nói. Khi họ 60 tuổi, họ trông như 40.
Khi họ 90 tuổi, họ chỉ giống như người 70. “Khi anh gặp họ,” Kim nói, “họ có bề ngoài và hoạt động trẻ hơn tuổi thật đến 20 tuổi.”
Hãy xem trường hợp của bà Besse Brown Cooper, sinh năm 1896 ở Tennessee. Bà sống thọ 116 tuổi 100 ngày và lập kỷ lục là người sống thọ thứ 10 từ trước đến nay mà thế giới biết được.

“Nhiều người mà tôi nói chuyện chỉ rùng mình gào lên: “Ôi Trời ơi, tôi không muốn sống lâu như thế đâu,” cháu nội của bà Besse là Paul Cooper, người đang điều hành một quỹ phi lợi nhuận đặt theo tên bà nội của ông và hỗ trợ những người sống trên 110 tuổi, nói.
Nhưng mặc dù tuổi tác của cụ Besse có làm cho người ta kinh sợ, bà nội của ông đối với ông không bao giờ có vẻ gì là già.
Bà không gặp chuyện gì để đi khám ở bác sỹ lão khoa. Bà sống ở nhà, ra vườn làm lụng cho tới khi 105 tuổi và bà đọc rất nhiều cho đến khi 113 tuổi.
Yếu tố di truyền
Các nhà nghiên cứu đang cố gắng tìm hiểu về nền tảng di truyền và môi trường vốn là lý do khiến cho cụ Besse sống lâu mà vẫn khỏe.



Đến nay, họ đã biết rằng yếu tố di truyền – tức là ai đó có họ hàng sống thọ – là một trong những yếu tố chính giúp cho họ sống lâu.
“Không có cách nào sống đến 110 tuổi trừ phi bạn sinh ra đã được hưởng may mắn về di truyền,” ông Jay Olshansky, một giáo sư y khoa tại Đại học Illinois, nói.
Tuy nhiên ông và các nhà nghiên cứu khác đã không thể xác định được gien cụ thể quyết định tuổi thọ, một phần là do rất khó có đủ mẫu phẩm để nghiên cứu những người siêu thọ.
Hình: Getty Images
Theo ông Thomas Perls, một giáo sư y khoa và lão khoa tại Đại học Boston và giám đốc của Nghiên cứu Người trăm tuổi New England tại Trung tâm Y khoa Boston, những nghiên cứu này sẽ không giúp ích nhiều cho chúng ta để có thêm nhiều người sống siêu thọ nữa nhưng sẽ giúp chúng ta tránh được hoặc trì hoãn những chứng bệnh như Alzheimer, đột quỵ, tim mạch và ung thư.
Nói cách khác, có thể sẽ không bao giờ có việc đa số chúng ta sống đến 110 tuổi, nhưng việc hiểu làm sao có người sống được đến mức đó có thể giúp cho phần còn lại của nhân loại tăng cơ hội sống một cuộc sống trọn vẹn hay khỏe mạnh đến tuổi 85 hay 90.
Kho báu lịch sử sống
Giá trị của những người sống siêu thọ đối với xã hội không chỉ là mục tiêu ích kỷ để đem lại lợi lạc cho chúng ta trong cuộc sống tuổi già.
Mỗi một người lớn tuổi là một kho tàng tri thức. Một số người còn gọi họ là kho báu lịch sử sống. Điều quan trọng nữa là những gì họ kể không được lọc lại qua lăng kính của bên thứ ba – nhà sử học, nhà làm phim tài liệu hay nhà báo – do đó rất đáng để ghi lại.
“Đó còn là việc giúp chúng ta hiểu sâu hơn,” Doug Boyd, giám đốc Trung tâm Louie B Nunn về lịch sử truyền miệng tại Thư viện Đại học Kentucky, nói.
Hình: Getty Images
Đó là lý do tại sao Boyd đang số hóa toàn bộ bộ sưu tập của ông về lịch sử truyền miệng với 9.400 đoạn thâu âm được tổ chức thành hệ thống dữ liệu khoa học và miễn phí.
Khi những câu chuyện này được đưa vào lớp học hay mạng xã hội, chúng sẽ bắt đầu định hình lại cách chúng ta nghĩ về lịch sử và những giá trị về kiến thức và kinh nghiệm sống trong cuộc đời của những người lớn tuổi.
“Tôi thật sự nghĩ rằng chúng ta sẽ bắt đầu có ký ức của công chúng năng động và hiểu biết hơn khi bức tường của lịch sử truyền miệng bắt đầu đổ xuống,” Boyd nói. “Những câu chuyện con người kể lại chuyện đời của họ và đối phó với những vấn đề trong cuộc sống của họ được ghi âm lại trực tiếp sẽ ngày càng có nhiều giá trị văn hóa.”
Góc nhìn khác
Cuộc đời kéo dài cũng giúp cho những người lớn tuổi những nhận định độc đáo về những gì xảy ra ở hiện tại.
“Đó là một góc nhìn rất khác,” Perls nói. Ông nhớ lại một lần trò chuyện với ông Walter Breuning, một người dân Montana sống đến 114 tuổi vào lúc cao điểm của đợt suy thoái kinh tế hồi năm 2008. “Cụ ấy nói với tôi rằng anh nên thử ăn cỏ mỗi ngày như chúng tôi hồi Đại suy thoái và khi đó anh mới thấy bây giờ cuộc sống của anh có tồi tệ hay không.”
Hình: Getty Images
Sự khôn ngoan của người lớn tuổi là điều mà các nền văn hóa ngoài phương Tây lâu nay vẫn rất trân trọng.
Ở Nhật Bản, 43% người lớn tuổi sống với con cháu – giảm đáng kể qua những thập niên qua – nhưng vẫn vượt xa các nền văn hóa phương Tây.
Bà Mayumi Hayashi, một nhà nghiên cứu tại Viện lão khoa tại Đại học King’s College London, lớn lên trong một gia đình ba thế hệ.
Ông bà của bà yêu thích sự hài hòa, chuộng trật tự cấp bậc trong xã hội và kính trọng hoàng đế Nhật Bản. Họ không ưa những ý kiến mạnh bạo và chủ nghĩa cá nhân. Họ đã đem đến một góc nhìn vào quá khứ của Nhật Bản.



