Thứ Hai, 14 tháng 2, 2011

Đại học miền Nam trước 1975: hồi tưởng và nhận định


Xin trân trọng giới thiệu một bài viết đặc sắc của Gs Lê Xuân Khoa về nền giáo dục đại học ở miền Nam trước 1975. Đây là bài viết sẽ xuất hiện trong Kỉ yếu Humboldt do Ts Nguyễn Xuân Xanh biên soạn. Giáo sư Lê Xuân Khoa là một "chứng nhân" của nền giáo dục đại học trước 1975, vì ông từng giữ những chức vụ quan trọng như giáo sư triết học phương Đông tại ĐH Văn khoa Sài Gòn, thứ trưởng Bộ Giáo dục (1965) và phó viện trưởng (như phó hiệu trưởng đại học ngày nay) của Viện Đại học Sài Gòn (1974-1975). Ông định cư ở Mĩ năm 1975, trở thành giáo sư thỉnh giảng tại trường Cao học Nghiên cứu Quốc tế thuộc Ðại học Johns Hopkins. Nay thì ông đã nghỉ hưu. Tôi từng có cơ duyên gặp ông ở Mĩ. Đó là một người đàn anh rất đáng kính, dù ở xa nhà nhưng lúc nào cũng đau đáu nghĩ về quê nhà. Ông là tác giả cuốn sách "Việt Nam 1945-1995, Tập I" rất có giá trị, và tác giả của nhiều tiểu luận đáng chú ý. Ông còn có nhiều hoạt động cộng đồng và thiện nguyện trong cũng như ngoài nước. Mời các bạn theo dõi bài viết của ông và những nhận xét của tôi trong một chuyến về quê gần đây. NVT

Đại học miền Nam trước 1975
Hồi tưởng và Nhận định
Lê Xuân Khoa
Khi được một thành viên trong Ban chủ biên Kỷ yếu Humboldt 200, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Xanh, mời viết một bài về Đại học Miền Nam cho tập Kỷ yếu đánh dấu 200 năm Đại học Humboldt, tôi rất vui vì có cơ hội tham gia vào một công trình có ý nghĩa của một tập hợp trí thức trong và ngoài nước quan tâm đến sứ mệnh giáo dục Đại học ở Việt Nam. Tuy nhiên, tôi đã rất ngần ngại nhận lời, không chỉ vì tôi đã rời xa ngành giáo dục Việt Nam trên 35 năm mà còn lo ngại ký ức của tôi không còn nhớ nhiều về tổ chức và hoạch định chính sách cho nền giáo dục Đại học Miền Nam trước 1975. Quả thật, ngoài 15 năm giảng dạy một môn học rất xa thực tế là “Triết học Upanishad” và “Thiền học Việt Nam” ở Đại học Sài-gòn (sau này có dạy thêm “Văn minh Việt Nam” ở Đại học Đà-lạt,) tôi chỉ tham gia vào bộ phận điều hành ở Bộ Giáo dục, Viện Đại học Vạn Hạnh và Viện Đại học Sài-gòn trong những thời gian rất ngắn, từ năm tháng tới một năm. Tôi cũng ít có dịp hợp tác trực tiếp với những nhà lãnh đạo Đại học, trừ bốn người là cố Giáo sư Nguyễn Quang Trình (ĐH Sài-gòn), cố Linh mục Nguyễn Văn Lập (ĐH Đà-lạt), Thượng Tọa Thích Minh Châu (ĐH Vạn Hạnh) và cố Bác sĩ Nguyễn Ngọc Huy (ĐH Sài-gòn). Nhưng tôi đã được TS Nguyễn Xuân Xanh thuyết phục khi anh nhắc nhở rằng một bài viết về Đại học miền Nam của một “người trong cuộc”, dù ít dù nhiều cũng là điều không thể thiếu trong tập kỷ yếu Humboldt 200, trong đó có phần lịch sử Đại học Việt Nam từ thời cổ, triết lý và quá trình phát triển của nó trong 30 năm chiến tranh (1945-1975) và 35 năm sau thống nhất, đặc biệt là những vấn đề của hiện tại và nhu cầu “đổi mới để nhanh chóng vươn lên với thế giới”.
Vì đã có nhiều tác giả viết về lịch sử, triết lý và hệ thống tổ chức của nền giáo dục miền Nam (Việt Nam Cộng Hòa) từ Tiểu học tới Đại học, tôi thấy không cần thiết phải mô tả lại hệ thống giáo dục này. Tôi sẽ chỉ trình bày một số nhận xét và kinh nghiệm riêng của tôi về chính sách và điều kiện sinh hoạt Đại học trong khung cảnh chung của nền giáo dục ở miền Nam trước 1975, sau khi đã kiểm lại một số dữ kiện với hai bạn đồng nghiệp cũ là Giáo sư Nguyễn Thế Anh và Giáo sư Lê Thanh Minh Châu, cả hai đều từng giữ chức vụ Viện trưởng Viện Đại học Huế. Tuyệt nhiên đây không phải là một bài nghiên cứu hay luận thuyết mà chỉ là một bài ghi nhận một số sự kiện đáng được lưu ý trong lịch sử ngắn ngủi 20 năm của nền giáo dục đại học ở miền Nam, từ ngày đất nước chia đôi đến ngày thống nhất. Do sự suy giảm của trí nhớ, tôi có thể đã bỏ sót hay không nhớ đích xác một số sự kiện diễn ra trên dưới 50 năm về trước.

