https://vietnamnet.vn/en/memories-of-tet-offensive-1968-remain-vivid-for-intelligence-chief-2524934.html?utm_source=chatgpt.com
Nearly six decades after the Tet Offensive, former H63 intelligence chief Nguyen Van Tau still remembers every moment of the campaign and the comrades who never returned.
At the recent workshop on locating and verifying the positions of mass graves containing soldiers who died during the 1968 Tet Offensive, Colonel Nguyen Van Tau, better known by his wartime alias Tu Cang and former commander of the Heroic H63 Intelligence Unit, shared memories of the courage, sacrifice and intelligence work that helped shape the course of the war.
“During the period of the 1968 Tet Offensive, I was assigned to remain inside Saigon and closely monitor developments hour by hour and minute by minute, reporting information to higher command in a timely manner,” Tu Cang recalled.

Remembering the first phase of the offensive, which began on the night of January 30 and early morning of January 31, 1968, he spoke in detail about the special commando attack on the US Embassy in Saigon.
According to Tu Cang, the US Embassy was not initially included among the targets in Saigon. It was the late Prime Minister Vo Van Kiet, then Secretary of the Saigon-Gia Dinh Party Committee, who noticed the omission and bluntly stated: “If the US Embassy is not attacked, it will be as if the Saigon commandos did not participate in the Tet campaign.”
An urgent order was immediately sent to Long Nguyen in present-day Binh Duong Province, where the Saigon-Gia Dinh Commando Command was based, requiring the rapid formation of an elite unit. Commando Team No. 11 was subsequently established.
“Before departure, the commanding officers showed the soldiers the film Noi Gio and then told them frankly: ‘Tonight we are going into a battle knowing there is a way in but no way back. Anyone willing to volunteer, raise your hand.’ Every hand went up. Fifteen of the best soldiers were selected. In fact, two female liaison and medical personnel insisted on joining. When commanders refused because of the extreme danger, they broke down in tears, threatened to set themselves on fire and even loaded their weapons to demonstrate their determination. Their families had been massacred by the enemy,” Tu Cang said.
Eventually, the request was approved. When the unit moved out, it consisted of 17 members under the command of Ngo Thanh Van, known as Ba Den. The team fought bravely, breached the embassy compound, occupied the ground floor through the third floor, captured several enemy soldiers and seized weapons.
Despite fierce counterattacks from multiple enemy forces sent to reinforce the embassy, the commandos held their position. Facing overwhelming odds, they remained steadfast and fulfilled their mission. Sixteen soldiers were killed in action, while team leader Ba Den was wounded, lost consciousness and was captured.
Today, a memorial plaque at the US Embassy site in Ho Chi Minh City bears the names of all 17 participants in the operation.
Tu Cang believes the attack created shockwaves around the world. Prior to Tet 1968, at the Honolulu Conference, US President Lyndon B. Johnson and South Vietnamese President Nguyen Van Thieu had publicly declared that communist forces had been weakened and pushed back into remote areas.
However, images of American soldiers being killed inside the grounds of the US Embassy were broadcast by Western media outlets directly into American homes, fueling widespread anti-war protests demanding troop withdrawals.
On March 31, 1968, President Johnson announced a partial halt to bombing operations north of the 20th parallel, agreed to peace negotiations in Paris and declared he would not seek another presidential term.
The intelligence message that influenced the second offensive

Before the second phase of the Tet Offensive began on May 4, 1968, the intelligence network obtained highly classified information from within enemy ranks.
According to Tu Cang, US assessments at the time concluded that if Vietnamese forces launched a second offensive, Washington would have little choice but to negotiate a withdrawal.
He immediately transmitted the intelligence to senior command, recommending that the offensive proceed as planned. The message was later praised by the Party leadership and helped strengthen determination for the second phase of operations.