“Văn hóa và giá trị của họ thật sự khác biệt đến nỗi đối với tôi chúng hoàn toàn lỗi thời,” Hayashi nói. “Tuy nhiên, có ông bà sống cạnh bên khi tôi trưởng thành khiến tôi càng ý thức hơn về người lớn tuổi và cho tôi thấy Nhật Bản đã du nhập các giá trị được Mỹ hóa như thế nào.”
Chúng ta thường quan niệm sai lầm là càng lớn tuổi thì con người ta càng yếu đi về mặt sức khỏe và tinh thần.
Nghiên cứu của Olshansky và các đồng sự cho thấy không có dữ liệu chứng minh cho quan niệm nhầm tưởng giữa sức việc sức khỏe đi xuống và tuổi tác cao lên.
“Hầu hết những vấn đề mà chúng ta cho rằng là do tuổi tác thực ra lại không phải là do tuổi tác mà là do những việc chúng ta làm, chẳng hạn như hút thuốc, uống rượu hay béo phì,” Perls nói.
Trên thực tế, nhiều người, thậm chí có những người 85 tuổi hoặc hơn, có sức khỏe như những người trẻ hơn 20 đến 30 tuổi. Tuổi tác theo nhiều các chuyên gia không phải là cách đánh giá đúng về sức khỏe.

(Bản tiếng Anh bài này đã đăng trên BBC Future).



https://ssl.gstatic.com/ui/v1/icons/mail/images/cleardot.gif

City Tour Of Pyongyang, North Korea


Thứ Tư, 22 tháng 7, 2015

Bao giờ Việt Nam mới được như Cuba?