Từ trung ương tập quyền đến tự trị đại học
Nói đến giáo dục Đại học hiện đại không thể không nói đến quyền tự trị của Đại học. Đó là xu thế chung của đại học ở các nước dân chủ như một điều kiện sine qua non cho sự phát triển của con người và xã hội. Điều 10 trong Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa năm 1967 ghi rõ: “Nền giáo dục Đại học được tự trị”. Điều này phản ánh tinh thần khai phóng trong triết lý giáo dục miền Nam được xác định trong Đại hội giáo dục lần thứ nhất năm 1958, với ba nguyên tắc căn bản là “nhân bản, dân tộc, khai phóng”. Đại hội này được tổ chức với sự tham gia của đại diện giáo chức các cấp trên toàn quốc cùng một số trí thức độc lập bên cạnh các đại diện của Bộ Giáo dục. Mọi quyết định của hội nghị đều là kết quả của những cuộc thảo luận và biểu quyết hoàn toàn tự do không có bất cứ sự can thiệp nào của chính quyền. Tinh thần khai phóng ở Đại học được thể hiện rõ rệt nhất trong việc tiếp thu những kiến thức khoa học tiến bộ và những giá trị văn hóa nhân bản của thế giới nhằm hiện đại hóa đất nước và phát triển toàn diện con người. Điểm này sẽ được đề cập chi tiết hơn ở một đề mục dưới đây.
Thật ra cho đến năm 1975 Đại học miền Nam vẫn chưa hoàn toàn chấm dứt tình trạng chuyển tiếp từ truyền thống trí thức hàn lâm của Đại học Pháp sang truyền thống thực dụng của Đại học Mỹ. Năm 1955, trước khi Pháp hoàn tất việc chuyển giao tất cả các cơ sở công quyền cho Việt Nam, hai nước đã ký kết một bản thỏa hiệp có hiệu lực mười năm về hợp tác và trao đổi văn hóa. Lý do là chính phủ Pháp muốn duy trì sự hiện diện và ảnh hưởng của văn hóa Pháp ở Việt Nam trong lâu dài, trong khi chính phủ mới ở miền Nam cũng cần phát triển giáo dục từ một nền tảng đã có sẵn, nhất là vì các nhà lãnh đạo chính quyền và trí thức đại học đều được đào tạo bởi nền giáo dục Pháp. Trong mười năm đó, chính phủ Pháp cấp học bổng cho nhiều giáo sư trung học sang Pháp tu nghiệp ngắn hạn hay tiếp tục học để lấy bằng tiến sĩ. Nhưng dần dần ảnh hưởng Pháp mờ nhạt đi kể từ khi Việt Nam bắt đầu gửi công chức và sinh viên sang Hoa Kỳ, Úc, Tân-Tây-Lan và các nước khác vào những năm cuối thập kỷ 1950.
Truyền thống giáo dục cổ điển của Đại học Pháp bắt nguồn từ bản Hiến Pháp năm 1791 (hai năm sau Cách Mạng 1789) xác định vai trò của quốc gia trong giáo dục, bảo đảm mọi công dân có cơ hội đồng đều về giáo dục ở mọi cấp và mọi ngành. Những nghị định năm 1806 và 1808 dưới thời Napoléon I đặt toàn thể hệ thống giáo dục từ tiểu học tới đại học dưới sự điều hành và kiểm soát của Bộ Quốc gia Giáo dục. Chính sách trung ương hóa nền giáo dục toàn quốc có mục đích kiện toàn nền thống nhất của quốc gia và tinh thần đoàn kết trong nhân dân Pháp. Định chế toàn quốc ấy đã tồn tại cho đến tận ngày nay, nhưng qua nhiều lần cải cách, chức phận điều hành và kiểm soát của Bộ Giáo dục đã được nới lỏng để con người được phát triển đầy đủ và tự do hơn. Đặc biệt ở cấp Đại học, sự kiểm soát không nhắm vào các hoạt động hàn lâm mà chú trọng đến sự hợp lệ trong các thủ tục điều hành ngân sách và nhân viên.
Chịu ảnh hưởng truyền thống cổ điển của Pháp, giáo dục đại học ở miền Nam không được tự trị về cả ba phương diện ngân sách, nhân viên và học vụ. Quả thật các Viện Đại học Sài-gòn, Huế, Cần Thơ, Đại học Bách Khoa Thủ Đức, các trường Cao đẳng và Đại học Cộng đồng của chính phủ đều được đặt dưới quyền điều hành của Bộ Giáo Dục. Các quyết định quan trọng như tuyển dụng hay thăng ngạch trật của giáo sư, mua sắm vật liệu hay chi phí xây dựng đều phải trình cho Bộ trưởng duyệt ký. Riêng chức vụ Viện trưởng là do Tổng thống bổ nhiệm, nhưng dưới thời Đệ nhị Cộng hoà thì việc bổ nhiệm Viện trưởng phải được Quốc hội thông qua sau một buổi điều trần về đường lối và tổ chức Đại học. Tiếp theo đó, Thủ tướng bổ nhiệm các Phó Viện trưởng theo đề nghị của Viện trưởng nhưng không cần phải thông qua Quốc hội. Chữ ký của Viện trưởng trên các văn bằng Đại học luôn luôn theo sau dòng chữ “Thừa ủy nhiệm Bộ trưởng Giáo dục”. Các khoản viện trợ từ bên ngoài cho phảt triển Đại học cũng phải qua ngân sách của Bộ Giáo dục ngoại trừ dưới hình thức hiện vật như sách vở, dụng cụ, máy móc, hay giáo sư thỉnh giảng (visiting professors) không do chính phủ Việt Nam trả lương. Nguồn viện trợ thường là các chương trình ngoại viện của các chính phủ Pháp, Mỹ, Úc, Tân-Tây-Lan . . . Về học vụ, mặc dù nội dung chương trình giảng dạy thuộc thẩm quyền của Đại học, việc tổ chức các phân khoa, thi cử và văn bằng cùng với mọi sáng kiến thay đổi hay dự án mới đều phải được sự chấp thuận của Bộ Giáo dục. Tóm lại, Bộ Giáo Dục giữ vai trò điều hợp tổng quát các đại học để thống nhất về mặt triết lý giáo dục, quản trị nhân viên và tài chánh (trừ Học Viện Quốc Gia Hành Chánh huấn luyện công chức là trực thuộc phủ Tổng Thống).[1]
Công bằng mà nói thì truyền thống đại học của Pháp không hẳn là một di sản xấu khiến cho đại học Việt Nam bị yếu kém về phẩm chất, như nhận xét của hai tác giả Thomas Vallely và Ben Wilkinson trong bản phúc trình của Đại học Harvard năm 2009. Nhận xét này đã bị Giáo sư Tạ Văn Tài phản bác rất đúng khi ông trả lời cuộc phỏng vấn của Đài Á châu Tự do, nhấn mạnh rằng những giáo sư đại học Việt Nam do Pháp đào tạo đều là những trí thức ưu tú không thua kém gì những đồng nghiệp người Pháp hay ngoại quốc khác. Họ đã xây dựng vững chắc nền đại học miền Nam từ 1954 và hầu hết sinh viên của họ khi ra nước ngoài đi làm hay học lấy bằng cấp cao hơn cũng đều là những nhân tài xuất sắc.[2] Có bậc thày không chỉ có công đào tạo ít nhất là hai thế hệ sinh viên mà còn là tấm gương sáng về đạo đức nghề nghiệp. Chẳng hạn, Giáo sư Nguyễn Đăng Thục, người có công gây dựng Đại học Văn Khoa từ những ngày đầu ở Hà Nội vào năm 1949-1950; bên Y khoa không mấy ai không biết đến Giáo sư Phạm Biểu Tâm là một vị thày thuốc điển hình của truyền thống Hippocrate.

Giáo sư Phạm Biểu Tâm đang tiếp chuyện với sinh viên Y khoa về việc ông bị bắt trong biến cố 1963
Ở miền Nam, khi ghi trong Hiến pháp năm 1967 là “Nền giáo dục Đại học được tự trị,” các nhà làm chính sách giáo dục đã xác nhận sự cần thiết phải hội nhập với thế giới dân chủ, nhất là theo mô hình của Mỹ. Nhưng việc trao cho đại học quyền tự trị, nhất là về quản trị nhân viên và sử dụng ngân sách, từ những định chế lâu đời như Bộ Giáo dục, Tổng Nha Công vụ và Tổng Nha Ngân sách đòi hỏi những sự thay đổi hay điều chỉnh thích hợp về luật lệ và thủ tục, do đó cần phải có thời gian thực hiện theo một tiến trình chuyển tiếp.
Trụ sở Viện Đại Học Sài Gòn cạnh bên Hồ con rùa (góc đường Duy Tân - Trần Quý Cáp). Trước 1975, các trường ĐH công lập như Luật khoa, Văn khoa, Kiến trúc, Dược khoa và Y khoa v.v... đều là các Phân khoa thuộc Viện ĐH Sài Gòn. (Hình ảnh và ghi chú trích từ "flickrer" manhhai)
Dù sao trong tiến trình tự trị hóa, Đại học miền Nam đã được hưởng nhiều ưu đãi. Các đề nghị của Hội đồng đại học về nhân viên hay ngân sách thường được chính phủ chấp thuận mau chóng ngoại trừ những quyết định thật quan trọng. Do sự tín nhiệm sẵn có đối với lãnh đạo đại học, sự chấp thuận của chính phủ được căn cứ vào sự hợp lệ về hành chánh và khả năng ngân sách hơn là xét về nhu cầu và giá trị của đề nghị. Về mặt học vụ, sự chấp thuận của Bộ Giáo dục lại càng có tính hình thức hơn nữa vì không khi nào Bộ ra chỉ thị hay can thiệp vào việc ấn định nội dung các môn học, thể lệ thi cử và chấm thi, các công tác nghiên cứu và giảng dạy, miễn là không trái ngược với ba nguyên tắc căn bản là nhân bản, dân tộc và khai phóng. Chính sách uyển chuyển này đối với lãnh đạo đại học đưa đến thái độ mặc nhiên chấp thuận cho đại học thử nghiệm sáng kiến mới để rốt cuộc chính thức công nhận kết quả của thử nghiệm. Một thí dụ: khoảng giữa năm 1965, tôi được biệt phái từ Đại học Văn khoa Sài-gòn sang Viện Đại học Vạn Hạnh trong một năm để giúp tổ chức và soạn thảo chương trình cử nhân cho Phân khoa Văn học và Khoa học Nhân văn. Sau khi hội ý với Thượng Tọa Viện trưởng Thích Minh Châu và được sự đồng ý của Thượng Tọa, tôi bắt đầu soạn thảo các môn học theo hệ thống tín chỉ (credits) thay thế cho các chứng chỉ cử nhân nhưng vẫn duy trì chế độ niên khóa. Tôi trở về Đại học Sài-gòn khi xong công việc và được biết dự án cải cách dung hòa cũ-mới này sau đó được Hội đồng Viện hoàn chỉnh và lần lượt áp dụng vào các Phân khoa khác. Điều đáng chú ý là khi Viện ĐH Vạn Hạnh trình dự án này lên Bộ Giáo dục xin ý kiến, Bộ không chính thức chấp thuận hay bác bỏ, nhưng các văn bằng cử nhân của Đại học Vạn Hạnh đều được Bộ công nhận. Những buổi lễ phát bằng tốt nghiệp cho sinh viên luôn luôn có sự hiện diện của Bộ trưởng Giáo dục. Từ đầu thập kỷ 1970, hệ thống tín chỉ chính thức được áp dụng ở các Đại học Cộng đồng và Đại học Bách khoa Thủ đức của chính phủ.

