Thứ Năm, 29 tháng 10, 2015

Giá khám và giường bệnh viện từ ngày 15-11-2015

 TTO - Từ ngày 15-11, giá 1.800 dịch vụ y tế sắp tăng mạnh, trong đó đa số dịch vụ sẽ tăng 2-7 lần so với hiện hành. Trong đó, giá khám bệnh tăng đến 4 lần và giá giường bệnh tăng hơn 2 lần.

Thứ Tư, 28 tháng 10, 2015

Nguyễn Văn Khánh và Nỗi Lòng

Lê Hoàng Long kể:

Năm 1952 , khi tôi cộng tác viết loạt bài phê bình âm nhạc trên tờ nhật báo Giang sơn, chủ nhiệm; bác sĩ Hoàng Cơ Bình - ở phố Hàng Trống Hà Nội , tôi được quen nhạc sĩ trử tình nổi tiếng thời bấy giờ là Nguyễn Văn Khánh, ( NVKh) tác giả các ca khúc được nhiều người ưa thích : Chiều vàng và Nỗi lòng.

Image
Lúc ấy, Nguyễn Văn Khánh là công chức Sở Tài chính thành phố Hà Nội. Con người NVKh, ai mới trông thấy cũng cảm thấy tỏa chất nghệ sĩ, từ mái tóc, lối nói chuyện và nhất là dáng dấp thật phong phú ! NVKh ít nói, nhưng khi nói thật dí dỏm, có duyên. Nhà NVKh ở phố Khâm, Thiên , phố toàn nhà các cô đầu, ở trong ngõ, nhưng đất rất rộng. Khu ăn chơi này, trong một bài thơ nói đến thảm cảnh 2 triệu dân chết đói 1945, nhạc sĩ Văn Cao đã gọi đó là phường Dạ Lạc ( bài Chiếc xe xác đi qua phường Dạ Lạc ), đã làm xúc động dân chúng Bắc hà. Trong khuôn viên, có cả một cái ao nuôi cá, nên vào ngày chủ nhật, NVKh có cái thú ngồi uống rượu và câu cá. Rượu đối với NVKh là cái hũ chìm, uống bao nhiêu không say mà càng uống càng tỉnh táo. Lối uống rượu của NVKh đáng gọi là tiên tửu, khác hẳn một số đông tực tửu, rượu vào lời ra, ăn nói thô lỗ đi đến cãi nhau,đánh lộn !. Hàng tuần, NVKh hay đến vũ trường chơi với tôi vào thứ 5; còn tôi thì khoảng 10 giờ sáng chủ nhật là xuống uống rượu, câu cá, hàn huyên với NVKh. Có một lần, vào một sáng chủ nhật mùa đông gần Tết; trời lạnh như cắt ruột; xuống đến nhà , thấy Khánh đang đứng phục vụ vợ chiên một cá chép rất lớn. Thấy tôi đến, Khánh vội dừng tay, kéo tôi lên nhà, quạt lò lửa cháy lớnm, hơ tay sưởi cho đỡ lạnh. Hôm ấy lại mưa phùn lất phất, nên chúng tôi không ra câu cá mà ngồi với nhau trong nhà. Một lúc sau Khánh ôm cái hũ sành khá lớn ra, đặt lên trên bếp lò, cưới, nói :
- Lòng mình lúc nào cũng lạnh, muà đông mưa phùn gió bấc lại càng lạnh, nên chúng mình phải đổ nước sôi ( rượu hâm thật nóng) vào để cho lòng ấm lại. Hôm nay cậu phải uống thật say, mệt thì đắp chăn bông ngủ kỹ, đến tối tôi đưa cậu đi làm.
Dứt câu nói, thì chị Khánh đã bưng mâm lên, đặt vào giữa bộ ghế ngựa ( những tấm cây lớn ghép vào nhau để nhiều người ngồi ăn hoặc vài người có thể nằm ngủ ). Thế là hai đứa tôi ngồi đối ẩm, tán phét đủ chuyện trên đời cho đến chiều .
Được vài hôm, tôi được ban tổ chức Chợ Phiên ( kermesse) tổ chức đón mừng xuân Quý Tỵ ( 1953) tại bờ hồ Hoàn Kiếm - nhờ lo cho một cuộc thi hát. Tôi nhận lời và lập ban gíám khảo; người đầu tiên được mời là Nguyễn Văn Khánh, rồi Hoàng Trọng, Hùng Lân. Trong số thí sinh được phát thưởng hộm ấy, đến bây giờ, hơn 40 năm tôi vẫn còn nhớ - có 1 thí sinh dự thi - anh Duy Trác sau trở thành nam ca sĩ nổi danh vào thập niên, 60, 70 và còn là luật sư tòa Thượng Thẩm Sài Gòn. 
Dù thân với NVKh khá lâu mà chưa có lần nào có dịp thuận tiện để móc anh bộc lộ đời tình ái của mình; khiến anh có được sợi tơ lòng óng ả ở các ca khúc Chiều vàng và Nỗi lòng .Thế rồi, cho đến một buổi chiều thứ bẩy vào dịp lễ Các Thánh ( Toussaint ), đột nhiên anh đến chơi, rủ tôi đi lễ nhà thờ; mặc dù cả hai chúng tôi đều không có đạo. Cách đó 2 ngày, trôi đã cùng người yêu bé bỏng có đạo đi lễ tại nhà thờ Hàm Long. Nhân buổi lễ, tôi viết được bài Cầu xin Đức Mẹ, tôi bèn lấy ra hát cho NVKh nghe. Anh ngồi lắng nghe tôi hát, xong, tùm tỉm cười, nheo mắt, nói :
-Đi với người đẹp , mắt cậu sáng như đèn pha ô tô, nên mới nhìn thấy Đức Mẹ, để có được ca khúc này hả ? Bài nghe ra có âm hưởng nhạc đạo lắm, được đấy !
Sau này, đất nước chia đôi, mỗi lần vào dịp mừng Chúa Giáng sinh, đài phát thanh cho trình bầy bài ây, tôi lại sực nhớ tới lời bình của NVKhánh. 

Chúng tôi lững thững đến nhà thờ. Sau buổi lễ hai đứa tôi băng qua đường, vào quán cà phê Bằng , ....khi đang nhâm nhi ly cà phê nóng hổi; trừ loa phóng thanh phát ca khúc Nỗi Lòng : ' yêu ai yêu cả một đời ' - tất cả khách trong quán im lặng thưởng thức. Khi giọng ca chấm dứt, tôi mở lời :
- Cuộc tình mê ly nào đã làm cậu có được bài Nỗi lòng và Chiều vàng buồn tê tái vậy ?
Im lặng với nét mặt như đượm buồn, đưa hồn trôi về quá khứ, NVKhánh tâm sự . Khánh là con người đa sầu, đa cảm , biết yêu rất sớm. Mới bước vào năm thứ 2 bậc Thành chung ( nay lớp 7 ) , NVKh đã để ý, thầm yêu, trộm nhớ cô bé láng giềng . Cô bé này cũng đang cắp sách đến trường , con gái út của một ông thông phán làm ở Phủ Thống sứ Bắc Kỳ. 