“Despite brutal torture in enemy prisons, not a single intelligence officer revealed information about comrades. It was that absolute loyalty that preserved the entire H63 network and ensured strategic intelligence continued reaching the leadership during the most difficult years of the war,” he said.
The subsequent fighting inside Saigon proved extremely fierce. Tu Cang recalled that Regiment 31, commanded by Vo Van Dieu, known as Hai Hoang, advanced from Go Vap and fought to the last soldier.
As soon as the offensive began, the United States sought diplomatic channels through third countries to open negotiations. President Johnson removed General William Westmoreland as commander of US forces in South Vietnam and appointed General Creighton Abrams as his replacement.
The success of the two Tet Offensive campaigns forced the United States to acknowledge the failure of its strategy of limited war, accept negotiations and begin transitioning to the policy later known as Vietnamization.
Tu Cang believes the 1968 Tet Offensive created a decisive turning point that opened new opportunities for subsequent campaigns, though at the cost of tremendous sacrifices by military personnel and cadres.
“When I saw my comrades fall, the pain was unbearable. Those of us who survived made a promise to keep fighting. There were missions where 15 soldiers set out, yet seven or eight never returned, while others were captured,” he said quietly.
An unfinished mission after peace
More than half a century later, the pain remains.
Speaking with VietNamNet after the workshop, Tu Cang became emotional when discussing plans to excavate a mass grave believed to contain the remains of approximately 900 fallen soldiers beneath Le Thi Rieng Park, formerly the Chi Hoa - Cho Quan Cemetery.
“Back then, enemy forces used excavators to dig long trenches, burying the bodies of our soldiers before covering them over. After nearly 60 years underground, many remains may no longer be intact, making identification extremely difficult,” he said.
The veteran intelligence officer acknowledged that the effort would require a long and complex process involving archaeological excavation, forensic analysis and DNA testing. Nevertheless, he expressed confidence that current efforts, supported by the Party and State, are both necessary and deeply humanitarian.
He recalled remarks made at the workshop by Deputy Prime Minister Pham Thi Thanh Tra, who called on the entire nation to demonstrate the same determination shown during wartime campaigns in order to bring fallen heroes home to rest in their homeland.
According to Tu Cang, that aspiration is shared by surviving veterans as well as the families of those who never returned.
Regarding the historical accounts provided by Tu Cang, Ho Chi Minh City Chairman Nguyen Van Duoc said testimony from living witnesses offers younger generations a deeper and more comprehensive understanding of the circumstances and events surrounding the 1968 Tet Offensive.
Their memories not only help reconstruct the battles of that period but also highlight the resilience, courage and sacrifice of those who came before.
Building on those values, Nguyen Van Duoc reaffirmed the city’s commitment to verifying information, locating remains and repatriating fallen soldiers who still lie in former battlefields.
Dưới đây là bản dịch tiếng Việt của bài báo:
Ký ức về cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968 vẫn còn nguyên vẹn trong tâm trí vị chỉ huy tình báo
Gần sáu thập niên sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, nguyên Chỉ huy trưởng Cụm tình báo H63, Đại tá Nguyễn Văn Tàu (bí danh Tư Cang), vẫn nhớ như in từng diễn biến của chiến dịch và những đồng đội đã không trở về.
Tại hội thảo gần đây về việc xác định và kiểm chứng vị trí các hố chôn tập thể liệt sĩ hy sinh trong Tết Mậu Thân 1968, Đại tá Nguyễn Văn Tàu đã chia sẻ những ký ức về lòng dũng cảm, sự hy sinh và công tác tình báo góp phần làm thay đổi cục diện chiến tranh.
Ông nhớ lại:
“Trong thời gian diễn ra cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968, tôi được giao nhiệm vụ bám trụ trong nội thành Sài Gòn, theo dõi tình hình từng giờ từng phút và kịp thời báo cáo lên cấp trên.”