Một buổi lễ tốt nghiệp của Viện Đại học Vạn Hạnh trước năm 1975. Trong ảnh Viện trưởng, HT Thích Minh Châu đang đọc thuyết văn
Sự nảy nở các đại học cộng đồng (hay đại học sơ cấp hai năm) từ 1971 đáp ứng nhu cầu thực tế về nhân lực của địa phương và thể hiện tinh thần dân chủ vì có sự tham gia trực tiếp về tài chính và quản lý của địa phương đó. Sự thành lập Đại học Bách Khoa Thủ Đức năm 1973 được phỏng theo mô hình California Polytechnic State University đích thực là một đại học đa khoa, không chỉ gồm những phân khoa thiên về nghiên cứu mà bao gồm cả các ngành thực tiễn như nông nghiệp, kỹ thuật cơ khí, điện tử . . . là những ngành cần thiết cho nền kinh tế tại Đô thành và các tỉnh lân cận. Một đặc điểm trong chương trình đại học cộng đồng hồi đó là chương trình giáo dục bổ túc dành cho những sinh viên do hoàn cảnh chiến tranh nên thiếu căn bản vững chắc để theo các lớp đại học. Chương trình này cũng nhắm vào những quân nhân giải ngũ, nhất là khi đất nước hòa bình, cần được cập nhật và bổ túc kiến thức sau một thời gian bị gián đoạn việc học. Như vậy, việc cải cách giáo dục đại học theo xu hướng thực dụng và dân chủ hóa đã thật sự bắt đầu từ năm 1971.

Tự do học thuật và phát triển con người
Mặc dù một phái đoàn của Đại học Michigan đã đến Sài-gòn từ năm 1954 để giúp cải tổ chương trình đào tạo cán bộ ở Học viện Quốc gia Hành chánh, ảnh hưởng giáo dục đại học Mỹ chỉ bắt đầu ba bốn năm sau và đến những năm đầu thập kỷ 1970 mới có sự tăng tốc trong tiến trình đổi mới, với sự nâng cấp một số trường Cao đẳng Chuyên nghiệp, sự ra đời của một loạt Đại học Cộng đồng và của trường Đại học Bách Khoa Thủ Đức. Thế hệ trí thức theo truyền thống cũ của Pháp cũng ý thức được nhu cầu đổi mới và lợi ích của tự trị đại học trong công cuộc phát triển xứ sở nên cũng sẵn sàng chuyển hướng theo triết lý giáo dục của Mỹ. Tuy nhiên, mọi nỗ lực dân chủ hóa và thực tiễn hóa giáo dục đại học không có đủ thời gian thành tựu khi chế độ Cộng Hòa ở miền Nam sụp đổ năm 1975.
Tự trị học vụ trong qui chế tự trị đại học thường bị lẫn lộn với một chức năng liên hệ là tự do nghiên cứu và giảng dạy nay đã trở thành một truyền thống đại học ở các nước dân chủ. Đến đây, cần phải nhắc đến triết lý giáo dục của Đại học Humboldt nhấn mạnh vào sứ mệnh của trí thức đại học là phát triển toàn diện con người bằng khoa học và văn hóa, và điều kiện của phát triển là tự do nghiên cứu, sáng tạo và giảng dạy. Phát triển con người bằng khoa học là tinh thần khai phóng, phát triển con người bằng văn hóa là tinh thần nhân bản. Đó là hai nguyên tắc chính yếu đã được đưa vào triết lý giáo dục các cấp ở miền Nam cùng với nguyên tắc thứ ba là tinh thần dân tộc, theo thứ tự “nhân bản, dân tộc, khai phóng,” phù hợp với nhu cầu và sứ mệnh của một quốc gia đang mở mang muốn vươn lên và hội nhập thành công trong cộng đồng thế giới.
Giáo dục nhân bản lấy con người làm cứu cánh nên chú trọng vào việc xây dựng đạo làm người, phát triển mầm mống tốt ở con người, phục vụ nhân sinh để tiến đến một xã hội hoàn thiện, đúng như đã được định nghĩa trong sách Đại học của Nho giáo (Đại học chi đạo, tại minh minh đức, tại thân dân, tại chỉ ư chí thiện). Đạo Nho có những giáo điều phong kiến lỗi thời nhưng những nguyên tố để đào tạo mẫu người lý tưởng như nhân, nghĩa, lễ, trí, tín đều có giá trị phổ quát và vĩnh viễn. Người “quân tử” hay “kẻ sĩ” thời phong kiến khác với người “trí thức” thời dân chủ về trách nhiệm cụ thể, nhưng hoàn toàn giống nhau về tư cách đạo đức và tinh thần trách nhiệm. Giáo dục dân tộc nhằm bồi dưỡng tinh thần hiếu hòa nhưng nhiệt tình yêu nước của giống nòi Hồng Lạc qua hơn hai nghìn năm lịch sử, bảo tồn và phát huy những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc. Tinh thần dân tộc được thể hiện ngay sau khi Nhật đảo chính Pháp ngày 9 tháng Ba 1945 và trao trả độc lập cho chính quyền Bảo Đại/Trần Trọng Kim: nền giáo dục Việt Nam lập tức được Việt hóa với chương trình Hoàng Xuân Hãn, Bộ trưởng Giáo dục đầu tiên của nước Việt Nam độc lập. Giáo dục khai phóng tiếp thu những tri thức khoa học, kỹ thuật và tinh hoa văn hóa của các nước Tây phương một cách không định kiến. Rút kinh nghiệm mất nước vì chính sách tự cô lập với thế giới của vua chúa nhà Nguyễn, giáo dục khai phóng cũng du nhập những tư tưởng mới về triết học và chính trị, chuẩn bị cho học sinh sau khi tốt nghiệp tiểu học hay trung học có điều kiện trở thành những công dân hữu ích cho xã hội.
Tinh thần khai phóng được thể hiện đầy đủ nhất ở Đại học qua sự thành lập các trường đại học mới, bổ sung tính chất nghiên cứu hàn lâm bằng khuynh hướng thực dụng để gia tăng khả năng phát triển kinh tế và công nghệ hóa miền Nam. Trong hai năm đầu, miền Nam mở thêm hai đại học, một công là Đại học Huế và một tư là Đại học Đà-lạt, cùng thành lập trong năm 1957; từ 1964 đến 1972 có thêm một đại học công là Đại học Cần Thơ (1966) và năm đại học tư là ĐH Vạn Hạnh (1964), ĐH Phương Nam (1967), ĐH Hòa Hảo (1970), ĐH Cao Đài (1971) và ĐH Minh Đức (1972). Sự gia tăng con số đại học tư—tổng cộng sáu đại học tư đều do bốn tôn giáo chính ở Việt Nam thành lập—cho thấy một đặc tính dân chủ ở miền Nam, mặc dù sự phát triển tự do này có vẻ biểu hiện nhu cầu xác lập vai trò và ảnh hưởng của mỗi tôn giáo trong xã hội hơn là nhu cầu thật sự về giáo dục đại học. Một đặc điểm khác của tinh thần khai phóng là quyền tự do nghiên cứu, sáng tạo và giảng dạy của các giáo sư. Các chứng chỉ, văn bằng và các môn học vẫn phải được Bộ Giáo dục duyệt y, nhưng nội dung các môn học và phương pháp giảng dạy đều do mỗi giáo sư tự ý quyết định.
Đáng tiếc là do tình hình chiến tranh, các hoạt động tự do học thuật này không phát triển được đến mức độ cao như mong đợi. Quả thật các giáo sư Đại học miền Nam được tự do nghiên cứu và giảng dạy, nhưng họ lại thiếu điều kiện để phát huy khả năng của họ. Trước hết là sự thừa kế truyền thống đại học cũ của Pháp từ thời Đại học Đông Dương. Trong những năm đầu chuyển tiếp từ 1954, Đại học Sài-gòn còn giảng dạy bằng tiếng Pháp ở các Phân khoa, trừ trường Văn Khoa, Cao đẳng Sư Phạm. (Ở trường Luật, nhờ những nỗ lực đặc biệt của GS Khoa trưởng Vũ Quốc Thúc và các đồng nghiệp của ông như Vũ Văn Mẫu, Nguyễn Cao Hách, việc giảng dạy bằng tiếng Việt đã thực hiện được từ niên khóa 1955-56.)[3] Ngay cả khi đã hoàn toàn Việt hóa, Đại học miền Nam vẫn theo mô hình cũ của Pháp về tổ chức học theo năm và thói quen giảng bài hay phát bài cho sinh viên học thuộc lòng, trừ một số bộ môn khoa học như Toán và Vật lý. Giáo sư ít có những công trình nghiên cứu riêng, giữ nguyên bài giảng hàng năm hoặc chỉ thêm bớt đôi chút, không hoặc ít hướng dẫn cho sinh viên đọc sách tham khảo và thảo luận trong lớp học. Điểm bài thi cuối năm cao hay thấp phần lớn là tùy theo mức độ thuộc bài của sinh viên. Cho đến những năm cuối thập kỷ 1960, truyền thống cũ mới bắt đầu được thay đổi do sự trở về nước của một số giáo sư sau thời gian du học hay tu nghiệp ở những quốc gia ngoài hệ thống của Pháp như Anh, Đức, Úc, Tân-Tây-Lan, Nhật và Hoa Kỳ. Thật vậy, số người đậu tiến sĩ ở những nước này về Việt Nam dạy học gia tăng từ những năm giữa thập kỷ 1960, nhưng trách nhiệm lãnh đạo về học vụ vẫn ở trong tay thế hệ chịu ảnh hưởng của Pháp, vừa có thâm niên vừa chiếm đa số. Hệ thống giáo dục Đại học vì thế vẫn còn khá bảo thủ. Sự kéo dài tình trạng chuyển tiếp được thấy rõ ở Đại học Y khoa vào những năm cuối cùng: thành phần giảng huấn gồm các giáo sư Việt, Pháp và Mỹ, nhưng một số giáo sư người Việt khi giảng dạy vẫn pha lẫn tiếng Pháp và các bài giảng được viết bằng Pháp văn, đem đánh máy và in ronéo cho sinh viên học thuộc lòng để làm bài thi cuối năm.