Những đêm trăng sáng, NVKh ra đằng sau vườn nhà, mang đàn ra , hát : C' est à Capri, J' ai deux amours , Madelon ..., chứ tân nhạc lúc bấy giờ mới có được một, vài ba bài của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước , Văn Chung, Dzoãn Mẫn ... và chưa được phổ biến rộng rãi. Tiếng đàn quyện với tiếng hát trong đêm khuya thanh vắng, bay tới tai cô gái nhà bên. Về sau, cứ đúng giờ, NVKh ra vườn nghêu ngao. Có lẽ, cả hai đều tình trong như đã ... nên sau buổi học chiều về đến nhà, là cả hai cùng ta vườn sau, cách nhau có cái giậu mía thưa để nhìn nhau. Để làm hiệu, NVKh ra tới gần cửa ra vườn là cất tiếng hát lớn. Một lúc sau, đang tha thẩn ngoài vườn, nhìn sang, NVKh đã thấy bóng dáng mỹ nhân cũng ra, giả vờ làm một việc gì đó, nhưng 4 mắt thường vô tình gặp nhau.
Một buổi chiều ra vườn, NVKh hái ở cây, một quả cà chua chưa chín, rồi vứt nhẹ qua hàng rào. Vứt xong, NVKh lên tiếng, nhờ cô nhặt giùm, vì với tay không tới. Cô bé ranh mãnh lắm, nhặt xong, đưa cho anh, nói bâng quơ :
- Quả còn xanh thế này sao tự nhiên lại rụng được ?!
NVKh cũng thông minh, láu lỉnh, đáp:
- Phải là quả chín mới rụng được hay sao, hả cô ? Lá vàng còn ở trên cây , lá xanh rụng xuống được nữa là . Cám ơn cô nhiều !
Lúc ấy 4 mắt liếc nhẹ nhìn nhau , thầm nói với nhau: tình của 2 đã rạt rào rồi . Đêm hôm ấy, NVKh thao thức, sung sướng, xen lẫn lo lắng; nên không sao chợp mắt được ! Nằm trong giường, NVKh chỉ mong chóng sáng, nóng lòng chờ tiếng gà gáy sáng, thỉnh thoảng lại nhìn lên chiếc đồng hồ quả lắc treo trên tường mong sao chóng đến 5 giờ - nhưng ở đời, càng mong lại càng thấy lâu ! Nằm chán, lại ngồi dậy, ngồi mãi thi lòng dạ bồn chồn, đi đi, lại lại, thì mỏi chân; NVKh càng nóng ruột, thì lại càng nhớ. Thế rồi, chuông đồng hồ ngân nga 4 tiếng. Không tin ở tai mình, NVKh lấy bao diêm ra, quẹt lửa, nhìn kỹ, thì quả thực mới 4 giờ. Anh bực lắm, bước xuống giường, vặn cây đèn dấu sáng lên, lấy giấy bút ra ngồi vào bàn viết. NVKh viết tự tình gửi cho cô gái nhà bên. Viết rồi lại xé, xé xong lại viết; cứ như thế suốt 1 tiếng đồng hồ. NVKh chẳng viết được một lá thư nào ưng bụng, dù là ngắn ngủi . Đang loay hoay, NVKh mưng rỡ, khi nghe thấy chuông đồng hồ thánh thoát đổ 5 tiếng ngân vang. Cùng lúc ấy, tiếng chuông nhà thờ gần nhà đổ từng hồi, ngân rung trong gió như đánh thức, như nhắc nhở - rồi hồi chuông dần dần nhanh như thúc giục đàn chiên của Chúa tỉnh giấc, thức dậy, chuẩn bị đi dự lễ đầu. Nghe tiếng chuông xong , không khí buổi sớm mai trongsáng đã làm cho mọi người vui vẻ, chào đón ngày mới tốt lành. NVKh cũng mang tư tưởng ấy, còn yêu đời hơn, lại vội vã đi ra vườn phía sau. Thật hữu duyên thiên lý, NVKh vừa ra đến vườn, nhìn sang bên cạnh, đã thấy người đẹp đang múc nước giếng , NVKh đánh liều, hỏi trước :
- Sao hôm nay cô dậy lấy nước sớm thế
Cô chưa kịp trả lời , vì đang kéo gầu nước đầy , NVKh hỏi tiếp ngay :
- Giờ mà trăng vẫn còn. Cô múc nước giờ này cô có múc được ánh trăng không đây ?
Người đẹp không trả lời, nhìn NVKh, với ánh mắt thật tình, kèm theo nụ cười chúm chím, như đóa hoa hàm tiếu - làm cho NVKh thấy mình luýnh quýnh, run rẩy - vì quá càm động - và bữa kể lại cho nghe, Khánh xác nhận hình ảnh ban đầu ấy, dù ngàn năm không những không bao giờ anh quên được mà nó còn rực sáng, nóng bỏng mãi trong lòng, mỗi khi nhớ đến ; còn tưởng như mới xảy ra ngày hôm qua. Thật đúng :
Cái buổi ban đầu lưu luyến ấy
Ngàn năm sau hồ dễ mấy ai quên !

( Thế Lữ )
Sau lần đối thoại đầy tình tứ ấy, NVKh và cô gái bé bỏng nhà bên có được những buổi hẹn hò bên hồ Hoàn Kiếm, rồi còn hẹn nhau đi xa hơn là Hồ Tây, Chùa Láng, Quảng Bá, Nghi Tàm - và có lần lên Bác Cổ để tâm tình. Cuộc tình thơ mộng, trong sáng kia kéo dài tới 3 năm - cả 2 gia đình không một ai biết chuyện . Cho tới khi NVKh học năm tư 4 Thành chung, đi thi tốt nghiệp Diplôme ( Trung học cơ sở bây giờ ) , NVKh nhớ kỹ : buổi sáng đầu tiên thi luận viết tiếng pháp ( Rédaction francaise ) - ai đủ điểm trung bình trở lên thì ngày thứ 3 mới được thi oán và các môn kế tiếp. Thi viết xong, vô thi vấn đáp. Mỗi kỳ thi có 2 khóa kháo đầu ( 1ère session ) vào tháng 6 ; khoa nhì ( 2ème session) vào tháng 8. Thi đậu kỳ thi viết, vào vấn đáp mà rớt thì khoá sau chỉ phải thi vấn đáp thôi. Rớt vấn đáp nữa thì học lại 1 năm , để sang năm thi lại hoàn toàn. Khóa thi trung học năm ấy, NVKh mải ngụp lặn trong cuộc tình, nên khóa đầu bị trượt. Cô em nhà bên được tin này buồn lắm, nói với Khánh :
- Anh bị rớt keo đầu rồi thì em không muốn thấy anh phải mất thêm 1 năm nữa học lại. Vi thế, trong 3 tháng hè này, em xin anh phải để hết tâm trí vào việc học, và nhất định em không gặp anh như trứơc được nữa !
Nguyễn Văn Khánh năn nỉ, hứa chắc chắn rằng khóa 2, anh sẽ đỗ - nhưng chỉ xin mỗi tuần cho anh gặp 1 lần vào chiều chủ nhật. Nói mãi ,cô ta mới bằng lòng, lại cương quyết : nếu thi khóa 2 không đỗ thì chia tay luôn! Đó thật là một động lực vô cùng mãnh liệt, khiến NVKh dùi mài kinh sử đêm ngày; đến khóa thi, NVKh đỗ thật . Đời có những may rủi thật bất ngờ . Đúng lúc ấy, NVKh đang mừng, no tròn mộng đẹp - thì cụ thông phán phải đổi lên Thái Nguyên, cách xa Hà Nội hàng 100 cây số. 
Đêm cuối cùng ở Hà Nội, 2 người đã gặp nhau chia tay tạm biệt. Sáng hôm sau, với vẻ mặt thẫn thờ, NVKh ra khỏi cửa nhà, nhìn, và chờ chiếc xe đưa người yêu rời xa cố đô Thăng Long để ngược lên miền núi. Nói tới đất Thái Nguyên, người miền xuôi ai cũng sợ, cho đó là nơi của ma thiêng, nước độc. Có người còn xếp Thái Nguyên , đất khỉ ho, cò gáy, chó leo thang - thực tế, họ sợ là phải, vì mạn ngược thỉ bệnh sốt rét hoành hành ác liệt, nên đã có câu :
lử khử lừ khừ không ở Đại Từ thì cũng Vũ Nhai

nên NVKh vừa lo vừa thương người yêu - từ hôm ấy NVKh tương tư ra mặt.

Thời đó, phương tiện giao thông thật hạn chế, chỉ có xe lửa từ Hà Nội lên Lạng Sơn, muốn đi Thái Nguyên phải xuống ga Bắc Giang, rồi đi xe đò ngược lên, mà mỗi ngày chỉ có 1 chuyến. Dù xa xôi vất vả, thứ 7 nào NVKh cũng lặn lội đều đặn lên thăm nàng . nàng gặp thì gắt gỏng, tại sao mưa phùn cũng không ngăn được NVKh. lên đây sao ?
Người yêu của NVKh đã có kẻ đánh tiếng xin cưới làm vợ, hai gia đình môn đăng hộ đối, chàng thanh niên kia là dân có học - nhưng vì chót thề non, hẹn biển với Khánh, nên cô thoái thác, bằng cách hẹn lần hẹn lữa .Vì thế, mỗi lần gặp nhau; cả 2 đều tâm sự qua hai hàng nước mắt - nhưng không biết và chẳng có cách nào giải quyết được cái nếp áo mặc sao cho qua khỏi đầu ?
Trong hoàn cảnh đau khổ ấy, một lần trên xe từ Thái Nguyên về lại Hà Nội, NVKh đã nảy ra một ý nhạc thật dịu dàng, thổn thức :
Yêu ai yêu cả một đời 

rồi từ Bắc Giang về Hà Nội - trên xe lửa Nguyễn văn Khánh đã hoàn tất được nhạc phẩm Nỗi lòng - và có lẽ ca khúc này là điềm báo trước : 2 người yêu nhau không trọn vẹn cuộc tình :
.. dù sao, dù sao nếu có một ngày
một ngày gieo trong tim ta
là tình yêu kia ly tan
để rồi vẫn thương vẫn nhớ ...