Những kẻ trọc phú ở Việt Nam nhìn người dân Cuba bằng con mắt của kẻ lắm tiền. Nhưng họ không biết rằng, ở Cuba, có những điều mà ít nhất 2/3 dân số Việt Nam đang nằm mơ cũng không được như vậy.
Gần đây, ông Lê Quảng Ba, Đại sứ Việt Nam tại CHDCND Triều Tiên khi nói chuyện với báo giới về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ở Triều Tiên đã thốt lên rằng: “Bao giờ ta có thể làm được như họ!”. Rồi ông lý giải, ở Triều Tiên cơ sở hạ tầng cực kỳ tốt, việc chăm sóc cho trẻ em rất đảm bảo, giáo dục rất được chú trọng… Và ông cũng nói thẳng rằng, không ít người trong chúng ta bấy lâu nay đã nhìn Triều Tiên bằng con mắt phiến diện. Điều này cũng có lỗi là từ ở phía Triều Tiên “bế quan tỏa cảng” về mặt thông tin, khiến cho thế giới không hiểu về quốc gia mình mà lại cứ nghe theo giọng điệu tuyên truyền của một số nước phương Tây. (>> Những điều Việt Nam cần học từ CHDCND Triều Tiên)
Nhân chuyện này, tôi mới nhớ lại những gì đã được “mắt thấy tai nghe” ở một quốc gia - đó là Cuba.
Không ít người Việt sang Cuba mà chủ yếu là các quan chức, một số doanh nhân sang tìm kiếm cơ hội làm ăn đã chê Cuba không tiếc lời. Nào là một đất nước nghèo đói, xe cộ cũ nát chạy tung tăng trên đường; nào là nhiều khu phố nhà cửa xuống cấp, bẩn thỉu; nào người dân sống trong cảnh thiếu thốn, thậm chí thiếu từ cái bàn chải đánh răng. Và bên cạnh đó là một tư duy làm kinh tế cứng nhắc, bảo thủ, trì trệ… Nói nôm na là cái gì cũng kém, cũng xấu. Thậm chí có một vị lãnh đạo của ngành du lịch Việt Nam đã từng phũ mồm “Kiểu làm du lịch của Cuba thì chẳng có gì đáng học”. Nhưng vị này lại không biết doanh thu từ du lịch của Cuba còn cao hơn doanh thu của du lịch Việt Nam, chiếm gần 20% GDP.
Người viết bài này cũng đã được sang Cuba tới 4 lần từ năm 2006 đến nay; cũng đã được làm việc với lãnh đạo Bộ Kinh tế Cuba; Bộ Nội vụ Cuba và lãnh đạo công an một số tỉnh, thành. Rồi cũng đã gặp gỡ không ít cán bộ, công nhân Cuba, trong đó có không ít người đã từng sang giúp ta mở đường Hòa Lạc - Xuân Mai, xây dựng khách sạn Thắng Lợi, mở đường Hồ Chí Minh…
Và quả thật, tôi cũng xin phép được nhắc lại câu của Đại sứ Lê Quảng Ba nếu như nói về Cuba: “Bao giờ ta có thể làm được như họ?!”.
Rõ ràng rằng, bấy lâu nay, cũng do Cuba xa chúng ta quá, hơn nữa, việc cung cấp thông tin còn rất hạn chế, cho nên thế giới và cả Việt Nam nữa - cũng không hiểu Cuba. Rất nhiều lời nhận xét về Cuba là xuất phát từ những kẻ trọc phú ở Việt Nam - đó là một số đại gia lắm tiền nhiều của và họ nhìn người dân Cuba bằng con mắt của kẻ lắm tiền.
Nhưng họ không biết rằng, ở Cuba, có những điều mà ít nhất 2/3 dân số Việt Nam đang nằm mơ cũng không được như vậy.
Tất cả trẻ em Cuba đều được giáo dục miễn phí ngay từ mẫu giáo lớn (5 tuổi) cho đến khi tốt nghiệp đại học hoặc học lên đến tiến sĩ. Trong suốt quá trình học này, học sinh không phải chi một xu cho tiền may đồng phục, tiền mua sắm sách vở, giấy bút và còn được nuôi ăn một bữa hoặc cả ngày (tùy theo từng trường).
Trẻ em Cuba từ khi đi học mẫu giáo đã được học 3 thứ. Đó là: âm nhạc, múa và bơi lội. Còn chữ nghĩa thì cũng có học nhưng chỉ là nhận biết mặt chữ mà thôi. Không có một trẻ em Cuba nào bị thất học, dù đó là ở nơi “thâm sơn cùng cốc”.
Tất cả người dân Cuba đều được khám, chữa bệnh miễn phí và được dùng những loại thuốc tốt nhất có thể. Vào những bệnh viện ở Cuba, không làm gì có cảnh bệnh nhân “lóp ngóp” chui từ gầm giường ra chào hoặc ba bốn bệnh nhân chung nhau một giường (như ở Việt Nam). Việc một ông ủy viên Trung ương nằm chung phòng điều trị với một ông phó thường dân là chuyện bình thường.
Tất cả người dân, trẻ em Cuba đều được uống sữa tươi miễn phí. Nếu là trẻ em dưới 10 tuổi thì đều “như vắt chanh”, mỗi ngày được uống nửa lít sữa và nhà nào không có điều kiện ra cửa hàng lấy thì có người mang sữa đến tận nhà.
Rồi nữa, giáo dục của Cuba được xếp vào hàng tiên tiến nhất thế giới, ngang với Đan Mạch. Y tế Cuba thì đứng vào hàng đầu và họ đã chế ra được vắc-xin phòng chống bệnh ung thư và nhiều loại thuốc đặc biệt khác. Thể thao Cuba thì cũng đứng vào hàng thứ 14, 15 gì đó trên thế giới (trong khi Việt Nam ta chưa được xếp vào thứ bậc nào trên thế giới, hoặc nếu có thì cũng hàng... đội sổ).
Còn về trật tự xã hội thì quả thực đó là một thiên đường cho sự ngăn nắp, nề nếp, văn minh và sự tôn trọng các quy tắc trật tự đô thị, bảo vệ môi trường.
Đúng là người dân Cuba còn thiếu thốn bởi cái lệnh cấm vận cực kỳ dã man của Mỹ. Nhưng trong phạm vi có thể, Chính phủ Cuba đã lo cho trẻ em và người già hết mức. Đấy chính là bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa.
Trong một lần, tôi về tỉnh Holguín - quê hương của Chủ tịch Fidel Castro. Vào tối Chủ nhật, tôi ra quảng trường ở thành phố chơi và thực sự kinh ngạc khi thấy có đến cả hơn 100 thanh thiếu niên mang các loại nhạc cụ ra hòa tấu - chủ yếu là bộ hơi (các loại kèn). Hóa ra ở thành phố này có một ông nhạc trưởng. Mỗi tháng một lần, ông lại phát cho những thanh thiếu niên biết chơi nhạc một bản nhạc. Học sinh mang về tập và cứ đến tối Chủ nhật thì lại ra quảng trường tập hòa tấu. Một khung cảnh thanh bình, văn minh hiếm có mà dĩ nhiên, chưa từng thấy ở Việt Nam.
Đi trên đường phố thủ đô La Habana hoặc đến bất cứ cửa hàng nào, không làm gì có cảnh người dân chen lấn, xô đẩy mua hàng hóa hoặc chen lấn lên xe buýt. Một cháu bé đang đi tung tăng trên vỉa hè, nếu vui chân chạy xuống đường thì lập tức tất cả các phương tiện giao thông đang đi trên đường dừng lại, người lái xe sẽ xuống xe dắt cháu trên vỉa hè rồi mới đi tiếp.
Những điều đó - chắc chắn rằng những người vốn nhìn Cuba hay Triều Tiên bằng con mắt “trọc phú” sẽ không bao giờ nhìn thấy bởi họ quen đến những nơi có tiền là có tất cả. Nhưng họ lại không nghĩ rằng, có những điều trong cuộc sống con người ta mà có tiền cũng chẳng thể mua được: Đó là sự hạnh phúc, bình an.
Cuba, Triều Tiên - không phải là họ không biết và không có khát vọng làm giàu. Nhưng họ không làm giàu bằng mọi cách như ở Việt Nam ta. Họ không làm giàu bằng kiểu tàn phá môi trường; không làm giàu bằng các trò làm ăn chộp giật, lừa đảo, bất chấp luật pháp. Đúng là xã hội của họ còn nhiều thiếu thốn, cách quản lý, xây dựng phát triển kinh tế của họ cũng còn nhiều điều phải bàn, phải cải tổ nhưng rõ ràng họ đã chăm lo tốt hơn ta rất nhiều cho đời sống người dân, đặc biệt là trẻ em và người già. Mà nhân đây cũng phải nói thêm rằng, bình quân thu nhập theo đầu người của Cuba còn gấp 3 lần người Việt Nam (khoảng 3.000USD/người/năm). Chỉ có điều là Cuba đã dành 54% tổng thu nhập quốc gia cho giáo dục và y tế.
Bao giờ Việt Nam ta mới được như thế!?
Theo NĂNG LƯỢNG MỚI

David Sackett (1934 - 2015): Một "tượng đài" y học đã ra đi

Thế là một "tượng đài" y khoa lại ra đi. Giáo sư David Sackett, cha đẻ của trường phái Y học thực chứng hay "Evidence-Based Medicine" (EBM), mới tạ thế vào ngày 13/5/2015 tại Hamilton, Canada. Ông thọ 80 tuổi. Ông được xem là một "người khổng lồ" trong những người khổng lồ của khoa học. Ông ra đi nhưng để lại một di sản đồ sộ cho nền y học hiện đại, một di sản mà nhiều thế hệ mai sau sẽ còn khai thác thêm và ghi nhận những ý tưởng mang tính tiên phong của ông.