Trường Sư phạm, thuộc Viện ĐH Sài gòn
Trong thời gian chuyển đổi từ ảnh hưởng của Pháp sang ảnh hưởng của Mỹ, một số giáo sư do Pháp đào tạo được đi tu nghiệp ở Hoa Kỳ và khi về nước đã cập nhật kiến thức và phương pháp mới vào việc giảng dạy. Mâu thuẫn giữa hai khuynh hướng mới và cũ tan biến mau chóng ngay cả ở Y, Dược khoa và sinh viên rất thích thú được hướng dẫn tra cứu thêm những sách báo y học và khoa học của Mỹ. Bên Luật khoa, các giáo sư trẻ mới du học về đưa ngay vào học trình một số môn mới trong hệ thống đại học Mỹ như kinh toán học, thống kê, phương pháp các khoa học xã hội, chính trị, bang giao quốc tế. Từ nay, thay vì chỉ ghi chép bài giảng của thày và học thuộc lòng để cuối năm sẽ viết ra y hệt (cours magistral), sinh viên đã có dịp áp dụng các phương pháp tự tìm kiếm tài liệu nghiên cứu, do đó tập được thói quen tự học suốt đời, và có dịp tranh luận trong lớp để huấn luyện óc phê bình, sáng tạo. Bên Văn Khoa thì bất kể là giáo sư xuất thân từ đại học Pháp hay Mỹ, đều “trăm hoa đua nở”, tự do giới thiệu và phê bình các hệ tư tưởng triết học, các khuynh hướng văn học, nghệ thuật, tức là rất sát với trào lưu quốc tế. Thí dụ, hồi đó triết học hiện sinh (existentialisme) của Kierkegaard, Heidegger, Sartre và Merleau-Ponty được thảo luận sôi nổi nhất, và những tiểu thuyết hiện sinh của Albert Camus hay Simone de Beauvoir là những tác phẩm thời thượng. Lại có giáo sư không ngần ngại lập ra trường phái mới như Giáo sư Linh mục Kim Định viết cả ngàn trang sách về tư tưởng “Việt Nho”. Các giáo sư trong Tạp chí Đại học thì nghiên cứu và phê phán không thiếu vấn đề gì, từ triết học, văn học đến chính trị. `Đại học Văn Khoa còn có một sồ giáo sư là Thượng Tọa và Linh Mục, như TT Thích Mãn Giác, TT Thích Quảng Liên, LM Trần Thái Đỉnh, LM Hoàng Sĩ Quý. Nói chung, dù xuất thân từ bất cứ đại học nào và thuộc khuynh hướng nào, các giáo sư văn khoa và các ngành khoa học nhân văn đều áp dụng phương châm giáo dục của Kant là “không chỉ giảng dạy cho sinh viên các tư tưởng mà dạy cho họ biết tư tưởng.”
Một câu chuyện đáng ghi nhớ về tự do tư tưởng của trí thức Đại học miền Nam là vào năm 1965, ngay sau khi chính phủ quân nhân cầm đầu bởi Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ được thành lập. Khi đó, Giáo sư Nguyễn Văn Bông, Viện trưởng Học viện Quốc gia Hành chánh, giao trách nhiệm đọc bài khai giảng niên khóa toàn trường cho Giáo sư Tạ Văn Tài, một trí thức trẻ mới ở Mỹ về, xác nhận rằng ông có quyền tự do phát biểu. Giáo sư Tài đã trình bày tóm lược bản luận án tiến sĩ của ông ở Mỹ về vai trò của quân đội tại các nước Đông Nam Á, phân tích ưu khuyết điểm của chế độ quân nhân ở những nước láng giềng như Thái Lan, Miến Điện, Indonesia, nhấn mạnh đến quyết định sáng suốt của một số chính quyền quân đội đã mau mắn trao trả quyền lực cho nhân dân qua bầu cử, tránh được những cuộc đấu tranh chính trị gây đau thương chia rẽ trong cộng đồng dân tộc và kìm hãm sự phát triển của đất nước. Thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ cử Đại tá Dương Hồng Tuân đến tham dự và lấy bài giảng về làm tờ trình cho Hội Đồng Quân Lực. Sau đó, Tổng Thư ký Hội đồng Quân lực là Trung tướng Phạm Xuân Chiểu nhận trách nhiệm nghiên cứu bản luận án của Giáo sư Tài nhưng không thấy công bố kết quả hay phản ứng của Hội Đồng Quân Lực như thế nào.
Ngoài truyền thống bảo thủ của Pháp, một lý do quan trọng khác làm chậm sự phát triển đại học là tình hình kinh tế thời chiến và nạn thiếu giáo sư so với tỉ lệ gia tăng của sinh viên và số đại học được mở thêm khiến nhiều giáo sư phải nhận dạy ở nhiều trường, có khi còn kiêm nhiệm chức vụ khác nữa. Mỗi lần đi dạy xa như từ Sài-gòn ra Huế hay Đà-lạt hay Cần Thơ, giáo sư cần phải ở lại địa phương trung bình hai, ba ngày. Công việc nghiên cứu chuyên môn lại càng bị hạn chế, sáng kiến và phương pháp giảng dạy mới cũng không được phổ biến khi những người có hiểu biết và đầu óc đổi mới lại chính là những người được giao phó thêm chức vụ mà công việc hàng ngày thường chiếm nhiều thì giờ hơn là dạy học. Riêng cá nhân tôi, trước khi được bổ nhiệm Phó Viện trưởng Đại học Sài-gòn đặc trách nghiên cứu và phát triển năm 1974, tôi đã kiêm nhiệm hai chức vụ trong khu vực tư là Giám đốc Nhà Xuất bản Hiện Đại do Hội Việt-Mỹ bảo trợ và Phó Tổng Giám đốc của Mandarin Garment Co., một công ty hợp tác đầu tư Việt Nam-Hong Kong-Tây Đức, trong khi vẫn giảng dạy ở Đại học Văn Khoa. Dự án cải cách và phát triển Đại học Sài-gòn của tôi bị đình trệ vì phải huy động giáo sư và sinh viên tham gia công tác cứu trợ khẩn cấp đồng bào di tản vì chiến tranh từ các tỉnh miền Trung.
Nhà Xuất bản Hiện Đại là một dự án văn hóa có những đóng góp không nhỏ cho những hoạt động tự do, khai phóng của Đại học. Vì sự gia tăng cường độ của chiến tranh, công cuộc phát triển Đại học gặp phải nhiều khó khăn, đặc biệt trong việc gửi sinh viên đi du học nước ngoài. Bộ Giáo dục và Viện Đại học đã phải mời một số giáo sư ngoại quốc tới giảng dạy nhưng không đáp ứng đủ nhu cầu. Khi làm Đổng lý Văn phòng tại Bộ Văn hóa Giáo dục năm 1965, tôi đã có dự án du nhập trí tuệ bằng việc mời giáo sư nước ngoài và dịch sách nghiên cứu để giải quyết nạn thiếu giáo sư và mở rộng kiến thức của sinh viên. Khi nói chuyện với các cơ quan viện trợ văn hóa nước ngoài, khẩu hiệu “We want to bring the brain in” của tôi có sức thuyết phục nhưng chưa kịp làm được gì thì chính quyền dân sự Phan Huy Quát đã phải ra đi. Năm 1971, cùng với sự nở rộ của các đại học tư và đại học cộng đồng kiểu Mỹ, tôi có cơ hội quan hệ với Hội đồng Quản trị Hội Việt-Mỹ và đề nghị chương trình dịch tài liệu giáo khoa của Mỹ cho giáo sư và sinh viên đại học Việt Nam bên cạnh chương trình phổ biến kiến thức phổ thông về văn học, khoa học và nghệ thuật mà Hội Việt-Mỹ đang thực hiện. Dự án được chấp thuận, Hội Việt-Mỹ phụ trách điều đình với các nhà xuất bản ở Mỹ về quyền được dịch sách và NXB Hiện Đại ra đời với sự hợp tác của nhiều giáo sư và học giả có uy tín cho đến những ngày cuối tháng Tư 1975.