Nhưng dù thế nào đi chăng nữa, thì, NVKh vẫn trọn đời thủy chung : ' vẫn yêu hoài !'
Sau lần lên Thái Nguyên này, Nguyễn văn Khánh bận việc nhà quan trọng, nên 2 tuần tới, Khánh không lên Thái Nguyên như trước nữa. Nửa tháng không được gặp nhau, lỏng Khánh như lửa đốt và chỉ có 15 ngày thôi àm Khánh cảm thấy thời gian lâu bằng 1 thế kỷ . Lần này, Khánh lên Thái Nguyên như mọi lần. Đến nơi, ra nơi hẹn cũ, chờ mãi chẳng thấy bóng nàng. Chờ đến chiều, dù bụng đói, dạ khát; Khánh cũng liều đi bộ đến gần nhà nàng dò la tin tức. Gặp một người ở gần nhà nàng, trong quán nước, NVKh khôn khéo thăm hỏi, bà chủ quán cho hay : tin sét đánh ngang trời, cách đây khoảng 10 ngày, nàng bị trúng gió, người nhà vội đưa vào nhà thương, sau 1, 2 ngày, cô ấy đã trút hơi thở cuối cùng. Gia đình xin xác về, đem chôn cô trên một đồi thông, cách đó chừng 1 cây số.
Nghe tin xong, Nguyễn Văn Khánh lật đật rời khỏi quán, bước đi như kẻ không hồn, đi thẳng về phía đồi thông, nơi đó ấp ủ hình hài người yêu dấu trong một buổi chiều vàng.
Sau mấy ngày mưa phùn, gió bấc - chiều hôm ấy mưa tạnh, mặt trời ra khỏi đám mây tỏa xuống những tia nắng vàng yếu ớt như người vừa trải qua cơn bệnh. Khi tới nơi, NVKh thoăn thoắt bước lên đồi, dù đất đồi sỏi đá lổm chổm, ngổn ngang, Khánh vẫn tìm thấy mộ, mắt nhòa lệ, họng nấc từng cơn đau đón, nhìn không chớp mắt lớp đất mới đắp, NVKh ngồi sụp xuống, say sưa hát:
yêu ai yêu cả một đời
với niềm tin vững dạ trong lòng : hương hồn người yêu bé nhỏ đang phảng phất đâu đây, lắng nghe được giọng hát của Khánh như ngày nào ... ngồi quên cả giờ giấc, ngẩng mặt lên, nấu trời tắt nắng. Hoàng hôn xuống dần. Nguyễn Văn Khánh u sâu, buồn chán lê gót chân mỏi như về quánt rrọ.
Đi được một quãng đường, đột nhiên Khánh dừng chân bước, lại vào một quán nước xiêu vẹo bên đường, Khánh vội móc túi, lấy ra cấy bút chì, mảnh giấy đã hơi nhầu nát, bviết một mạch ý nhạc đang dâng lên nóng hổi và đo thắm như dòng máu con tim . Viết nhạc tới đâu, Khánh hát tiếp lời ca tới đó. Giữa một khung cảnh bi ai trầm buồn, lòng người nhạc sĩ như tan nát, tim như bị nhồi máu, vậy là ca khúc Chiều vàng ra đời, với ca từ ai oan não nề :
... Trên đồi thông, chiều đã xuống dần
mặt trời lấp ló sau đồi, chiều vàng ...
... giờ đây vướng thầm hồn cố nhân
năm tháng trôi qua sóng gió đời
chiều chiều nhớ em lòng khôn nguôi ... !
Kể chuyện xong, Khánh rủ tôi về nhà anh ăn cơm tối. Về tới nhà, anh vội lấy ra một cái hộp vuông trong đó có đựng một cái khăn len quàng cổ, do nàng ấy đan, tặng Khánh và xấp thư tình của nàng .
... Nhân năm ấy, có kỳ thit uyển nhân viên cho Sở Tài chính thành phố Hà Nội, Khánh trúng tuyển, trở thành một công chức, sáng vác ô đi, tối vác về. ...
Năm 1954, lệnh Tổng động viên, tuổi tôi bị kẹt trong lệnh đó, Khánh và tôi rủ nhau đi uống cà phê để giã từ.
Cho tới ngày 30- 4- 1975, gặp lại một số nhạc sĩ ngoài bắc vô nam, tôi mới biết : sau ngày giải phóng thủ đô Hà Nội được vài năm, Nguyễn Văn Khánh đã trút hơi thở cuối cùng tại căn nhà xưa .. Tôi không ngờ buổi cà phê năm xưa lại là lần cuối gặp nhau để rồi từ đó vĩnh biệt nhạc sĩ Nguyễn văn Khánh .. .

Nỗi Lòng
Giọng hát: Nguyễn Hồng Nhung
Chiều Vàng
Giọng hát: Hà Thanh

Thứ Ba, 27 tháng 10, 2015

Tàu chiến Mỹ áp sát đảo TQ ở Trường Sa

Image copyrightReuters
Hoa Kỳ đã hoàn tất chuyến tuần tiễu ngắn áp sát các đảo nhân tạo Trung Quốc xây tại Biển Đông trong khi Bắc Kinh nói Washington nên nghĩ lại.
Tàu khu trục USS Lassen vào hôm 27/10 đã vào trong khu vực biển 12 hải lý mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền tại bãi Vành Khăn và Subi ở Trường Sa.
Điều này đánh dấu sự khởi đầu cho một loạt động thái thách thức trước việc Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền tại một trong các tuyến đường biển đông tàu bè đi lại nhất trên thế giới.
Hiện chưa rõ giới chức Trung Quốc có được thông báo về các kế hoạch của Hoa Kỳ hay không.
Trung Quốc nói họ đang kiểm chứng liệu hoạt động này đã diễn ra hay chưa.
"Nếu đúng là đã xảy ra, chúng tôi khuyên Hoa Kỳ nghĩ lại và trước khi hành động, đừng hành động một cách mù quáng hoặc gây rắc rối một cách vô ích," Ngoại trưởng Vương Nghị của Trung Quốc nói.
Một người phát ngôn Đại Sứ quán Trung Quốc tại Washington trước đó nói tự do đi lại trên biển "không nên được dùng để phô trương sức mạnh và gây phương hại tới chủ quyền và an ninh của các nước khác".
Trung Quốc gần đây nói "không bao giờ cho phép bất cứ nước nào" xâm phạm vùng biển và không phận của họ sau khi Hoa Kỳ tuyên bố sẽ điều tàu và phi cơ "tới bất kỳ nơi nào luật pháp quốc tế cho phép" và vào thời điểm mà Hoa Kỳ lựa chọn.
Trước đó tin cho hay Hải quân Mỹ có khả năng điều phi cơ do thám P-8A và P-3 hộ tống khu trục hạm USS Lassen.
Các chuyến tuần tiễu bổ sung sẽ được tiến hành trong những tuần tới và cũng có thể được tiến hành xung quanh các cơ sở mà Việt Nam và Philippines xây tại Trường Sa, một quan chức quốc phòng Mỹ ẩn danh nói với Reuters.
Theo Công ước LHQ về Luật Biển, giới hạn 12 hải lý không được áp dụng xung quanh các đảo nhân tạo được xây trên các bãi đá ngầm.
Bốn trong số bảy bãi đá Trung Quốc xây cất trong vòng hai năm qua bị hoàn toàn ngập nước lúc thủy triều lên trước khi thi công xây dựng, giới học giả luật được nhà báo Greg Torode của Reuters dẫn lời.

'Tuần tiễu thường xuyên'

Bonnie Glaser, một chuyên gia an ninh tại viện nghiên cứu CSIS ở Hoa Kỳ nói việc tuần tiễu của Hoa Kỳ nhiều khả năng sẽ diễn ra thường xuyên vì hải quân Mỹ muốn đảm bảo rằng họ không bị cấm cửa tại khu vực này.
"Tôi biết là Hoa Kỳ không muốn thấy như vậy. Không ai muốn cho Trung Quốc có khu vực cấm đi lại mới cả.”
Tin Hoa Kỳ điều tàu chiến vào khu vực có tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông được một loại các báo trong khu vực và quốc tế đưa tin trong đó có CNN của Hoa Kỳ, Kyodo News của Nhật, The Guardian của Anh.
Truyền thông tại Việt Nam trong đó có Đài tiếng nói Việt NamThanh NiênTuổi TrẻAn ninh Thủ đô và vnxpress cũng đã chạy tin này.
Ngoại trưởng Hoa Kỳ gần đây nói sẽ không chấp nhận các giới hạn tự do hàng hải và hàng không tại khu vực Biển Đông.
Thông điệp được đưa ra trong khuôn khổ họp cấp ngoại trưởng Hoa Kỳ và khối Asean tại New York.
Không đề cập tới tên của bất kỳ nước nào đang tạo ra thách thức, ông Kerry nói:
“Tôi nói rõ thế này. Hoa Kỳ sẽ không chấp nhận việc giới hạn tự do hàng hải và hàng không và những việc sử dụng biển vào các mục đích hợp pháp khác.
“Bất kể đó là tàu chiến lớn hay là một chiếc thuyền đánh cá nhỏ, nguyên tắc là rất rõ ràng: quyền của tất cả các nước phải được tôn trọng".
Tàu khu trục USS Lassen được điều tới Biển Đông từ căn cứ Yokosuka, Nhật Bản. Tàu này từng do Hạm trưởng Lê Bá Hùng chỉ huy (04/2009- 12/2010) và đã ghé thăm Đà Nẵng vào tháng 11/2009.
"Người dân VN mong muốn Mỹ tiến vào biển đông của VN để ngăn chặn sự bành trướng của TQ", Thành Nguyễn bình luận trên Facebook của BBC tiếng Việt. Trong khi đó Nguyễn Hòa nhận xét: "Ngư dân VN có thể an tâm đánh bắt trên vùng biển của mình rồi."