David Sacket, hình chụp năm 2009


Xuất thân thành phần lao động

GS Sackett tên đầy đủ là David Lawrence Sackett, nhưng bạn bè và đồng nghiệp thân quen thì hay gọi tắt là "Sack". Ông sinh ngày 17/11/1934 ở Thành phố Chicago, trong một gia đình thuộc thành phần lao động mà cha là nghệ sĩ thiết kế, và mẹ là thủ thư trong thư viện. Tuổi thơ của ông là những ngày tháng êm đềm trong một vùng ngoại ô đa chủng tộc. Ông cho biết rằng năm 12 tuổi ông bị polio và phải tiêu ra nhiều tháng trên giường bệnh. Đó cũng chính là thời gian ông có thì giờ đọc rất nhiều sách, và qua đó mà mở rộng tầm nhìn và nhãn quan thế giới chung quanh. Trong thời gian điều trị, ông thường hay chạy bộ, và xem đó như là một trong những biện pháp trị bệnh polio. Ông cũng là người yêu âm nhạc, và hay nghêu ngao ca hát khi có dịp.

Ông học giỏi từ thời trung học, nhưng hồ sơ học bạ ghi là ông hay vi phạm kỉ luật nhà trường. Có lần nhà trường triệu tập mẹ ông lên và cảnh báo về cậu bé David. Trong thời gian theo học ở Trường cao đẳng Lawrence (bang Wisconsin) ông thấy ham thích môn sinh lí học, nên ông quyết định theo học ngành y. Ông ghi danh vào Trường Y thuộc Đại Illinois, vì trường đó là nơi duy nhất lấy học phí thấp, vừa với túi tiền để ông có khả năng theo học.

Sau khi tốt nghiệp trường y năm 1959, ông quyết định theo đuổi nội khoa, chuyên ngành thận. Ông cho biết trong thời gian học nội trú ông hay bất đồng ý kiến với đồng nghiệp về chứng cứ khoa học. Năm 1962 khi vụ khủng hoảng Cuba xảy ra, ông nhập ngũ, và trong thời gian tại ngũ ông theo học ngành dịch tễ học. Không dừng lại ở học tập, ông suy nghĩ cách ứng dụng các khái niệm và kĩ năng dịch tễ học vào lâm sàng. Đó chính là thời gian ông đã manh nha ý tưởng về một bộ môn mà ông gọi là "Clinical Epidemiology", tức Dịch tễ học lâm sàng.

Nhưng sau đó thì ông di cư sang Canada và khởi nghiệp bên đó. Năm 1967, Giáo sư huyền thoại John Evans, lúc đó là Khoa trưởng Y khoa ĐH McMaster, "chiêu dụ" ông vềMcMaster. Cần nói thêm rằng Đại học McMaster được ví von như là Harvard của Canada. Evans quả là người nhìn xa trông rộng, vì ông đã tuyển mộ được một người mà sau này cũng thành huyền thoại như ông. Ở tuổi 32, BS David Sackett sáng lập ra bộ môn dịch tễ học lâm sàng (Department of Clinical Epidemiology) tại ĐH McMaster, và soạn cuốn sách nổi tiếng “Clinical Epidemiology: A Basic Science For Clinical Medicine”, thường được mô tả như là kinh thánh của Y học thực chứng.

Dạo đó, ông gọi phương pháp dịch tễ học lâm sàng của ông là “Critical Appraisal” (Thẩm định có hệ thống). Mãi đến 1990, thuật ngữ “Evidence based medicine” mới ra đời, và tác giả thuật ngữ này không ai khác hơn là Gordon Guyatt, một học trò của GS David Sackett. Trong một bài báo ngắn, nhưng rất quan trọng, đăng trên Tập san y học Anh (BMJ) vào năm 1996, ông đặt nền tảng cho trường phái mà chúng ta biết đến ngày nay là "Y học thực chứng" (1). Tập san BMJ đánh giá rằng Y học thực chứng là một trong những tiến bộ quan trọng nhất trong lịch sử y học 150 năm qua. Y học thực chứng được đánh giá có tác động đến sức khoẻ con người ngang hàng với vaccine và kháng sinh.

Năm 1994, ông được Đại học Oxford bổ nhiệm làm giám đốc Trung tâm Y học thực chứng. Ông có một tham vọng nóng bỏng lúc đó là giới thiệu trường phái Y học thực chứng trên toàn quốc Anh. Thật ra, việc bổ nhiệm GS Sackett ở Oxford là một việc làm gây nhiều tranh cãi, vì lúc đó Anh,vốn rất bảo thủ, chưa sẵn sàng chấp nhận Y học thực chứng. Dĩ nhiên, sau này thì chúng ta biết y giới bên Anh gần như hoàn toàn theo trường phái Y học thực chứng.

Y học thực chứng

Một cách ngắn gọn, y học thực chứng là một phương pháp thực hành y khoa dựa vào các dữ liệu y học một cách sáng suốt và có ý thức, nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân. Các dữ liệu y học ở đây là kết quả nghiên cứu y khoa đã được công bố trên các tập san y học chuyên môn. Sử dụng dữ liệu y học một cách “sáng suốt và có ý thức” có nghĩa là người thầy thuốc phải cân nhắc, đánh giá, phân loại các dữ liệu nghiên cứu y học, kết hợp cùng kinh nghiệm lâm sàng và thông tin từ bệnh nhân. Tóm lại, cái “giáo lí” căn bản của y học thực chứng là bệnh nhân cùng làm việc với bác sĩ của họ, trang bị bằng các dữ liệu khoa học, để đi đến một quyết định, một sự lựa chọn tối ưu cho bệnh nhân. Bởi vì chỉ có bệnh nhân mới biết về họ chính xác hơn là bác sĩ biết về họ.