Trong bốn năm hoạt động, NXB Hiện Đại đã hoàn thành được 45 tác phẩm trong đó 30 cuốn là sách nghiên cứu về kinh tế, chính trị, khoa học, kỹ thuật. Điển hình là : Căn bản Chính trị của Phát triển Kinh tế của Robert T. Holt và John E. Turner, Vũ Quốc Thúc dịch; Sự Biến đổi của Quốc tế Công pháp của W. Friedman, Tạ Văn Tài dịch; Chính trị và Bang giao Quốc tế của Hans J. Morgenthau, một nhóm chuyên viên dịch, Nguyễn Mạnh Hùng chủ biên; Thế Quân bình Thế giới và Tương lai của Á châu của Robert Scalapino và William Griffith, Phạm Thiên Hùng dịch; Á châu và các Đại cường của Robert A. Scalapino, Nhóm Toàn Hưng dịch; Văn minh Dân chủ của Leslie Lipson, Vũ Trọng Cảnh dịch; Nguyên tắc Quản trị: Phân tích các Chức vụ Quản trị của Harold Koontz và Cyril O’Donnell, Trần Lương Ngọc và Cung Thúc Tiến dịch; Xã hội học của Joseph Fichter, Trần Văn Đĩnh dịch; Khía cạnh Kinh tế của Phát triển Nông nghiệp của John W. Mellor, Nguyễn Đăng Hải dịch; Năng lượng và Thế giới Ngày mai của Hal Hellman, Ngô Đình Long dịch; Ký giả Chuyên nghiệp của John Hohenberg, Lê Thái Bằng và Lê Đình Điểu dịch. Đáng chú ý là bộ Kinh tế học của Paul Samuelson, người được giải Nobel Kinh tế năm 1970, Cung Thúc Tiến, Nguyễn Minh Hải và Trần Lương Ngọc dịch, Nguyễn Cao Hách hiệu đính, mới in xong tập I (700 trang) khoảng giữa tháng Tư 1975, chưa kịp bán. Năm 1990, khi tôi và phái đoàn SEARAC gặp cố Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch ở New York để vận động việc định cư cựu tù nhân cải tạo ở Mỹ, nhân dịp đề cập đến kế họach đổi mới của Nhà nước, ông Thạch báo tin vui là bộ sách của Samuelson đang được dịch sang tiếng Việt. Tôi kể lại chuyện năm 1975 NXB Hiện Đại để lại hai nghìn bản dịch cuốn sách này còn thơm mùi giấy mới và nói thêm: “Chắc lúc đó các anh đã cho đốt hết rồi.” Ông Thạch trả lời bằng một nụ cuời xòa.
Ngoài chương trình dịch sách của các tác giả người Mỹ, NXB Hiện Đại cũng xuất bản sách dịch từ Pháp văn và sách viết bằng tiếng Việt của tác giả người Việt. Cuốn sách tiếng Pháp làm sôi nổi dư luận thế giới hồi đó là cuốn Ni Marx, Ni Jesus của triết gia Pháp nổi tiếng Jean-François Revel được Nguyễn Khắc Nhân dịch sang tiếng Việt là Không theo Marx, không theo Jesus. Ba cuốn sách viết bằng tiếng Việt do Hiện Đại xuất bản là Từ điển Quản trị và Hành chánh của Bùi Quang Khánh và Vũ Quốc Thông, William Faulkner: Cuộc đời và Tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ và Nguyễn Văn Nha, và Đặc khảo về Dân nhạc ở Việt Nam của Phạm Duy.
Tại mỗi phân khoa đại học, các giáo sư cũng đưa những công trình nghiên cứu chuyên môn của mình vào những ấn phẩm của phân khoa, như Y Dược có tạp chí Acta Medica Vietnamica, trường Luật có Luật học Kinh tế Tạp chí, Học Viện Quốc gia Hành chánh có Tập san Nghiên cứu Hành chánh, Văn Khoa Sài-gòn có tập san Nghiên cứu Sử Địa, Đại học Huế có tạp chí Đại Học do một nhóm giáo sư phụ trách với sự hợp tác của nhiều giáo sư ở Sài-gòn. Về bên Khoa học, tôi chỉ nhớ có cuốn sách nổi tiếng được ngoại quốc biết đến nhiều là cuốn Cây Cỏ Miền Nam của GS Phạm Hoàng Hộ. Tôi không thể kể ra hết danh tính của những giáo sư đã có công đóng góp vào sự nghiệp phát triển đại học miền Nam, nhưng có thể khẳng định một cách tổng quát là những người trong ban giảng huấn đại học ở mọi cấp bậc đều được đào tạo theo hệ chính quy, trong nước hay ngoại quốc, có khả năng và tư cách nghề nghiệp xứng đáng được tôn trọng. Họ là một lực lượng trí thức Tây học đông đảo chưa từng có trong lịch sử đất nước, có đầy đủ tinh thần và phẩm chất của người trí thức ở các nước phát triển, không thua kém về trình độ so với các nước trong khu vực, có tư duy độc lập, có thái độ rất dấn thân và tâm huyết cho sự nghiệp phát triển nước nhà. Nếu có điều kiện tiếp tục phát triển hoà bình, chắc chắn họ sẽ tạo nên sự thăng hoa cho đất nước, như giới trí thức, khoa học gia đã từng làm cho nước Đức thế kỷ 19.
Ngoài sự nghiệp giáo dục đào tạo, giới trí thức đại học hồi đó cũng thấy rõ nhu cầu phát triển xã hội trong thời chiến đồng thời với công cuộc chuẩn bị tái thiết đất nước trong thời bình. Bởi vậy mặc dù ít thì giờ cho những công trình nghiên cứu lâu dài, một số trí thức vẫn đóng góp ý kiến với những nhà làm chính sách bằng những bài luận thuyết về những vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Trí thức đại học chưa nghĩ đến việc thành lập “think tank” như ở Mỹ nhưng đã tụ họp với nhau trên các diễn đàn độc lập có những tiếng nói đáng kể như tạp chí Quê Hương do GS Nguyễn Cao Hách và đồng sự chủ trương, Văn Hóa Á châu (thêm ấn bản tiếng Anh Asian Culture) của Hội Nghiên cứu Liên lạc Văn hóa Á châu, Thế kỷ Hai mươi do GS Nguyễn Khắc Hoạch chủ nhiệm, và Phát triển Xã hội (thêm ấn bản tiếng Anh Social Development) do tôi và một số đồng nghiệp phụ trách. Ngay cả những tạp chí của chính quyền như Pháp lý Tập san của Bộ Tư pháp, Tập san Quốc phòng của Bộ Quốc Phòng cũng có sự tham gia của nhiều giáo sư đại học và trí thức độc lập. Cũng cần nhắc đến bản Phúc trình Thúc-Lilienthal của “Nhóm Nghiên cứu Kế hoạch Hậu chiến” là kết quả hợp tác giữa trí thức đại học Việt Nam và các chuyên gia về chính sách của Hoa Kỳ.