'Dễ mất ổn định'

Tại Quốc hội, ngày 22/10, Đại tướng Phùng Quang Thanh đã phát biểu về tình hình quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền quốc gia trong đó có đề cập tới điều ông gọi là "các nước lớn" mặc dù không nêu tên đó là nước nào.
“Ở khu vực Đông Nam Á, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn đang tăng lên, diễn ra việc tập hợp lực lượng, lôi kéo các nước nhỏ, nếu xử lý không khéo có thể dẫn đến mất ổn định.
“Trong hội nhập quốc tế và đối ngoại quân sự, chúng ta luôn luôn giữ vững đường lối đối ngoại độc lập tự chủ.
“Độc lập tự chủ là nguyên tắc vô cùng quan trọng, vì nếu nhận thức lệch lạc, đứng về phía nước lớn này mà quay lưng vào nước lớn khác sẽ dẫn đến những hệ quả phức tạp cho đất nước,” ông Phùng Quang Thanh phát biểu.
Trong cuộc phỏng vấn với Hồng Nga, BBC Việt Ngữ, bên lề Đối thoại Shangri-La ở Singapore diễn ra hai ngày 30-31/5, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Quốc phòng nói "Tình hình càng căng thẳng thì càng phải giữ độc lập, tự chủ. Đó là nguyên tắc nhất quán của Việt Nam."
Ông Vịnh cũng bác bỏ khả năng Việt Nam tham gia liên minh quân sự với bất cứ quốc gia nào.
Image copyrightBBC World Service

Lịch Sử Trường Đại Học Y Khoa Sài Gòn

Nguyễn Dương

Thời Pháp Thuộc
Ngày 08 tháng 01 năm 1902, Toàn quyền Paul Doumer ký nghị định thành lập trường thuốc tại Hà Nội. Vị Khoa trưởng đầu tiên là bác sĩ Alexandra Yersin, học trò của Pasteur, Y sĩ thiếu tá, lúc đó đang giữ chức vụ giám đốc Viện Pasteur Nha Trang. Lễ khánh thành được cử hành vào ngày 27 tháng 01 năm 1902 dưới sự chủ tọa của Toàn quyền Doumer. Khóa học đầu tiên của trường khai giảng cùng ngày đó gồm có 29 khóa sinh nhưng chỉ có 15 người tốt nghiệp vào năm 1907 được gọi là “Médecins auxilliaires troisième classe.”

Kể từ ngày 18 tháng 5 năm 1921, trường được đổi thành École de Médecins et de Pharmacie dành cho các sinh viên có tú tài Pháp hay bản xứ. Chương trình học gồm một năm P.C.N (Physique Chimie và Sciences Naturelles). Bốn năm học Y khoa tại Hà Nội và hai năm chót tại Paris. Hơn 10 năm sau, do nghị định ngày 19 tháng 10 năm 1933 trường mới được phép tổ chức các kỳ thi tốt nghiệp và đệ trình luận án tiến sĩ y khoa. Các giáo sư thạc sĩ thuộc Đại Học Paris được cử sang giảng dạy, chấm thi các kỳ bệnh lý và chủ tọa các buổi trình luận án y khoa. Năm 1935 có 12 sinh viên y khoa bác sĩ tốt nghiệp sau khi trình luận án đầu tiên của trường.

Năm 1940, khi Pháp thất trận Đại chiến thứ hai và bị Đức Quốc Xã chiếm đóng, sự liên lạc giữa mẫu quốc Pháp và Đông Dương không còn dễ dàng thì trường thuốc Hà Nội được tự trị với tên chính thức là Faculté Mixte de Médecine et de Pharmacie de l’Indochine gọi tắt là Faculté de Médecine de Hanoi (Đại Học Y Khoa Hà Nội) do nghị định ngày 15 tháng 10 năm 1941, dưới quyền giáo sư Henri Gaillard làm Doyen de le Faculté de Médecine (Khoa trưởng Trường Y Khoa Đại Học). Chứng chỉ Dự Bị Y Khoa (Premed hay APM Année Préparatoire Medicale) được đổi tên là P.C.B (Physique Chimie et Biologie). Trường tự tổ chức hội đồng giám khảo các kỳ đệ trình luận án y khoa, không cần mời các giáo sư từ Paris sang chấm thi.

Đến năm 1945, khi quân đội Nhật Bản đáo chánh Pháp ở Đông Dương ngày 9.3.1945 thì trường Y Dược Khoa bị đóng cửa và Khoa trưởng người Pháp và các giáo sư bị Nhật Bản bắt nhốt làm tù binh.

Hai tháng sau dưới chính quyền Bảo Đại và Trần Trọng Kim thì trường Y Dược Khoa được mở lại với cụ Hồ Đắc Di làm Khoa trưởng.

Ngày 19.12.1946, Pháp trở lại Việt Nam thì trường Y Dược Khoa Hà Nội Việt Nam đó phải tản hàng và không lâu sau đó vào năm 1947 thì Pháp mở lại trường Y Dược Khoa Hà Nội nhưng được chia làm hai cơ sở: một ở Hà Nội (được gọi là section de Hanoi) với giáo sư Huard làm Khoa trưởng và một ở Sàigòn với giáo sư Massias làm Khoa trưởng.

Thời đó ở Việt Nam cũng như ở bên Pháp muốn đậu bằng y khoa bác sĩ phải đậu xong hai phần tú tài (I và II), qua một năm Y khoa đầu tiên gọi là PCB và sáu năm y khoa. Trong sáu năm y khoa thì hai năm đầu học bộ máy của con người lúc bình thường, đặt nặng ở Cơ thể học (Grosse Anatomie và Histologie) và Sinh lý học (Physiologie) với các môn liên hệ như Vật lý, Hóa học và Semiologie (cách khám lâm sàng). Năm thứ ba thì học về những gì có thể làm xáo trộn bộ máy con người như Vi trùng học (Bacteriologie), Ký sinh trùng học (Parasitologie) và hình dáng cơ thể con người bị xáo trộn như là Bệnh lý cơ thể học (Anatomie pathologie). Năm thứ tư thì học về các bệnh tức là Pathologie và Y học phòng ngừa. Năm thứ năm thì học các cách chữa các bệnh tức là Therapeutique. Năm thứ sáu thì đi các chuyện khoa và làm luận án.

Thời Việt Nam Độc LậpNgày 20 tháng 7 năm 1954 Việt Nam bị cắt đôi theo Hiệp Định Genève ra làm hai phần: Bắc Việt với Bắc Trung Việt gọi là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Nam Việt Nam với Nam Trung Việt gọi là Việt Nam Cộng Hòa.

Trường Y Dược Khoa section de Saigon được đổi tên là trường Y Khoa Sài Gòn và trường Dược Khoa Sài Gòn thuộc Bộ Giáo Dục với giáo sư Phạm Biểu Tâm làm Khoa trưởng trường Y Khoa Sài Gòn.

Trong khoảng năm 1956-1965, tổ chức International Cooperation Administration (tức là ICA sau đổi tên là USAID) giúp đỡ trường Y khoa Sài Gòn bằng cách gửi những giáo sư y khoa Mỹ và của cơ quan WHO (World Health Organization) đến trường làm việc từng thời hạn.

Năm 1963-1965 với viện trợ của Hoa Kỳ, một trường y khoa tối tân được xây cất tại đường Hồng Bàng với tất cả các tiêu chuẩn một trường Y khoa Mỹ và được đặt tên là trung Tâm Giáo Dục Y Khoa. Năm 1963 là năm đầu tiên PCB được đổi tên là năm Dự bị Y khoa (Premed).

Ngày 30 tháng 01 năm 1967, giáo sư Phạm Biểu Tâm từ chức Khoa trưởng và được thay thế bằng một Hội Đồng Khoa Trưởng gồm có năm giáo sư là Ngô Gia Hy, Nguyễn Ngọc Huy, Trần Anh, Lê Minh Trí và Nguyễn Thế Minh. Đến tháng 5 năm 1967 thì giáo sư Ngô Gia Hy được bầu lên làm Khoa trưởng nhưng đến tháng 7 thì giáo sư Ngô Gia Hy được cử vào làm Thượng Hội Đồng Quốc Gia nên giáo sư Hy giao toàn quyền Khoa trưởng cho giáo sư Vũ Thị Thoa. Ngày 12 tháng 11 năm 1968 giáo sư Phạm Tấn Tước được bầu lên làm Khoa trưởng. Tháng 11 năm 1971, giáo sư Đặng Văn Chiếu được bầu làm Khoa trưởng (Giáo sư Đào Hữu Anh làm Phó Khoa trưởng).

Trong khoảng năm 1965-1975 AMA (American Medical Association) chính thức giúp đỡ Trung Tâm Giáo Dục Y Khoa với những chương trình giáo dục theo lối Mỹ và với một ngân khoản viện trợ rất dồi dào. Có nhiều trường Y khoa Mỹ kết nghĩa với Trung Tâm Giáo Dục Y Khoa được gọi là sister university. Mỗi trường Mỹ đỡ đầu giúp một môn chuyên khoa như Pathologydo trường Missouri, Community Medicine do trường Oklahoma, Neurosurgery do trường Yale v.v... Ngoài ra đó cũng có những sự giúp đỡ của các cơ quan như WHO, Institut Pasteur, US Army Health Services, Seventh Day Adventist v.v...

Tới ngày 30 tháng 4 năm 1975 thì Việt Nam Cộng Hòa cáo chung, Trung Tâm Giáo Dục Y Khoa bị đổi tên là trường Đại Học Y Dược.