Trận đánh vào Đại sứ quán Mỹ
Nhắc lại đợt tiến công đầu tiên bắt đầu đêm 30 và rạng sáng 31/1/1968, ông kể chi tiết về trận tập kích của lực lượng Biệt động Sài Gòn vào Đại sứ quán Mỹ.
Theo ông Tư Cang, ban đầu Đại sứ quán Mỹ không nằm trong danh sách mục tiêu tấn công ở Sài Gòn. Ông Võ Văn Kiệt, khi đó là Bí thư Khu ủy Sài Gòn - Gia Định, đã nhận thấy điều này và nói:
“Nếu không đánh Đại sứ quán Mỹ thì coi như Biệt động Sài Gòn không tham gia chiến dịch Mậu Thân.”
Một mệnh lệnh khẩn cấp được gửi đến căn cứ Biệt động ở Long Nguyên (nay thuộc tỉnh Bình Dương), yêu cầu thành lập gấp một đơn vị tinh nhuệ. Đội Biệt động số 11 được thành lập sau đó.
Trước giờ xuất quân, chỉ huy cho các chiến sĩ xem bộ phim Nổi Gió, rồi nói thẳng:
“Đêm nay chúng ta đi vào một trận đánh có đường đi mà không có đường về. Ai tình nguyện thì giơ tay.”
Tất cả đều giơ tay. Ban đầu chọn 15 chiến sĩ ưu tú nhất. Tuy nhiên, hai nữ giao liên - cứu thương nhất quyết xin tham gia. Khi bị từ chối vì nhiệm vụ quá nguy hiểm, họ đã khóc, đòi tự thiêu, thậm chí lên đạn súng để thể hiện quyết tâm vì gia đình họ từng bị quân đối phương sát hại. Cuối cùng, đề nghị của họ được chấp thuận.
Đơn vị xuất phát với tổng cộng 17 người do Ngô Thanh Vân (Ba Đen) chỉ huy. Các chiến sĩ chiến đấu vô cùng dũng cảm, phá được hàng rào Đại sứ quán, làm chủ khu vực từ tầng trệt đến tầng ba, bắt được một số lính đối phương và thu nhiều vũ khí.
Dù bị nhiều lực lượng phản kích dữ dội, họ vẫn kiên cường bám trụ và hoàn thành nhiệm vụ. Kết thúc trận đánh, 16 chiến sĩ hy sinh, riêng chỉ huy Ba Đen bị thương, bất tỉnh và bị bắt.
Ngày nay, tại khuôn viên Đại sứ quán Mỹ ở Thành phố Hồ Chí Minh có bia tưởng niệm khắc tên đầy đủ 17 chiến sĩ tham gia trận đánh này.
Ông Tư Cang cho rằng trận đánh đã gây chấn động dư luận thế giới. Trước Mậu Thân 1968, Tổng thống Mỹ Lyndon B. Johnson và Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu từng tuyên bố lực lượng cộng sản đã bị đẩy lùi vào các vùng xa xôi. Nhưng hình ảnh lính Mỹ bị tiêu diệt ngay trong khuôn viên Đại sứ quán Mỹ được truyền hình phương Tây phát sóng trực tiếp về nước Mỹ, làm bùng lên làn sóng phản đối chiến tranh.
Ngày 31/3/1968, Tổng thống Johnson tuyên bố ngừng ném bom một phần miền Bắc, chấp nhận đàm phán hòa bình tại Paris và không tái tranh cử nhiệm kỳ tiếp theo.
Bản tin tình báo ảnh hưởng đến đợt tiến công thứ hai
Trước khi đợt hai của chiến dịch bắt đầu ngày 4/5/1968, mạng lưới tình báo đã thu được thông tin tuyệt mật từ phía đối phương. Theo ông Tư Cang, các đánh giá của Mỹ lúc đó cho rằng nếu lực lượng Việt Nam mở tiếp một đợt tiến công mới thì Washington sẽ khó tránh khỏi việc phải đàm phán rút quân.