Thay đổi căn bản mà phong trào y học thực chứng đem lại trong y học là mối quan hệ giữa bác sĩ và bệnh nhân. Cho đến nay, mối quan hệ này không bình đẳng, vì trong đó người quyết định là bác sĩ, và bệnh nhân là người tuân hành theo quyết định đó. Y học thực chứng không muốn người bác sĩ nói “Tôi đề nghị anh nên dùng thuốc này”, hay những phát biểu mang tính khẳng định và làm áp lực như “Tôi nghĩ rằng”, “Tôi tin rằng”, “Kinh nghiệm tôi”, “Đồng nghiệp tôi từng”, v.v.GS David Sackett là người rất "dị ứng" với những cách thực hành theo kinh nghiệm cá nhân. Ông cũng không chấp nhận sách giáo khoa (như Harrison) là "phúc âm y khoa". Ông đòi hỏi phải có chứng cứ trước, và nếu không có, thì phải làm nghiên cứu để có chứng cứ. Chứng cứ khoa học, theo ông, phải là nền tảng cùng với kinh nghiệm và kĩ năng cá nhân, để đi đến quyết định.

Do đó, Y học thực chứng muốn người bác sĩ phải học cách nói “Tôi thấy có bằng chứng cho thấy thuốc này có hiệu nghiệm trong X phần trăm trong những người mang bệnh như anh. Vậy anh thấy sao?”. Sự thay đổi này, tuy bề ngoài không có gì là quá đáng, nhưng về bản chất nó dẫn đến sự suy giảm về quyền lực của người thầy thuốc, và quyền quyết định được chuyển giao cho bệnh nhân. Đây là một khía cạnh mà mối quan hệ bác sĩ – bệnh nhân sẽ thay đổi trong thời đại y học dựa vào thực chứng. Trong thực tế và ở mức độ vĩ mô, phong trào y học thực chứng ủy quyền cho dữ liệu khoa học, và do đó ủy quyền cho hai phía, bệnh nhân và bác sĩ. Hai bên cùng có lợi.

Nói một cách khác, trong thế giới y học thực chứng, người bác sĩ đóng vai trò người hướng dẫn, giới thiệu dữ liệu y học, và có trách nhiệm trình bày những dữ liệu đó trong một bối cảnh liên quan đến bệnh nhân. Nhưng quyết định cuối cùng là của bệnh nhân: họ có quyền chấp nhận hay từ chối đề nghị của bác sĩ. Nếu không có các dữ liệu y học trước họ, sự suy xét thuộc quyền sở hữu của người bác sĩ. Nhưng trong y học thực chứng, sự suy xét này của bác sĩ được chuyển nhượng cho bệnh nhân.

Y học thực chứng đòi hỏi người thầy thuốc phải biết đánh giá chứng cứ khoa học, phải biết định lượng giữa lợi và hại. GS Sackett cho rằng kế toán gia hiểu biết được tầm quan trọng của con số, nhưng giới thầy thuốc chỉ mới dần dần hiểu được sức mạnh của con số. Ông kêu gọi giới thầy thuốc phải học những bài học mà giới kế toán đã từng học hơn một thế kỉ qua.

Một người khổng lồ

Y học thực chứng mà GS David Sackett và các môn sinh của ông phát động và truyền bá là một cuộc cách mạng trong y học. Hai chữ "Evidence based" ngày nay không chỉ tồn tại trong y khoa mà còn lan sang các ngành khác. Chúng ta đã nghe qua Evidence Based Practice (thực hành dựa vào chứng cứ), Evidence Based Policy (Chính sách công dựa vào thực chứng), Evidence Based Education (Giáo dục dựa vào thực chứng), v.v. Trường phái y học thực chứng không chỉ ảnh hưởng đến một chuyên ngành hẹp, mà cho toàn bộ y khoa, và ngoài y khoa. Do đó, không ngạc nhiên khi người đời xem GS David Sackett là một "người khổng lồ" trong những nhà khoa học khổng lồ. Ông sẽ được đời nhớ đến như là một William Osler thứ hai. (Cần nói thêm rằng William Osler là một danh y của Mĩ, người đã để lại nhiều công trình có ảnh hưởng sâu sắc đến y học hiện đại).

GS David Sackett là một nhân cách đặc biệt. Người viết bài này có lần gặp và nghe ông giảng trong một seminar ở Sydney. Ông là người giản dị, rất dễ mến, nói năng cực kì thu hút, và hăng hái tranh luận bình đẳng với người đặt câu hỏi dù người đó chỉ đáng tuổi con cháu ông. Trong buổi họp, ông luôn ngồi ở hàng ghế đầu, vì ông nói rằng già rồi, ngồi phía sau diễn giả nói ông không rõ, nên phải ngồi hàng ghế đầu. Khi đặt câu hỏi, ông không bao giờ tỏ ra là hàng "cây đa cây đề" mà vẫn xếp hàng để đến phiên mình. Có lần ông bị chủ toạ cắt ngang vì ông đặt câu hỏi ... quá giờ. Ấy thế mà ông vẫn vui vẻ, không hề tỏ ra bực tức, lại còn khen người chủ toạ điều hành tốt!

Có lần ông nói chuyện trong một seminar mà slide đầu tiên ông đề tên tác giả là David Sackett and Kilgore Trout. Ai cũng ngạc nhiên vì không biết Trout là ông/bà nào! Sau này ông giải thích trout là con cá hồi và cũng là một nhân vật trong tiểu thuyết nào đó. Ông mê câu cá, nên thỉnh thoảng cho con cá đứng tên tác giả với ông.