Tài liệu tham khảo:Nguyễn Lưu Viên, Tập San Y Sĩ số 108 (9/1990, p.68-70). Số 110 (2/1991, p. 59-61). Số 111 (4/1991, p. 59-64).
Phan Khoang. Việt Nam Pháp thuộc sử: 1884-1945, 1961:44
Nguyễn Vị NhânHội Y Giới Việt Nam Tự Do, Đặc san Hè 93, P.16-19.
Trần Đình Hoàng. Saigon Medical School: An Experiment in International Medical Education. Tập San Y Sĩ số 110 (2/1991, p. 55-58)Phụng Hồng. Tập San Y Sĩ số 110 (2/1991, p. 10-11)
Ruhe C.H.W. Hoover W.N., Singer I. Saigon Medical School: An Experiment in International Medical Education, AMA 1988.
J.Paul Trouillet. La Dépêche Coloniale Illustrée, 15 Décembre 1908. No 23. 
(Đã đăng trên Tập San Y Sĩ, tháng 7/1995)

Thứ Hai, 26 tháng 10, 2015

Hạnh phúc: Có và Không!

Thanh Võ/Viễn Đông

Vài năm gầnđây tôi phát giác ra rằng mình mắc bệnh "ghiền". Xin thưa ngay, ghiền đây không phải là xì ke ma túy, cũng không phải cờ bạc, rượu chè, mà là căn bệnh ghiền của thế kỷ 21: Ghiền Internet. Chẳng biết tự bao giờ mà ngày nào cũng vậy, ăn sáng xong cứ theo thói quen là tôi phải bật máy vi tính, check meo, chuyển meo, gửi meo, xong hết rồi mới yên tâm mà làm việc khác. Có bữa bận quá, gần chiều tối vẫn chưa đụng tới cái laptop được thì người tôi cứ bứt rứt làm sao ấy. Tháng rồi, gặp gia đình cậu em, tôi hết hồn khi nhìn thằng cháu mới 6 tuổi đầu khi hai bàn tay nó cứ bấm thoăn thoắt trên bàn phím mà mắt thì vẫn không rời màn ảnh computer. Thì ra cu cậu đang chơi game. Tôi cà rà lại xem, hỏi sao con giỏi vậy? Thằng bé vẫn chăm chú vào trò game, trả lời một câu ngọt xớt: “Mấy cái này dễ òm hà, ai mà hổng biết”. Thằng anh 10 tuổi đứng kề bên xen vào: “Mai bố dẫn con đi mua cái iPad mới nè. Cái cũ out of date rồi. Tụi bạn con chơi đồ top of the line không hà”. Úi trời ơi, thiệt là hậu sinh khả úy. Còn cô cháu gái 14 tuổi thì miễn bàn. iPod đeo dính hai lỗ tai suốt ngày, có lúc đi đường mà cô cứ nhún nha nhún nhảy theo điệu nhạc đang nghe. Lại còn màn gửi text nữa chứ. Hôm nọ anh bạn đồng nghiệp biểu diễn cho chúng tôi xem màn “ảo thuật một ngón”, tức là một bàn tay anh cầm cái cell phone trong khi ngón cái cứ múa may liên hồi để chọn cái chữ cái mà ráp thành câu rồi “click” - send. Ai nấy phục lăn. Chưa hết, gần đây thiên hạ còn có thêm màn facebook. Chẳng hiểu có cái gì mà người ta mê đến vậy. Mỗi ngày tôi nhận ít nhất cũng dăm ba cái meo mời click vào xem “my facebook”. Thiên hạ thi nhau mở account, rồi post hình mình lên, xong lại mời free mọi người thi nhau mà vào xem và ngắm. Tôi đã có lần click xem facebook của cậu em. Ối dào, chuyện gì cậu cũng khai tuốt tuồn tuột. Nào là sáng nay mình thức dậy lúc mấy giờ, hôm nay đi đâu, tắm mấy lần, ăn cơm mấy bữa, vân vân và vân vân. Lạ cái là bạn bè cậu em cứ thi nhau gửi facebook qua lại cho nhau đọc, xem và... phê bình góp ý. Riết rồi loạn. Nhức cái đầu. Nên tôi chỉ thu hẹp mình trong phạm vi "meo". Đọc và chuyển meo, vậy cũng đã chiếm bao nhiêu thời giờ trong ngày. Thếcho nên thường xuyên bị ba đứa cháu chê là "quê một cục"...
Tuần rồi như thường lệ, ăn sáng xong tôi bật máy check meo và click vào một đọc một lá thơ mà cô em chuyển đến. Anh chàng nha sĩ nào đó đã viết gửi cho bạn bè về chuyến đi của anh về một xứ sở xa xôi mà, như anh kể, nơi đó hoàn toàn không có điện thoại, không máy vi tính, không xe, không radio, tivi, nói chung là không có thứ gì mà thế kỷ 21 này gọi là high tech. Không tin, tôi email xin một cuộc hẹn trò chuyện với anh...

Hội Từ Thiện Arpan

- Chào anh Nguyễn Bình. Nhận email của anh, tôi ngạc nhiên lắm. Có thật là anh đã đến một vùng đất mà nơi đó không hề có dấu tích của các phương tiện tối thiểu của cuộc sống, mà theo như anh viết, anh đã sống những chuỗi ngày thật bình yên nơiấy?


Các em bị nhược tríở một trung tâm chăm sóc người tàn tật - ảnh do Nha Sĩ Bình cung cấp

- Mình hiện là nha sĩ tại Orange County. Năm nay là lần đầu tiên mình tham gia làm công tác thiện nguyện với hội Arpan. Mấy năm trước thì mình thường đi với SAPVN. Nhờ vậy mà mình có dịp đi qua nhiều nước lắm, thấy và học được nhiều điều hay, cũng như tích lũy cho mình rất nhiều kinh nghiệm sống...
- Anh có thể nói sơ về hội Arpan?
- Arpan Global Charity là một tổ chức y tế từ thiện quốc tế được thành lập năm 2005. Theo tiếng Ấn Độ thì Arpan có nghĩa là “cho tặng”. Đây là một tổ chức thiện nguyện gồm các bác sĩ, dược sĩ, nha sĩ, y tá cùng các thiện nguyện viên. Hằng năm Arpan đều được các nước kém hay đang phát triển mời đến để giúp đỡ các ca chẩn đoán và khám bệnh, trao đổi chia sẻ kinh nghiệm với các giới chuyên môn tại nước ấy. Mọi thành viên, nhưmình chẳng hạn, phải tự túc vé máy bay. Nước "mời" mình đến chỉ lo về vấn đề ăn ở.
- Nếu ai muốn tham gia cộng tác với Hội Arpan thì liên lạc ở đâu?
- Bạn có thể vào website: www.arpanglobal.org. Các chuyến đi sắp tới của hội sẽ là chuyến đi Lagos tại nước Nigeria vào tháng 10-2012 hay đi Ecuador vào năm tới 2013.
- Thế trong email anh có nói về vùng đất nào đó với cái tên lạ lắm. Anh Bình có thể nói rõ hơn được không ?
- À, mình vừa đi Ấn Độ về. Chuyến đi của mình dài 2 tuần. Tuần đầu mình đi theo hội Arpan đến thành phố Deesa thuộc miền Đông Ấn Độ. Năm nay thì hội đến đây theo lời mời của bệnh viện Mahadma Gandhi Lincoln Memorial. Tuần lễ thứ nhì thì mình tự mua vé bay qua Calcutta, một thành phố rất nhỏ ở miền Tây Ấn Độ.
- Anh Bình kể cho mọi người về hai tuần "du lịch" kỳ thú này được không anh?

Tình nguyện viên làm gì?
- Tuần lễ đầu tiên tụi mình chia xẻ kinh nghiệm với các nha sĩ Ấn Độ, trả lời các câu hỏi nếu có, và giúp khám, chẩnđoán những trường hợp phức tạp. Các bác sĩ trong đoàn thì thực hiện các ca mổ xương cho các trẻ em bị ung thư xương. Các dược sĩ thì hướng dẫn cách tổ chức một hiệu thuốc như thế nào để phân phát thuốc mau lẹ và hiệu quả nhất. Sau đó cả đoàn đi thăm cô nhi viện các trẻ em bị bệnh AIDS, thăm nơi nuôi dưỡng trẻ em tàn tật, bại liệt và đến thăm các trung tâm chăm sóc người già bị bỏ rơi cùng các trẻ mồ côi.