Ông lập tức báo cáo lên cấp trên và đề nghị tiếp tục mở đợt tiến công thứ hai. Sau này, bản tin tình báo đó được lãnh đạo đánh giá cao và góp phần củng cố quyết tâm chiến đấu.
Ông kể:
“Dù bị tra tấn dã man trong nhà tù đối phương, không một cán bộ tình báo nào khai báo đồng đội. Chính lòng trung thành tuyệt đối đó đã bảo vệ được toàn bộ mạng lưới H63 và bảo đảm những thông tin chiến lược vẫn đến được với lãnh đạo trong những năm tháng khó khăn nhất.”
Các trận chiến sau đó trong nội đô Sài Gòn diễn ra cực kỳ ác liệt. Ông nhớ lại Trung đoàn 31 do Võ Văn Điều (Hai Hoàng) chỉ huy đã chiến đấu đến người cuối cùng.
Ngay khi cuộc tiến công bắt đầu, Mỹ đã tìm cách mở các kênh đàm phán thông qua nước thứ ba. Tổng thống Johnson thay tướng William Westmoreland bằng tướng Creighton Abrams.
Theo ông Tư Cang, thắng lợi của hai đợt tiến công Mậu Thân đã buộc Mỹ phải thừa nhận sự thất bại của chiến lược chiến tranh hạn chế, chấp nhận đàm phán và chuyển sang chính sách Việt Nam hóa chiến tranh.
Nhiệm vụ còn dang dở sau hòa bình
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua nhưng nỗi đau vẫn còn đó.
Sau hội thảo, ông Tư Cang xúc động khi nhắc đến kế hoạch khai quật một hố chôn tập thể được cho là chứa hài cốt khoảng 900 liệt sĩ dưới khu vực Công viên Lê Thị Riêng, nơi trước đây là nghĩa trang Chí Hòa - Chợ Quán.
Ông kể:
“Ngày đó, đối phương dùng xe cơ giới đào những hố dài rồi chôn tập thể các chiến sĩ của ta. Sau gần 60 năm dưới lòng đất, nhiều hài cốt có thể không còn nguyên vẹn, việc nhận dạng sẽ vô cùng khó khăn.”
Ông cho rằng công việc này sẽ rất lâu dài, đòi hỏi khảo cổ học, giám định pháp y và xét nghiệm ADN, nhưng đây là việc làm cần thiết và mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc.
Ông nhắc lại lời của Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà tại hội thảo, kêu gọi toàn dân phát huy quyết tâm như trong thời chiến để đưa các anh hùng liệt sĩ trở về với quê hương.
Theo ông Tư Cang, đó cũng là nguyện vọng chung của các cựu chiến binh còn sống và thân nhân những người chưa tìm thấy hài cốt.
Chủ tịch UBND TP.HCM Nguyễn Văn Được cho rằng những lời kể của các nhân chứng còn sống giúp thế hệ trẻ hiểu rõ hơn về hoàn cảnh và diễn biến của cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968, đồng thời khẳng định thành phố sẽ tiếp tục nỗ lực xác minh thông tin, tìm kiếm và quy tập hài cốt các liệt sĩ còn nằm lại trên các chiến trường xưa.
(Phỏng dịch từ VietNamNet Global)
.............................
Ông Ngô Thanh Vân và Ngô Văn Giảng thực chất chỉ là một người. Ông tên khai sinh là Ngô Văn Giảng, khi bước vào hoạt động cách mạng bí mật đã đổi tên thành Ngô Thanh Vân (một số tài liệu ghi là Ngô Thành Vân) và được biết đến nhiều nhất với mật danh, tên gọi thân mật là Ba Đen.
Ông chính là người chiến sĩ duy nhất còn sống sót và bị bắt trong trận đánh chấn động vào Đại sứ quán Mỹ dịp Tết Mậu Thân 1968 mà anh vừa nhắc tới.