Sau 5 năm trong vai trò giám đốc Trung tâm Y học thực chứng ở Đại học Oxford, ông quay về Canada và sống ẩn dật bên hồ Ontario. Tuy nói là "ẩn dật" nhưng ông vẫn tích cực tổ chức những chương trình workshop nổi tiếng về nghiên cứu khoa học và y học thực chứng cho môn sinh. Chương trình này lan toả trên khắp Canada sau này.

Sau khi các đồng nghiệp khắp thế giới nghe tin ông bị ung thư, rất nhiều người muốn phỏng vấn, nhưng ông đều từ chối. Tuy nhiên, sau này ông đồng ý cho họ gửi câu hỏi, và với sự trợ giúp của vợ và một đồng nghiệp thân tín, ông trả lời những câu hỏi về cuộc đời, sự nghiệp, và những bài học ông muốn để lại cho đời. Kết quả là một tập sách 104 trang được công bố trực tuyến trước mấy ngày ông tạ thế (2). Đó là một tập sách rất thú vị và rất có ích cho các bác sĩ khác noi gương và học hỏi về một nhà khoa học phi thường.

Ông là typ người làm theo những gì ông giảng. Ông nói rằng y học ngày nay tiến triển nhanh quá, nên khó có thể cập nhật thông tin và kĩ năng lâm sàng. Ông đi đến một quyết định làm ngạc nhiên biết bao đồng nghiệp: Ở tuổi 49 và đang là một giáo sư y khoa, ông xin đi học lại nội trú, và tiêu ra 2 năm trời trong chương trình nội trú! Những người học nội trú cùng ông sau này cho biết ông là một thí sinh rất khó tính, vì cái gì ông cũng hỏi "chứng cứ đâu" làm điên đầu các giáo sư khác.

Ngay cả ngày ông gần chết mà ông vẫn trung thành với triết lí và phương pháp y học thực chứng. Các đồng nghiệp của ông kể lại rằng một trong những câu hỏi ông thường hỏi bác sĩ điều trị cho ông là chẩn đoán đó có chứng cứ khoa học hay không, phương pháp điều trị có chứng cứ khoa học đáng tin cậy không. Ông bị ung thư túi mật. Bác sĩ Haynes, một người thân cận của ông cho biết khi bác sĩ điều trị nói không có chứng cứ khoa học nhiều về bệnh này, ông lẩm bẩm than rằng "một kẻ bỏ ra cả đời để quảng bá y học thực chứng mà bây giờ mắc phải một bệnh có rất ít chứng cứ.

Y học thực chứng, như đề cập trên, ngày nay đã lan toả sang các ngành nghề ngoài ngành y. Đó là một cuộc cách mạng mà các thế hệ thầy thuốc sau này khắp thế giới, kể cả ở Việt Nam,sẽ có dịp đào sâu và phát triển thêm để nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân.


Ghi chú và tham khảo:

(1) Sackett DL, et al. Evidence based medicine: what it is and what it isn't. BMJ 1996;312:71


Thứ Ba, 21 tháng 7, 2015

Trận Ông Thành ngày 17 tháng 10 năm 1967 tại khu vực Suối Ông Thành, thuộc huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Dương




Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Trận Ông Thành
Một phần của Chiến tranh Việt Nam
Thời gian17 tháng 10 năm 1967
Địa điểmSuối Ông Thành, Chơn ThànhBình DươngNam Việt Nam
Kết quảMặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam thắng
Tham chiến
 Hoa KỳFNL Flag.svg Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam
Chỉ huy
Terry de la Mesa Allen, Jr. Võ Minh Triết
Thành phần tham chiến
Flag of the United States.svg
  • Tiểu đoàn 2/Trung đoàn 28/Sư đoàn 1 Bộ binh
FNL Flag.svg
  • 2 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 271 (Trung đoàn 1/Sư đoàn 9)
  • Đại đội C1, thuộc Đoàn 83
Lực lượng
142–155[1]~600-1,400[1]
Tổn thất
64 chết,
2 mất tích,
75 bị thương.[2]
Không rõ (Hoa Kỳ tuyên bố có 103 chết, nhưng không thể kiểm chứng)[3]
.
Trận Ông Thành là một trận đánh trong Chiến tranh Việt Nam, diễn ra vào ngày 17 tháng 10 năm 1967 tại khu vực Suối Ông Thành, thuộc huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Dương (cách Sài Gòn 60 km về phía tây bắc). Theo các tài liệu tại Mỹ thì đây là cuộc đụng độ giữa Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 28 "Sư tử đen", Sư đoàn 1 Bộ binh, Quân đội Hoa Kỳ với Trung đoàn 271, Sư đoàn 9 Quân Giải phóng miền Nam. Còn theo Đại tá Võ Minh Triết, chỉ huy Quân Giải phóng trong trận này thì đó là 2 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 1, Sư đoàn 9 Quân Giải phóng. Mặc dù là một chiến thắng lớn của QGP, trận đánh này ít được nhắc đến trong các tài liệu Việt Nam vì nó diễn ra bất ngờ ngoài dự tính (theo Đại tá Triết thì đơn vị của ông bất ngờ chạm địch khi đang hành quân chuẩn bị cho một chiến dịch[4]). Trong thời kì Chiến tranh Việt Nam, phía Mỹ cũng không công bố chi tiết về trận đánh này đến công chúng cho đến năm 1991.