Rác đổ đầy ở chỗ này, ngay trên một con đường trong thành phố lớn Calcutta. Gần xung quanh đó là những tiệm bán hàng, người nằm ngoài đường - ảnh do Nha Sĩ Bình cung cấp

- Thế anh có nhận xét gì về những người chuyên môn (bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ, y tá) tại Deesa?
- Họ rất giỏi. Không phải mình cứ nghĩ rằng Ấn Độ là nước nghèo mà thành phần “professional” của họ có trình độ thấp đâu. Họ luôn luôn trau dồi học hỏi thêm qua internet nên trình độ họ khá lắm. Chỉ có điều là họ còn thiếu dụng cụ và tỉ lệ thành phần này, so với số lượng dân, còn quá ít.
- Thành phố Deesa thì sao?
- Deesa là một thành phố nhỏ ở miền Đông Ấn Độ. Cứ tưởng tượng như một thị xã ở miền Tây Việt Nam mình vậy. Nhưng họ được trang bị một số dụng cụ khá đầy đủ hơn Việt Nam. Năm 2009, mình có về Việt Nam khám, chẩn đoán và điều trị cho đồng bào miền Tây ở mấy trạm xá nhà quê. Mình còn nhớ, mới chạng vạng 4 giờ chiều là không còn thấy gì cả, vì trời tối, mà không điện nước, cả lửa cũng không, thử hỏi làm sao tiệt trùng dụng cụ? Nên đành đi về vậy. Còn ở Deesa thì khá hơn, có các phương tiện đó.
- Ngoài đường phố thìthế nào?
- Đường nào cũng có 2 lối (lane) cho xe chạy. Thành phố có một bệnh viện lớn với một bác sĩ gia đình thường trực. Mỗi tuần thì cóvài bác sĩ chuyên môn từ các thành phố lớn về đây khám và chữa trị các trường hợp đặc biệt.
- Thế còn tuần lễ thứ hai tại Calculta?

Giấc mơ của Mẹ...
- Đúng ra thì mình chỉ tháp tùng theo hội Arpan có một tuần mà thôi. Nhưng chuyện là thế này, ông anh mình bị bệnh. Mình nghe nói nhiều về thành phố Calcutta - nơi có ngôi mộ Mẹ Teresa, nên mới mua vé bay qua đó, mục đích là đến viếng mộ Mẹ và cầu nguyện cho anh. Thật sự mà nói, tuần lễ thứ hai đã để lại rất nhiều ấn tượng trong lòng mình. Nhắc đến Ấn Độ thì phải nói tới hai ngôi mộ lớn. Thứ nhất là ngôi mộ Taj Mahal để tưởng niệm một bà hoàng hậu rất được đức vua sủng ái từ ngàn năm trước của đất nước này. Đây được xếp loại là một trong các kỳ quan của thế giới. Thứ hai là mộ của Mẹ Teresa ở thành phố Calcutta thuộc miền Tây Ấn Độ. Mình theo đạo Công giáo, và có được nghe câu chuyện về giấc mơ của Mẹ. Có một đêm Mẹ Teresa nằm mơ. Mẹ thấy Đức Chúa Trời hiện đến và giao cho Mẹ một trọng trách là tìm đến và giúp đỡ những kẻ nghèo nhất trong những người cùng khổ (The poorest of the poor). Thức dậy Mẹ đã suy nghĩ rất nhiều và sau cùng đã chọn thành phố Calcutta vì nơi đây là miền đất của những người nghèo khổ nhất, bất hạnh nhất và bị bỏ rơi nhất tại Ấn Độ. Mẹ Teresa đã sáng lập ra hội từ thiện Missionary Sisters of Charity. Ban đầu thì hội chỉ gồm các nữ tu, nhưng sau này thìđã có thêm sựđóng góp củacác thiện nguyện viên trên toàn thế giới. Mình đến đây ban đầu chỉ có ý định cầu nguyện cho người anh, nhưng ngay hôm đầu tiên mình lại quyết định tham gia công tác thiện nguyện một tuần - thử xem sao. Thật buồn cười, khi mới đến, mình tự giới thiệu ngay, ra vẻ oai vệ lắm: "Tôi tên Bình Nguyễn. Nha sĩ, tôi đến từ Mỹ". Mình cứ tưởng các nữ tu và mọi người sẽ xuýt xoa khi nghe mình đến từ Mỹ, lại là nha sĩ nữa chứ. Ai dè. Không một ai quan tâm điều đó. Họ nhỏ nhẹ hỏi rằng mình dự định sẽ ở đây bao lâu, để họ tiện phân công việc...


Nha Sĩ Nguyễn Bình và một tình nguyện viên đến từ Úc đang giúp đạp quần áo trong chậu (gồm tả vẫn còn dính đầy phân, mền, khăn trải giường và quần áo của các em) - ảnh do Nha Sĩ Bình cung cấp

- Tại sao thời gian lưu lại là cần thiết khi sắp xếp công việc hở anh?
- Mình được giải thích như thế này. Có những bé gái nhỏ bị hiếp dâm chẳng hạn, chắc chắn là tâm hồn các bé bị hoảng loạn và lo sợ cùng cực. Cho nên những người giúp chăm sóc cho bé phải là người nữ, và phải ở đó từ một tháng trở lên, chứ cứ vài ba ngày mà lại thay đổi người thì ảnh hưởng đến tâm thần các cháu bé lắm. Có tiếp xúc một thời gian đủ dài với cùng mộtbệnh nhânthì mới tạo được sự ổn định thần kinh và giúp gây tình thân trong lòng các em, như thế việc điều trị mới dễ có kết quả.
- Thế anh Bình ở một tuần thì công việc của anh là gì?
-Mỗi sáng thức dậy thì ai ai cũng được phát một lát bánh mì, một trái chuối nhỏ và một ly nước. Rồi ai nấy đều được giao công việc giặt đồ. "Đồ" ở đây bao gồm quần áo dơ, tã dính cứt của các người bệnh. Khi đó mình bị “shock” lắm, vì không ngờ nha sĩ ở Mỹ qua mà lại bị giao đi giặt tã cứt. Nhưng sau đó mình hiểu ra rằng với các nữ tu thì trước mặt Thượng Đế, mọi người đều bình đẳng như nhau.

Những người cùng khổ...
Người nghèo nơi đây nhiều lắm, đa số là các trẻ cô nhi, tật nguyền, bại liệt, mắc bệnh Down, nói chung là thành phần bị gia đình, xã hội ruồng rẫy, bỏ rơi và các “sơ” (soeurs - theo tiếng Pháp) lượm về chăm sóc. Bên đây người ta gọi thành phần này là “untouchable”, có nghĩa là “không ma nào thèm đụng tới nữa”, là thành phần “vứt đi”, tức là họ đã hoàn toàn sống bên lề rìa của xã hội. Mình còn nhớ ngày đầu tiên "bị" phải giặt đồ, lại không hề có máy giặt, mà phải giặt hoàn toàn bằng tay, mình gớm quá, kinh hãiquá đi. Mình xắn ống quần lên, giậmhai bàn chân lên đống đồ dơ bẩn trong thau, mà miệng thì cứ ợ lên ợ xuống vì... nhợn. Mới vừa giậm mấy cái thôi thì nước trong thau đã đen thùi lùi như... nước cống. Mình hãi quá, nhảy ra khỏi thau, lật đật đổ nước ra,múc nước mới vô, giậm giậm vài cái nữa thì hỡi ôi... lại đen ngòmvà hôi rình. Chính vào giây phút đó, mình muốn khóc. Thượng Đế ơi, tại sao có những miền đất mà con người ta nghèo đến vậy và cơ cực đến vậy? Nơi đây, các sơ ai cũng chỉ có hai bộ đồ luân phiên để mặc, một đôi dép, vậy thôi. Không nhà, không tiền, không điện thoại, không cell, không computer, không laptop, không son phấn, không cả cái bàn, cái ghế để ngồi. Họ giống nhau ở một điểm duy nhất là "không có gì để lo, để nắm, để giữ, hay để sợ mất". Các nữ tu cũng như mình vậy, họ cũng phải giặt mấy thau tả dính đầy cứt đái, nhưng họ khác mình, vì họ làm điều "dơ bẩn" đó từ năm này qua năm khác, mà họ không ợ lên ợ xuống, họ không giậm bằng chân mà thản nhiên ngồi xuống dịu dàng dùng hai bàn tay vò giặt. Mỗi sáng ai cũng đều làm công việc đó trong vòng 2 tiếng đồng hồ.


Nha Sĩ Nguyễn Bình đang phát quần áo cho trẻ em ở một làng nhỏ rất nghèo ở Ấn Độ - ảnh do Nha Sĩ Bình cung cấp

Mất khả năng tự lo...
Sau đó mình được phân công đút các em ăn sáng. Hàng ngàn trẻ tật nguyền bại liệt được các thiện nguyện viện dìu hay bế ra một chỗ trống rất rộng, giúp các em ngồi trên dãy ghế gỗ thật dài và mớm thức ăn cho các em.Riêng khu vực mình làm thì có hơn 40 em, gái trai đều có, mù, câm điếc, tàn tật, nói chung những gì bất hạnh nhất mà chúng ta có thể nghĩ ra thì nơi đây mình đều thấy tận mắt. Hầu hết các em đều không còn tự lo cho mình được. Công việc nghe qua thì đơn giản, nhưng thật ra lại không dễ chút nào. Có khi cần hơn một tiếng đồng hồ để đút cho các em ăn xong một bát cháo nhỏ xíu. Nơi đây nghèo lắm, đồ ăn của các em không gì ngoài khoai và rau nấu nát nhừ ra như cháo. Nhiều em trông thật tội, đầu cổ cứ ngoẹo sang một bên, có em bại liệt cả cột sống, cả người nhũn hết ra, vàkhông còn điều khiển nổi một cơ phận nào trên cơ thể. Một tay mình vịn nâng đầu em lên, tay kia thì mình vừa nhấp nhấp đụng vào cằm, vào miệng, thậm chí có khi đụng nhẹ vào lưỡi để khích thích các em nuốt. Nhiều trẻ không còn khả năng nuốt, mình phải vừa đút, vừa xoa cổ lên xuống, rồi vuốt ngực cho thức ăn dễ trôi xuống, và cuối cùng xoa bụng để giúp tiêu hóa. Có lần, một em bé ọe ra trên tay mình, nhão nhoẹt. Nhưng lúc ấy mình không cảm thấy ghê nữa, mà trong thâm tâm, mình lại cám ơn ThượngĐếlà mình còn biết nuốt, biết nhai, biết ăn và còn cái hạnh phúc cảm nhận được thế nào là món ăn ngon hay dở.