Dưới đây là tóm tắt tiểu sử và cuộc đời thăng trầm nhưng đầy oanh liệt của người anh hùng này:
1. Quá trình hoạt động và Trận đánh lịch sử (1968)
Quê quán: Ông sinh ra tại vùng đất Nam Bộ. Từ thời trẻ, ông đã sớm giác ngộ và tham gia hoạt động cách mạng trong lòng đô thị Sài Gòn - Gia Định.
Vai trò năm 1968: Trong chiến dịch Tết Mậu Thân 1968, ông là Đội trưởng Đội 11 Biệt động Sài Gòn, trực tiếp chỉ huy mũi tấn công cảm tử vào tòa Đại sứ quán Mỹ – biểu tượng quyền lực kiên cố bậc nhất của đối phương lúc bấy giờ.
Bị bắt trong trận chiến: Đêm mùng 1 rạng sáng mùng 2 Tết, đội của ông gồm 17 chiến sĩ đã đánh bộc phá từ cửa hông, lọt vào chiếm giữ khu nhà bưu điện và một số vị trí trong sứ quán suốt nhiều giờ liền. Do chênh lệch lực lượng quá lớn và không có viện binh, 16 đồng đội của ông lần lượt anh dũng hy sinh. Ông Ba Đen bị thương rất nặng (gãy chân, trúng đạn vào bụng) và ngất đi do cạn kiệt đạn dược, sau đó bị quân đội Mỹ bắt giữ khi họ tái chiếm tòa nhà.
2. Kiên trung trong ngục tù (1968 - 1973)
Sau khi bị bắt, quân đội Mỹ và chính quyền Sài Gòn biết ông là người chỉ huy nên đã dùng mọi thủ đoạn tra tấn tàn khốc, vừa dụ dỗ vừa ép buộc hòng khai thác mạng lưới Biệt động ngầm.
Ông Ba Đen giữ vững khí tiết, chấp nhận chịu mọi đòn roi, kiên quyết không khai nửa lời về tổ chức và đồng đội.
Sau đó, ông bị khép án và đày ra "Chuồng cọp" tại Nhà tù Côn Đảo – nơi được mệnh danh là địa ngục trần gian.
Được trao trả: Đầu năm 1973, sau khi Hiệp định Paris được ký kết, ông nằm trong danh sách tù binh được trao trả cho phía Cách mạng tại dòng sông Thạch Hãn (Quảng Trị). Sau đó ông ra Bắc an dưỡng và điều trị thương tật.
3. Cuộc sống và sự nghiệp sau năm 1975
Trở về miền Nam: Sau ngày giải phóng 30/4/1975, ông trở lại Thành phố Hồ Chí Minh và tiếp tục tham gia công tác, cống hiến cho sự nghiệp xây dựng đất nước thời bình.
Chức vụ đảm nhiệm: Ông tham gia công tác chính quyền tại địa phương, từng giữ chức vụ Phó Giám đốc Sở Du lịch TP. Hồ Chí Minh và tham gia Ban chấp hành Đảng bộ Quận 1.
Vinh danh: Với những chiến công đặc biệt xuất sắc và tinh thần kiên trung bất khuất trong tù ngục, ông đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Những năm cuối đời: Khi về hưu, ông Ba Đen sống một cuộc đời giản dị, thanh cao bên gia đình tại TP.HCM. Ông là một trong những nhân chứng lịch sử sống vô giá, thường xuyên tham gia các buổi gặp mặt truyền thống, giáo dục lòng yêu nước cho thế hệ trẻ và nỗ lực cùng các đồng đội cũ đi tìm kiếm, quy tập hài cốt của những chiến sĩ Biệt động đã ngã xuống.
Anh hùng Ngô Thanh Vân (Ba Đen) đã từ trần vào năm 2011 tại TP. Hồ Chí Minh, để lại niềm tiếc thương và sự kính trọng lớn lao cho đồng đội cũng như các thế hệ mai sau.