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 10 năm 1967, Trung tá Terry Allen, chỉ huy trưởng Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 28 "Sư tử đen" có nhiệm vụ càn quét, tìm và diệt Việt Cộng tại một số khu vực nằm giữa Sài Gòn và biên giới với Campuchia, trong đó có khu vực tây và bắc thị trấn Lai Khê. Trung đoàn 28 đóng quân tại Lai Khê, để thực hiện nhiệm vụ vốn là một phần của Chiến dịch Shenandoah II.
Ngày 8 tháng 10, tiểu đoàn của Trung tá Allen nhận được tin tình báo Việt Cộng đang ẩn nấp tại khu vực gần Chơn Thành. Ba đại đội của tiểu đoàn là Alpha (A), Bravo (B) và Delta (D) được lệnh di chuyển bằng máy bay trực thăng 21 km về hướng tây bắc Lai Khê. Còn đại đội thứ tư của tiểu đoàn là Đại đội Charlie (C) được điều đi hỗ trợ ở mặt trận khác - bảo vệ đường tiếp vận cho Đoàn pháo binh 15 Hoa Kỳ.
Đến nơi, ba đại đội A, B, D của Tiểu đoàn 2 đóng quân ở khu vực ngã ba suối Ông Thành, một vùng có nhiều cây cao và bụi cây đan xen rất dày, có nhiều con lạch nhỏ. Và họ gần như lập tức phát hiện thấy dấu vết của đối phương. Từ đây, mỗi khi quân Mỹ tổ chức đi lùng sục xung quanh khu vực họ đóng quân, họ đều phát hiện thấy dấu vết của Việt Cộng. Vào ngày 16 tháng 10, quân Mỹ đã chạm súng với một phần của Trung đoàn 1 Quân Giải phóng (mà phía Mỹ gọi là Trung đoàn 271) do Trung tá Võ Minh Triết chỉ huy.
Theo Trung tá Triết, trung đoàn của ông đang trên đường hành quân cho một chiến dịch khác thì hết gạo ăn, và phải dừng lại chờ Đoàn 83 đưa gạo đến tiếp tế. Việc trung đoàn của ông phải đụng độ với quân Mỹ ngay tại khu vực đóng quân chờ tiếp viện lương thực là hoàn toàn bất ngờ, và không thể tránh khỏi, dù quân lính của ông đã tìm cách ẩn nấp và cố gắng tránh đụng độ với quân Mỹ. Cho đến sáng ngày 17 tháng 10, khi trận đánh diễn ra, trung đoàn của ông đã hết gạo ăn đến 6 ngày.
Vào đêm ngày 16, Mỹ huy động B-52 đã ném bom khu vực suối Ông Thành để mờ đường cho một trận càn mới vào sáng hôm sau. Dù có nhiều ý kiến phản đối, đặc biệt là từ chỉ huy Đại đội Delta là Trung úy Clark Welch, cho rằng việc dàn quân đối mặt trực tiếp với Việt Cộng là khá nguy hiểm, nhưng Tiểu đoàn trưởng Allen vẫn quyết định mở một cuộc hành quân bằng bộ binh vào thẳng nơi Việt Cộng đang ẩn nấp.

Diễn biến[sửa | sửa mã nguồn]