Tâm tư thay đổi...
Ngày một, ngày hai trôi qua, mình bắt đầu nhận ra nhiều điều thay đổi trong tâm mình. Mỗi sáng, mình đứng nhìn dòng người dài ngoằn đang xếp hàng để được phân chia công tác. Có một hôm mình tò mò đứng đếm, trên 200 người mỗi ngày. Họ từ khắp nơi đổ về đây để làm từ thiện. Mình hỏi thăm, thì có người đến từ Tây Ban Nha, Đức, Pháp, Chile, Brazil, Mỹ, Canada, Trung Quốc, Hồng Kông, Nhật, vân vân... và họ thuộc đủ mọi tôn giáo khác nhau. Ai ai cũng đều tự móc tiền túi ra để mua vé đến nơi này làm việc thiện. Mình đã tự hỏi rằng: "Tại sao? Công việc của các nữ tu trong Hội của Mẹ Teresa có gì mà hấp dẫn đến vậy? Hội chưa hề bao giờ quảng cáo, kêu gọi đóng góp, xin tiền... hay gì gì cả. Thế mà mọi người vẫn biết đến và tìm về".
Mỗi Thứ tư đều có ngày “hướng nghiệp” (orientation day). Thành phố Calcutta có 7 cơ sở, nói cho oai chứ thật ra là 7 căn nhà được phân loại ra theo thành phần cần giúp đỡ: những bệnh nhân sắp chết, những người mắc bệnh AIDS, những trẻ em không có khả năng tự lo, những trẻ tật nguyền nhưng còn biết chút chút, vân vân...

Bí quyết sống vui?
Tối về mình không ngủ được, cứ tự hỏi tại sao trên đời có nhiều người bất hạnh đến thế vàlại có nhiều người hy sinh đến vậy? Động lực nào đã giúp các sơ luôn luôn mỉm cười mỗi ngày và vui sống? Tò mò lắm, nên mình đã sống và làm theo y hệt công việc của một nữ tu hằng ngày. Bảy ngày trôi qua đã giúp mình tìm ra đáp số. Có những đến 3 phần tạo nên câu trả lời đầy đủ nhất:
1. Nguyện cầu trong cuộc sống: Mỗi sáng sớm, các sơ đều tập trung tại nhà chính để đọc kinh và cầu nguyện. Các thiện nguyện viên đều vậy. Họ đến, không phân biệt tôn giáo, im lặng, ngồi bệt dưới đất và cùng nhau cầu nguyện. Họ cầu nguyện hết sức chân thành và liên tục trong 2 tiếng đồng hồ. Mỗi chiều sau khi xong công việc, các sơ lại họp nhau nơi đây và tiếp tục cầu nguyện trong một tiếng rưỡi đồng hồ, rồi mới đi ngủ. Mình đã tham dự những buổi cầu nguyện như vậy, và lần nàomìnhcũng đều xúc động. Mình biết là ở trên cao, Mẹ Teresa luôn mỉm cười khi các con của Mẹ đã và đang tiếp tục làm tròn nhiệm vụ Mẹ giao. Và mình hiểu ra rằngnhờ có sự che chở ban phước lành của Ơn Trên, các sơ mới làm được những điềuvĩ đại ấy.
2. Sự đơn giản: Bạn cứ thử hình dung ra một buổi hội họp với hơn 200 người trong vòng 2 tiếng đồng hồ mà không hề có một tiếng phone reo? Con người ở đây sống với sự đơn giản tuyệt đối. Không cell phone, không máy fax, không wifi, không computer, không laptop, không internet, cũng không cần texting hay iPod. Họ không có cả cái ghế để ngồi. Ghế của họ là sàn đất, không xi măng, khônggỗ, không thảm.Bởi thế suy nghĩ của họ đơn giảnhơn chúng ta nhiều lắm. Không tính toán, không lo toan, không ích kỷ, không ganh tỵ hẹp hòi, không thù hằn đố kỵ. Vàvì vậyđầu óc họ cũngthảnh thơi hơn chúng ta nhiều lắm. Không sợ mất nhà, mất tiền, mất job, không sợ tai tiếng thị phi, không sợ cả cái chết dù ngày mai có đến.
3. Niềm vui tự có: Lúc mới tới đây mình gớm công việc giặt đồ quá đi. Đã có lúc muốn bỏ về. Nhưng khi tiếp xúc với các em, mình mới nhận ra là mình hạnh phúc hơn nhiều người lắm. Mình không phải nghèo (the poor), còn họ lại là những người nghèo khổ nhất (the poorest). Họ không ăn được, không tự đái ỉa được, không tự lo được, thì còn gì là cuộc sống. Vậy mà đã có em bé nhìn mình cười. Nụ cười vô tư và dễ thương làm sao. Mình cười, nhưng tim mình thắt lại, và lòng mình chùng hẳn đi. Liệu em có hiểu biết gì không, có cảm nhận được gì không khi tặng mình nụ cười vô tư ấy? Có một buổi chiều khi làm xong hết việc, sắp đi về ngủ thì tình cờ mình trông thấy một bông hoa nở bên một khe lạch. Mình chạy lại xem ngay, và mừng rỡ đứng ngắm thật lâu bông hoa lạ kia. Hạnh phúc và niềm vui tự đâu cứ tràn về. Mình happy quá, vì mình còn đôi mắt để nhìn, để ngắm, còn đôi chân để chạy lại xem, còn hai tai để nghe tiếng nước chảy tí tách. Và mình chợt hiểu ra rằng niềm vui không phải là những trò game trên máy tính, không phải là những bữa ăn buffet anh ách cả bụng, cũng không phải là những text message cứ trao đổi nhau mỗi ngày xoành xoạch. Đừng tínhtoáncho cái tôi của mình nhiều quá. Khi không tìm thì niềm vui sẽ tự đến. Bảy ngày đã mang đến cho mình biết bao là niềm vui nho nhỏ...

Vui cứ đến mỗi ngày nho nhỏ
Như từng nụhoa đỏ mọc bên hồ
Vui cứ đến tự bao giờ chẳng rõ
Nhưsuối nguồn trămngách chảy trăm nơi...


Không xin - Không từ chối...
Mình xin kể một kỷ niệm gây “shock” nữa đây. Hôm cuối cùng sắp sửa về, vì quá xúc động trước những điều tai nghe mắt thấy, mình và người bạn tìm đến gặp một nữ tu, nói lời từ biệt rồi ngỏ ý muốn đóng góp chút tiền cho hội. Sơ chỉ tay về phía mộ Mẹ Teresa và bảo tụi mình đến bỏ tiền vào thùng đó (nơi mộ Mẹ có một thùng nhỏ bằng gỗ, không hề khóa, để mọi người tùy hỉ đóng góp). Mình nói to: "Con giúp một ngàn đô!" (mà trong lòngđinhninh rằng sơ tưởng mình tặng món tiền nhỏ nên mới bảo bỏ vào cái thùngấy, chứ cả ngànđôthì... lỡ ai rinh thùngđóđi luôn thì sao?). Sơ gật đầu và vẫn chỉ tay về hướng ấy. Mình lập lại lần nữa to hơn: “One thousand dollars!”. Sơ gật đầu, mỉm cười cúi chào rồi... tiếp tục rảo bước. Mình ngạc nhiên cùng cực, không lẽ nơi đây không ai tham và ăn cắp? Sau đó trên chuyến bay về lại Mỹ, mìnhcó dịp tròchuyện với một thiện nguyện viên ngườiNga. Cô cho biết cô đã đến Calcutta đây là lần thứ ba. Khi mình kể lại món quà “một ngàn đô”, cô cười và giải thích: “Hội Missionary Sisters of Charity do Mẹ Teresa sáng lập có một câu phương châm, đó là: Không xin. Không từ chối (Ask for nothing. Refuse nothing). Nghĩa là: Chúng tôi không quảng cáo, không kêu gọi đóng góp. Nhưng nếu bạn có lòng, thì chúng tôi nhận tất cả những gì bạn tặng: tiền bạc, thời gian, công sức, một lời cầu nguyện, hay ngay cả một nụ cười”. Giờ nhớ lại, mình vẫn còn thấy ngượng cho danh tự xưng “nha sĩ từ Mỹ” mà mình tự khoe với mọi người, cũng như về món quà “to tát một ngàn đô” mà mình “sợ mất giùm cho các nữ tu”.
Có dịp trò chuyện với các thiện nguyện viên đến từ khắp nơi, mình đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Một cô bé đến từ Trung Quốc, chừng hơn hai mươi tuổi, nói rằng cô đến đây là lần thứ hai.Mình tò mò hỏi lại: "Côsống tạimột nước cộng sản chưa đủ khổ hay sao mà còn tìm đến đây giúp đỡ?". Cô cười: “Có đến nơi này, tôi mới biết là không nơi đâu nghèo khó và cùng cực như ở Calcutta và cũng không nơi đâu có thể tìm thấy những con người hơn cả vĩ đại như các nữ tu nơi này”.