Kết luận
Đại học miền Nam chỉ tồn tại có hai mươi năm trong đó mười năm đầu còn chịu ảnh hưởng Pháp khá sâu đậm do thỏa hiệp hợp tác văn hóa Việt-Pháp năm 1955. Chỉ từ 1965 Đại học miền Nam mới có cơ hội tiếp cận với tinh thần thực dụng và chế độ tự trị đại học của Mỹ và tìm cách áp dụng vào hệ thống đại học Việt Nam. Tuy nhiên, ngay từ những năm còn theo truyền thống cũ của Pháp, Đại học miền Nam đã được hưởng nhiều sự dễ dãi của Bộ Giáo dục về các thủ tục hành chánh, tài chánh, nhất là về học vụ. Các giáo sư được tự do nghiên cứu và giảng dạy mặc dù còn thiếu nhiều điều kiện giúp cho việc phát triển tiềm năng. Mười năm sau (1965-1975) vẫn được coi như thời kỳ chuyển tiếp vì khuynh hướng thực dụng và những thay đổi theo mô hình đại học Mỹ chỉ có cơ hội nảy nở từ những năm đầu thập kỷ 1970.
Sự gia tăng cường độ của chiến tranh kéo theo tình trạng bất ổn về xã hội và khó khăn về kinh tế đã hạn chế rất nhiều khả năng nghiên cứu, cập nhật kiến thức và phương pháp giảng dạy của các giáo sư. Nhiều người đậu tiến sĩ ở ngoại quốc chưa muốn trở về nước giảng dạy vì bất mãn với chính quyền miền Nam. Nạn thiếu giáo sư càng trầm trọng trước sự gia tăng số sinh viên và số truờng đại học mới mở khiến cho những giáo sư giỏi phải đi dạy ở nhiều trường hoặc đảm nhận thêm công việc khác. Trong những điều kiện hạn chế và khó khăn như thế, Đại học Việt Nam vẫn cố gắng phát triển, nâng cấp những trường cao đẳng chuyên nghiệp, mở thêm các đại học cộng đồng và đại học bách khoa, áp dụng hệ thống tín chỉ . . . Môi trường đại học đích thực là một môi trường tự do của hoạt động trí thức. Nhiều giáo sư, dù bận dạy nhiều trường hay có việc làm thêm, vẫn cố gắng đóng góp ý kiến qua những diễn đàn trí thức về những vấn đề quan tâm chung. Tiếc rằng vào thời điểm những năm đầu thập kỷ 1970, chưa có ai nghĩ đến việc thành lập “think tank” để tư vấn cho những nhà làm chính sách, có lẽ khái niệm về những cơ quan nghiên cứu tư vấn kiểu Mỹ này còn khá xa lạ đối với Việt Nam.
Tôi không muốn so sánh Đại học miền Nam trong 20 năm chiến tranh trước 1975 với nền Đại học Việt Nam hiện nay, sau 35 năm đất nước hòa bình và thống nhất. Nhưng tôi thành thật nghĩ rằng nếu hiệp định Paris 1973 giữa bốn phe tham chiến được thi hành nghiêm chỉnh, thực hiện những đìều khoản đã thỏa thuận về “hòa giải và hòa hợp dân tộc” (chương IV, điều 10, 11 và 12)[4] thì miền Nam Việt Nam dưới một chính quyền mới sau cuộc tổng tuyển cử đã có triển vọng giàu mạnh không thua kém Nam Hàn, và Đại học miền Nam cũng đã đạt được “đẳng cấp quốc tế.” Kết quả này cũng chắc chắn đã diễn ra, dù chậm trễ hơn nhiều năm sau khi đất nước thống nhất, nếu đường lối đổỉ mới thật sự của những nhà lãnh đạo có tầm nhìn như Nguyễn Cơ Thạch hay Võ Văn Kiệt không bị trở ngại trên bước đường thực hiện.
Cũng may là ở Việt Nam ngày nay vẫn còn có những trí thức không quên theo đuổi lý tưởng của người làm thày cao hơn người làm quan (tiến vi quan, đạt vi sư), nhất là không quên sứ mạng “lương sư hưng quốc”. Họ đã không ngừng tuyên dương và cố gắng phát huy truyền thống đại học Humboldt, trong đó tự do nghiên cứu và giảng dạy là điều kiện thiết yếu để đào tạo con người và phát triển xã hội. Các nhà lãnh đạo Nhà nước cũng đã nhấn mạnh đến sự cần thiết xây dựng đại học “đẳng cấp quốc tế”, đang tiếp cận với các nền giáo dục phát triển phương Tây, đặc biệt nền giáo dục đại học Hoa Kỳ, nhưng đến bao giờ thì mới thật sự tạo điều kiện cho việc thực hiện mục tiêu này? Thời gian không chờ đợi trên vũ đài thế giới.
Irvine, California
Tháng Mười, 2010
Tham khảo
1.Wikipedia, tiếng Việt, “Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa”.
2.Nguyễn Hữu Phước, Contemporary Educational Philosophies in Vietnam,1954-1974, luận án tiến sĩ tại University of Southern California, 1974.
Đỗ Bá Khê, “Phát triển Đại học miền Nam trước 1975”, trang 152-157, trong Giáo dục ở miền Nam tự do trước 1975 , Nguyễn Thanh Liêm chủ biên, Lê Văn Duyệt Foundation xuất bản, Santa Ana, California, 2006.
--------------------------------------------------------------------------------
[1] Điều này khác với mô hình các đại học ở Liên Xô mà Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã áp dụng cho đến những năm gần đây: Đại học ngành nào thuộc Bộ ngành đó, thí dụ Y khoa thuộc Bộ Y tế, Luật khoa thuộc Bộ Tư pháp. Từ 1994 các khoa mới được tập trung thành Đại học Quốc gia. Sau 30.4.1975, trường Luật và trường Quốc gia Hành chánh bị bãi bỏ, nhưng dưới thời Thủ tướng Võ Văn Kiệt thì được tái lập, có lẽ vì chính quyền mới đã nhận ra vai trò đóng góp vào nền pháp trị của trường Luật ở miền Nam. Trong khi đó, kiến thức và kinh nghiệm của ban giảng huấn Học viện Quốc gia Hành chánh cũng cần thiết cho việc cải tổ hành chánh. Một số giáo sư chế độ cũ được mời giảng dạy và làm tư vấn về hành chánh cho Thủ tướng.
[2] Đài Á châu Tự do phỏng vấn GS Tạ Văn Tài ngày 19.10.2009, đăng lại trong Đặc San Luật Khoa 2010 của Câu Lạc Bộ Luật Khoa Việt Nam, Houston, Texas.
[3] Về điểm này, phải kể đến sự đóng góp quan trọng của GS Vũ Văn Mẫu, soạn giả tập Từ Điển Pháp-Việt: Pháp, Chính, Kinh, Tài, Xã Hội.
[4] Thí dụ: Chương IV, Điều 11 ghi rằng: “Ngay sau khi ngưng chiến, hai bên miền Nam sẽ: (1) thực hiện hoà giải và hoà hợp dân tộc, chấm dứt hận thù, cấm đoán mọi hành động trả thù và kỳ thị đối với các cá nhân và đoàn thể đã hợp tác với bên này hay bên kia; (2) bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân: tự do cá nhân, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do tổ chức, tự do hoạt động chính trị, tự do tín ngưỡng, tự do đi lại, tự do cư trú, tự do làm việc, quyền tư hữu, và quyền tự do kinh doanh.”
(Các hình ảnh trong bài viết là do tôi đưa thêm để minh họa. NVT)