8 giờ sáng ngày 17 tháng 10, Đại đội B ở lại làm nhiệm vụ bảo vệ doanh trại dã chiến. Trung tá Allen cùng 9 sĩ quan chỉ huy khác, và hai Đại đội A và D, tổng cộng khoảng 160 người trực tiếp mở cuộc hành quân để giáp mặt tiêu diệt cứ điểm của đối phương. Họ đi xuyên qua vùng cây cối rất rậm rạp, di chuyển khá khó khăn, chỉ được 800m sau khoảng 2 giờ đồng hồ. Đại úy Jim George, chỉ huy Đại đội A, nói:"Chúng tôi không nhìn hay nghe thấy đối phương, nhưng họ lại ở ngay xung quanh chúng tôi". Đại đội A đi trước dẫn đường, tiếp sau bọc hậu là Đại đội D cùng với 10 sĩ quan chỉ huy. Mỹ ước tính đối phương có quân số của một trung đoàn khoảng 1.400 người, họ cho rằng trong trận đó họ phải chống lại đối phương với tỉ lệ 1:10. Tuy vậy, theo Đại tá Triết trả lời phỏng vấn đài PBS trong cuộc phỏng vấn vào năm 2005, ông nói tham gia trận đánh hôm đó chỉ có hai tiểu đoàn của Trung đoàn 1 với quân số không đầy đủ, tổng cộng khoảng 600 người.
Quân Giải phóng đã dự tính được cuộc càn quét này, nên họ đã tổ chức phòng thủ từ vài hôm trước, với những công sự cá nhân, hầm trú ẩn tránh bom, và cả những vọng gác bằng chính những cây cao rậm rạp, nơi mà họ trèo lên đó, ngụy trang và chờ quân Mỹ xuất hiện.
Khoảng 10 giờ sáng, Đại đội A bất ngờ dừng lại, họ nghi ngờ và cho người đi tìm kiếm dấu vết đối phương, cùng lúc này, họ phát hiện thấy dấu chân người và cả bóng người thấp thoáng sau những lùm cây. Đúng lúc này, một loạt những tiếng gõ mạnh được truyền qua lại giữa những thân cây gỗ, và hiệu lệnh đồng loạt nổ súng của Việt Cộng bắt đầu.
Trung đội tiên phong của Đại đội A hứng chịu hỏa lực của đầu tiên của Việt Cộng, đó là súng trường cá nhân, súng máy mặt đất, súng phóng lựu RPG và cả mìn Claymore. Hỏa lực bắn về phía quân Mỹ từ khắp mọi nơi, thậm chí từ trên những cây cao bắn xuống, nơi lính Việt Cộng ngụy trang và ẩn nấp. Người đầu tiên tử trận là Lynn Breeden, anh ta bị giết bởi 6 vết đạn trên người, Trung đội trưởng Johnson bị bắn đến chết bởi gần 100 phát đạn. Lính cứu thương Tom Hinger vụt chạy dưới làn đạn để cứu chữa những người bị thương, trong khi một số khác trườn đến vị trí thích hợp để bắn trả, số khác cố gắng bò thấp để cứu đồng đội ra khỏi khu vực nguy hiểm. Đại úy George điều trung đội thứ hai lên tiếp cứu. Trong ít phút, trung đội này cũng bị thiệt hại nặng: lính tiền tiêu, lính điện đài và lính trinh sát đều bị giết.
Một lính Việt Nam cầm một trái mìn Claymore xông thẳng vào nhóm lính Mỹ nơi Đại úy George đang đứng và kích cho trái mìn nổ tung. George bị thương nặng và ngất đi, vài lính Mỹ chết và bị thương nằm xung quanh George. Chỉ ít phút sau khi súng nổ, Đại đội A đã bị tiêu diệt hoàn toàn.
Đến lượt Đại đội D được tung vào cuộc chiến, họ vừa đưa những người bị thương về cứu chữa, vừa thay thế từng vị trí của Đại đội A đã bị tiêu diệt để chiến đấu. Hỏa lực của Việt Cộng giờ dồn cả về Đại đội D, từ phía trực diện và từ sườn bên phải, rất gần, chỉ khoảng 10 đến 20m. Việt Cộng nấp kín trong từng vị trí, trong khi quân Mỹ hoàn toàn thiếu sự che chắn, họ phơi mình ra trước hỏa lực của đối phương.
Đại đội D không thể tiến lên, họ nấp lại tại vị trí chiến đấu, sau từng lùm cây, sau mỗi gốc cây, và sau bất cứ thứ gì có thể tránh đạn, và tránh cả tầm quan sát của đối phương. Cùng lúc, Đại tá Triết tung tiểu đoàn dự bị đánh mạnh vào sườn phải của quân Mỹ. Lính phóng lựu Bill McGath sau đôi chút hoảng sợ đã nấp lại sau gốc cây, anh ta nghe thấy tiếng bước chân dồn dập của đối phương đang chạy đến gần gốc cây nơi anh ta đang nấp, rồi lại chạy ra xa để tìm anh ta. Lấy lại được bình tĩnh, McGath đã tiêu diệt một lính bắn tỉa của đối phương bằng một phát M-79.
Lính trinh sát của Đại đội D là Harold Durham đã tìm cách gọi pháo binh hỗ trợ. Ban đầu, yêu cầu này bị từ chối vì chỉ có Đại đội A là đại đội dẫn đường mới được phép gọi pháo binh hỗ trợ. Durham khẳng định qua điện đàm rằng Đại đội A đã bị đối phương tiêu diệt hoàn toàn, và giờ Đại đội D đang chiến đấu mới là đại đội chủ lực dẫn đường để được quyền gọi pháo binh. Chỉ huy Đại đội D, Trung úy Clark Welch nói: "Thật quá thần kỳ, rất thần kỳ rằng anh ta đã gọi được pháo binh". Durham sau đó đã bị giết ngay lập tức bên điện đài khi đang định vị cho pháo binh.
Trận chiến kéo dài đến hai giờ đồng hồ, như một cơn ác mộng đối với lính Mỹ. Toàn bộ 10 sỹ quan chỉ huy, trong đó có Trung tá Allen, đều tử trận. Trung sỹ Lee Price chết gục trên người Đại úy George. Trung úy Welch, đại đội trưởng Đại đội D bị thương, ông trườn đến bên cạnh Trung tá Allen bị thương nặng trong cơn hấp hối, Welch nói được vài lời cuối với Allen rồi ngất lịm đi cho đến khi ông được quân Mỹ cứu về và tỉnh lại tại bệnh viện Long Bình. Trung tá Allen tử trận ngay tại chiến trường. Theo lời vợ ông thì bà được thông báo sau đó là họ không tìm thấy xác của chồng bà.
Cho đến khi Trung tá Triết ra lệnh ngừng bắn và rút quân, giao tranh mới chấm dứt. Theo ông Triết khi đó quân của ông đã nhận thấy toàn bộ quân Mỹ đã bị tiêu diệt và hỏa lực của họ đã tắt. Lính của ông đi kiểm tra thu dọn chiến trường trước khi rút đi theo lệnh của ông. Điều này được Trung úy Welch xác nhận trong cuộc gặp gỡ với ông Triết vào năm 2005 để thực hiện bộ phim tài liệu Two Days in October của đài PBS. Theo Welch thì Đại tá Triết đã nói với ông rằng họ rút đi sau trận đánh để tránh gặp phải B-52 lần nữa.

Kết quả[sửa | sửa mã nguồn]

Trên thực tế, 64 binh lính và sỹ quan Mỹ đã tử trận, hầu hết số còn lại đều bị thương nặng. Vẫn chưa có chi tiết cụ thể về thương vong của Quân Giải phóng. Theo Đại úy George, thương vong sẽ còn cao hơn nếu Đại đội A ban đầu không dừng lại tại nơi họ phát hiện dấu chân của Việt Cộng. "Nếu chúng tôi tiếp tục tiến thêm, có lẽ toàn bộ chúng tôi sẽ bị tiêu diệt", ông nói.
Trong thời gian diễn ra cuộc chiến tranh Việt Nam, những thông tin chi tiết về trận đánh này đã không được thông báo đầy đủ đến công chúng Mỹ. Nhiều tờ báo và hãng tin của Mỹ vẫn tường thuật trận đánh này là một chiến thắng của quân đội Mỹ.
Trận đánh này đã được David Maraniss chuyển thể vào tác phẩm They Marched into Sunlight, xuất bản năm 2003. Vào năm 2005, đài PBS của Mỹ đã công chiếu bộ phim tài liệu mang tên Two days in October nói về trận đánh này, với những thước phim thô được quay vào thời điểm diễn ra trận đánh và những bài phỏng vấn với những binh lính và sỹ quan chỉ huy trực tiếp tham chiến của cả hai bên.[5]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]