Việt Nam- Ấn Độ: Giống và khác?
- Câu chuyện quá hay. Nếu như so sánh giữa Việt Nam và Ấn Độ, thì anh Bình có thấy điểm gì giống và khác nhau không?
- Nhiều lắm. Cho phép mình nói vềđiều hay lẫn điều chưa hay nhé. Mình đã về Việt Nam, rồi lại qua Ấn Độ, nên mình chỉ có sự so sánh rất cá nhân như thế này. Tại Ấn Độ, giới chuyên môn như bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ rất thiếu, vì dân số đông quá, nhưng phải nói rằng họ rất giỏi vì họ ham tìm tòi, học hỏi trên mạng, tham dự các khóa huấn luyện, chia sẻ kinh nghiệm với các giới chuyên môn từ các nước tiên tiến như Mỹ, Canada... hằng năm đều qua Ấn. Việt Nam mình thì thành phần professional tràn đầy, nhưng phẩm chất thì chưa được như Ấn. Ở xứ sở này, dường như không có nạn ăn cắp, móc túi, cò mồi, hay ép giá. Người Ấn Độ có vẻ hiền lành hơn, không thừa nước đục thả câu mà bắt nạt du khách. Mình đã về miền Tây Việt Nam, rồi nay đi thăm miền Tây lẫn miền Đông Ấn Độ, nói thật, đi ngoài đường tại thành phố Deesa hay Calcutta cho mình cái cảm giác bình an hơn ở Việt Nam nhiều lắm, mặc dầu mình rành tiếng Việt, trong khi không biết một chữ tiếng Ấn và người dân Ấn thì hầu như chỉ có một thiểu số rất ít biết bập bẹ tiếng Anh. Xứ Ấn rất nóng, nhưng mình không thấy ai ở trần hay mặc quần đùi ra đường, trong khi ở Việt Nam thì... (cười) đầy ra đấy. Phụ nữ tuy không che mặt như ở các nước Hồi giáo nhưng ăn mặc rất cổ điển và hết sức kín đáo.
Còn điều chưa hay, bạn cứ tưởng tượng xem các đường phố Việt Nam bây giờ chen chúc và kẹt xe như thế nào, thì ở Ấn Độ, mình hãy nhân lên gấp 10 lần như vậy. Ngườiđâu mà đông khủng khiếp. Nếu ai có than phiền rằng dân Việt Nam chạy ẩu, bất chấp luật giao thông, đậu xe bừa bãi bất kể nơi nào, thì dân Ấn tệ gấp 10 lần hơn thế. Ai cằn nhằn rằng sao bây giờ ở Việt Nam rác rến đầy đường thì xin thưa, Ấn Độ dơ gấp 10 lần hơn vậy.
Còn hai điểm nổi bật nhất mà ai đến Ấn Độ dù không cần để ý cũng nhận ra ngay. Thứ nhất phải nhắc tới Bò. Bò đâu mà đầy đường đầy sá. Quay tới quay lui bốn hướng nơi đâu cũng thấy bò. Chúng đi nhan nhản khắp nơi, và xe cộ, người đi đường phải tránh chúng. Nghe nói bò là loài thú được người dân Ấn tôn thờ. Thứ hai phải nhắc tới Người. Dường như bên này "Nam nữ thọ thọ bất tương thân", nên không bao giờ nhìn thấy một người nam đi sát một người nữ,dù là vợ chồng hay cha con, thì nói chi đến chuyện nắm tay hay hôn hít. Ngược lại ở Việt Nam thì đầy những cảnh các cô nắm tay dung dăng dung dẻ, hay các cậu bá vai, ôm eo cười giỡn, Chính mắt mình thấy hai người đàn ông nằm sát rạt trên một chiếc xe lam, đắp chung cái mền và họ ngủ khò sung sướng. Có lẽ đó là do phong tục tập quán khác nhau ở hai nước.
Còn về vật giá thì trung bình một người dân lao động đi làm cả ngày quần quật cũng chưa kiếm nổi 5 Mỹ kim, trong khi một nhà trọ cho các du khách thì giá khoảng 15 Mỹ kim một ngày? Một Mỹ kim bằng 53 rupee.

Hạnh phúc xả ly...
- Thế chuyến đi Ấn Độ vừa qua đã giúp anh Bình điều gì?
-Hai tuần ở hai thành phố nhỏ nơi miền Tây và miền Đông Ấn Độ đã tặng cho mình một kinh nghiệm sống tuyệt vời. Lúc rời Mỹ, tôi cứ tưởng mìnhtới đó để "dạy cho người ta, ban phước cho người ra, bố thí cho người ta". Hai tuần trôi qua,mình mớinhận ra là mình may mắn đã "học được rất nhiều từ người ta, được người ta ban phước và được người ta bố thí". Các nữ tu và những con ngườicùng khổ nhất trong những người nghèo khổ đã tặng cho mình một món quà vô giá: giúp mình hiểuthế nàolà Hạnh Phúc Xả Ly.Con người ta thường cho rằng hạnh phúc là "Có": có tài sản, có quyềnlực, có danh vọng, có địa vị...Khi chưa có thì muốn có, và làm đủ mọi cách đểmà có. Khi có rồi thì sợ mất hay lại muốn đòi có cái khác cao hơn, mắc hơn, xịn hơn. Nếu khôngcó thì buồn phiền, bất mãn, khổ sở.

Hạnh phúc: Có và Không!
Nhưng với các nữ tu nơiđây thì "không có" là một hạnh phúc. Họ nghèo hơn chúng ta nhiều lắm, vì tài sản của họ chỉ là hai bộ đồ và hai bàn tay trắng. Nhưng họ giàu hơn chúng ta biết bao, bởi họ thật sự có trái tim và tấm lòng.Và những người bất hạnh cũng vậy. Với họ, sống được thêm một ngày đã là một niềm vui. Có những em bé mồ côi khi mình tắm cho, em ôm lấy mình bi bô câu gì đó, rồi em cười hạnh phúc. Có những ông cụ gầy giơ xương khi được phát trái chuối thì bẻ ngay một mẫu cho vào miệng móm mém nhai một cách ngon lành. Có những bà cụ già bị bỏ rơi, khi mình kéo tấm chăn lên ngực thì bà nhắm mắtngủ ngay một giấc thật ngon. Ở quốc gia này, chẳng thấy ai cần đến thuốc an thần hay thuốc trị trầm cảm. Phải chăng sự đơn giản đã giúp tâm hồn người dân nơi đây thanh thản hơn chúng ta?
Đi hai tuần trở về, mình nghiệm ra một điều rằng: Trong cuộc sống, có nhữngthứ “Cho đi” là “Đón nhận”.Phải chăng hạnh phúc khi “Không” chính là “Có”? Nắm giữ cho nhiềurồi khi nhắm mắt thìCó cũng thành Không...

Quà tặng cuộc sống...
- Cuối cùng thì anh Bình còn điều gì muốn chia sẻ?
- Về lại Mỹ, mình cósuy nghĩ khác đi. Mình sắp xếp lại thời khóa biểu cho công việc, gia đình và cho chính bản thân. Dành thêm thời gian quan tâm đến người khác, và tự cho phép mình có những giây phút thảnh thơi - một mình, với thiên nhiên, hay... chẳng làm gì cả. Mình tập bỏ bớt cácsự ham muốn, sự bám víu vật chất bên ngoài. Bớt ngồi chít chát meo, bớt đổi iPad, iPhone mỗi lúc ra mặt hàng mới. Mình cũng bớt cưng chiều các con quá đáng như xưa, dành thời gian dạy dỗ các con về giá trị thật của hạnh phúc và con người. Mình kể về hai chuyến đi này chỉ mong mọi người hiểu rằng: Ởmột nơithật xa -những góc rất khuất của cuộc đời, vẫn có nhữngcon người - tuy bất hạnh nhưng thảnh thơi hơn chúng ta nhiều lắm,tuy tay trắngnhưng lại giàu có hơn chúng ta biết bao.Nếu có thể, hãy tự thưởng cho mình hay cho con cháu một vé đi Ấn Độ, thay vì tự mua một chiếc xe mới, hay tặng cho con một cái laptop đắt tiền. Chỉ một tuần thôi, chắc chắn sẽ thay đổi hoàn toàn cái nhìn của chúng ta về cuộc sống và hạnh phúc trong đời. Chắc chắn đây là món quà mà mình sẽ tặng cho các con khi chúng 18 tuổi.
- Cám ơn anh Bình đã dành thời gian, công sức, tấm lòng để xoa dịu nỗi bất hạnh của những người cùng khổ. Chúc anhsẽ cóthêm nhiều chuyến đi lý thú nữa. - (TV)

Viendongdaily.com và tác giả giữ bản quyền bài và hình trên trang này. Xin đừng trích đăng dưới bất cứ hình thức nào.
Thanh Võ/Viễn Đông