Thứ Ba, 8 tháng 2, 2011

Tản mạn chuyện 10 năm

Y2K. Ảnh: Internet
Trong thập kỷ qua điều gì đáng chú ý: Trung Quốc, Ấn Độ và Brazil nổi lên, cao bồi Mỹ phi ngựa…tại chỗ, vì dính vào hai cuộc chiến tốn kém, dù có sự thay đổi lớn, Tổng thống da đen lãnh đạo Nhà Trắng. Gấu Nga vẫn luẩn quẩn bên rừng Taiga kiếm ăn. Việt Nam đang trên đà phát triển, dân ta bắt đầu tìm kiếm sự may mắn ở xứ người.
Theo bạn, những sự kiện quan trọng nhất của VN trong 10 năm qua là gì? Và hãy cùng nhau dự đoán trong 10 năm tới sẽ ra sao? Biết về 10 năm trước để sống cho 10 năm sau cũng là một ý hay.
Một thập kỷ không dài trong đời người và khá ngắn trong lịch sử của một đất nước, nhưng cũng đủ thời gian cho số phận bước sang một nẻo đường khác, nếu biết vượt lên chính mình.

Y2K năm 2000
Nhiều người còn nhớ sự kiện Y2K, sự chuyển giao thế kỷ, làm cho bao dân IT đau đầu. Vào cái đêm giao thừa Tây (1-1-2000), chuyện gì sẽ xảy ra nếu tất cả các máy tính chạy loạn xạ, do giờ giấc và ngày tháng bị sai.
Lần đó, HM trực đêm ở tòa nhà 53 Trần Phú, sợ Y2K mò vào hệ thống của WB. Nghe đồn villa đó có ma vì chánh cẩm thời Pháp ở. Tầng hầm tra tấn tù và có người chết trong nhà.
Năm 1995, WB thuê làm văn phòng, tầng hầm biến thành phòng mạng máy tính, tay IT ngủ cả ngày lẫn đêm khi thành phố cắt điện.
Lúc bé từng sống ở mom đầu sông Chanh, nối với sông Hoàng Long, trên một bãi tha ma đầy tiểu sành. Đi làm cho quốc tế cũng ở chung phòng với những linh hồn oan uổng. Có lẽ ở hiền gặp lành nên được các cụ phù hộ, độ trì, cho đi khắp đây đó, HM thành người của…thế giới.
Đêm Y2K đó đi qua, chàng IT ngáy khò khò trong cái phòng giam tù nhân xưa mà chả thấy gì. Chỉ có sếp gọi điện nói là sẽ khen bằng email trên mạng. Có tiếng mà không có miếng. Mẩu bánh mỳ của thế giới cũng khác lắm.
Y2K cũng báo hiệu thời kỳ bong bóng dotcom. Một người bạn bên Mỹ tin vào “đôt” còm (.com), “thấy người ta ăn khoai cũng vác mai đi đào” nên anh “đốt – dot” luôn $200K.

Sự kiện 11-9 thay đổi thế giới
Nhớ lúc đang giặt tã cho Luck được 4 tháng thì Hoài Linh váy ngắn nhất cơ quan gọi điện khẩn cấp. Tưởng hẹn hò gì. Hóa ra “Anh đến ngay văn phòng vì WB bên Mỹ có thể bị khủng bố Bin Laden tấn công. Nhớ xem lại hệ thống máy tính cho cẩn thận”. Vụ khủng bố 11-9-2001 làm thay đổi nước Mỹ và thế giới.

Khủng bố 11-9-2001. Ảnh: AP
Milosevic bị truất ngôi bên Nam Tư và bị bắt, cuối cùng chết thảm trong tù. Nam Tư biến mất khỏi bản đồ thế giới. Thay vào đó là các nước nhỏ hơn xưng hùng xưng bá.
Cu Bin ra đời trong bệnh viện Việt Pháp (Hà Nội). Mấy lần đưa vào đó khám định kỳ, rồi hơi hu hi chút cũng cho nằm viện, vì mẹ cháu thấy thảm trải cả mấy tầng, như khách sạn 5 sao. Mãi tháng sau mới biết có mấy ông SARS bị chết trong đó. Bệnh viện phải đóng cửa, và từ đó thì cạch luôn Việt Pháp.
Vụ 11-9 cũng báo trước là Afganistan và Iraq sẽ không tránh khỏi cuộc tấn công của liên quân bao gồm Mỹ và Hoa Kỳ. Vừa chiếm được Batda thì Bush lên tầu chiến tuyên bố “Mission accomplished”. Dù đã sắp qua 10 năm, Mỹ đang muốn rút lui trong danh dự mà chưa xong.
Khi Mỹ lún sâu vào cuộc chiến Iraq, Afganistan thì Trung Quốc trỗi dậy lúc nào không biết. Từ một nước có thu nhập 100$ tiến lên 1000$ và nay là 6850$/GDP at PPP trên đầu người. Họ đang về nhì trong nền kinh tế thế giới với GDP khoảng 5000 tỷ đô la. Để tiện so sánh, Hoa Kỳ có 14.100 tỷ, châu Âu cộng lại 12.500 tỷ và VN ta có khoảng 91 tỷ nên dự định chi 56 tỷ cho đường sắt cao tốc.
Chưa biết cuộc chiến tranh dầu lửa và dân chủ mang lại những gì cho Hoa Kỳ, nhưng việc Trung Quốc nổi lên trong lúc các siêu cường khác suy thoái, đã chứng minh rằng, khi anh mải mê trong hào quang chiến thắng thì người khác dễ truất ngôi vào lúc không ngờ nhất.
Cơn bão Katrina vào năm 2005 đã tàn phá khủng khiếp mấy bang của Mỹ cũng không nguy hại bằng trận cuồng phong tài chính đã kéo theo cả thế giới đi vào cơn đại khủng hoảng. Từ đó Hoa Kỳ cứ lùi dần và nếu đứng im đã là may lắm, ra roi mãi mà ngựa không phi nổi nước kiệu.

Trung Quốc tiến lên, nước Nga đứng im
Chính lúc ấy, hàng giá rẻ tại Trung Quốc bỗng trở thành phao cứu sinh cho người nghèo. Xuất khẩu của Trung Quốc bỗng tăng đột ngột. Nguy của người này lại là cơ của kẻ khác, rất đúng với hoàn cảnh của người phương Bắc. Trong lúc các nước rơi vào thảm họa tài chính thì GDP của Trung Quốc vẫn tăng vù vù.
Cho dù năm 2006 đã treo cổ Saddam, chủ Lầu Năm Góc từ chức, nhưng trận chiến mang dân chủ cho dân theo đạo Hồi không mang lại kết quả như mong muốn. Bất động sản Mỹ nằm bất động. Trong một đêm thị trường chứng khoán sụp đổ đã kéo theo bao ngân hàng cá mập đổ vỡ.
Tại nước Nga, Putin tìm cách ôm ghế bằng cách thay đổi hiến pháp, cho phép ông từ chức tổng thống để làm thủ tướng, kiểu tham quyền cố vị một cách…hợp hiến. Đứng sau Medvedev trẻ trung, đầy quyền bính, nhưng đấu sỹ karate đai đen với tài lái máy bay phản lực đi Chesnia đã một lần nữa chứng tỏ “ai là người lãnh đạo nước Nga”.
Kết thúc thập kỷ này là một tổng thống da đen Barack Obama làm chủ Nhà Trắng. Chính sách cái gậy và củ cà rốt của ông và Hillary đang có hiệu quả. Ít nhất là trong thời kỳ hai năm, chưa có quả tên lửa nào được bấm nút, dù ông cử tầu chiến sang thăm hữu nghị biển Đông.

Việt Nam vui hơn thế giới
Với thế giới thì thập kỷ qua, buồn nhiều hơn vui. Việt Nam ngược lại, GDP luôn tăng trưởng ở mức 7-8%. Chỉ số hạnh phúc cao nhất thế giới.
Từ một nước nghèo nay đã là nước trung bình (>1000$/người/năm). Có lẽ chẳng ai muốn quay về những ngày xưa “tem phiếu”, dù có bao nhiêu mỹ từ.

Hội nhập: sữa bò kèm dịch vụ PC. Ảnh: HM
Từ tỷ lệ nghèo 60 % nay chỉ còn khoảng 10%, một thành tựu được cả thế giới thừa nhận. Ông Bob Zoelick, Chủ tịch WB, đi đâu cũng kể về một quốc gia thoát nghèo một cách ngoạn mục, cho dù tham nhũng, hối lộ đang làm đau đầu và suy vong chế độ.
Có của ăn của để nên vùng đất bùn lầy, khỉ ho cò gáy, bỗng biến thành bờ xôi ruộng mật, là vàng, là đô la. Mới có chuyện, hôm qua là anh hùng, hôm nay thành tội đồ của sự phát triển. Biển Đông xưa kia êm đềm nay bỗng sủi tăm vì có khí đốt tự nhiên và dầu hỏa, chưa kể vị trí chiến lược “tiền đồn”. Giỏi buôn như Do Thái thì có thể biến thành “đồn tiền”.

Sự hội nhập đang tiếp tục
Dân chúng có nhiều lựa chọn hơn, kể cả việc đi tìm một miền đất hứa khác. Hàng chục ngàn sinh viên trẻ đã sang du học bên Mỹ. Khác với thời chiến tranh, hàng vạn học sinh sang Đông Âu và Liên Xô. Thời thế đã hoán ngôi các quốc gia một cách thú vị.
Trong đám bạn bè, bằng cách này hay cách khác, nhiều gia đình hội nhập lặng lẽ. Ảnh gia Nguyễn Vinh Quang đã sang DC với vợ, ở chơi vài tháng lại sang xứ Kangaroo để trông cháu ngoại cho con gái đi làm. Tam giác Úc-Mỹ-Việt Nam đã kết nối gia đình anh.
Giáo sư Trần Cao Sơn, đồng nghiệp cũ ở Viện Tin học, hiện ở xứ New Mexico, đã thành người của quốc tế. Gia đình định cư bên Mỹ, hai con gái đến tuổi lấy chồng.
Gần chục các cô bạn của WB từ Hà Nội đã sang DC với gia đình mở rộng. Cộng đồng còn lớn mạnh. Chuyện du học, làm ăn và cả định cư bên phương Tây không còn xa vời như cách đây 10 năm trước.
Luck và Bin “tản cư” sang Mỹ vào năm 2004, được 6 năm tròn. Bảo chúng là người Mỹ thì không phải, gọi là người Việt Nam cũng không. Virginia không phải là tổ quốc, về Ninh Bình làm khách, ở Hà Nội được gọi là nhà quê.
Thôi thì chúng lớn lên thành người của hội nhập, dù lý lịch không cơ bản, thành phần không rõ ràng, ở Mỹ không được làm Tổng thống, về VN không được vào UVTW.

Đường về mười năm tới
Trong 10 năm tới, hai đứa con sẽ trưởng thành, xa rời tổ ấm của cha mẹ. Giấc mơ Mỹ của chàng IT làm cao bồi (cowboy) miền Tây hoang dã sẽ chấm hết. Dự định quay về Ba Vì, lão già sẽ lọ mọ chọn cùng nghề với con cháu anh Hồ Giáo.

Sữa bò Hồ Giáo. Ảnh: HM.
Chợt nhớ bài thơ “cua” của Tố Hữu mà đám học trò thời đó phải thuộc lòng “Lần trước gặp anh//Chăn bò trên Tam Đảo//Sáng nay lại gặp anh Hồ Giáo//Chăn bò ở Ba Vì//Hỏi anh: Có thú vui gì?//Anh cười: Vui thú đời đi chăn bò//Cách mạng cần, việc nhỏ việc to//Đánh Mỹ, nuôi bò, việc gì cũng quý”.
Xưa anh Hồ Giáo đánh Mỹ bằng cách chăn bò. Nay HM theo Mỹ cũng bằng cách nuôi bò. Có lần đi Hòa Bình (7-2010) thấy ”Kim Dung sữa quán” định bắt chước. Sinh thời lão từng chăn trâu hung dữ nên cưỡi bò là cái đinh gì.
Sữa xuất khẩu sang Mỹ, Mỹ uống nhiều, Mỹ thấy ngon, Mỹ quen mùi, Mỹ lại mua, Mỹ thấy lời, Mỹ quên luôn bài “dân chủ và nhân quyền”. Thế là vui lắm, sợ gì tuổi già cô độc.
Nếu không, mở quán bên đường “Hiệu Minh: Chuyên sửa PC, thịt dê núi Hoa Lư, cày tơ bảy món, viết blog về nước Mỹ”. Toàn cầu hóa là đó đó, đi đâu xa cho mệt.
Chúc các bạn đầu Xuân đi làm vui và may mắn.

Hiệu Minh. Khai bút đầu xuân Tân Mão 2011.

Kim Dung sữa quán. Ảnh: HM

Thứ Tư, 2 tháng 2, 2011

Chúc mừng Tết Tân Mão - Câu chuyện nhân ngày đầu tiên của năm mới

Chúc mừng Tết Tân Mão

Còn ít giờ nữa là tới Giao Thừa, xin gửi lời chúc mừng năm mới tới cả các bạn gần xa. 
Đinh Văn Khai

Câu chuyện nhân ngày đầu tiên của năm mới


Niemtq@ sưu tầm
 
"The past is behind, learn from it. The future is ahead, prepare for it. The present is here, live it"
 
1.Ngày đầu tiên của năm mới. Đã bao lần câu nói quen thuộc này vang lên trong trí tôi , hay được viết xuống trên trang giấy trắng tinh, hoặc , hiện đại hơn, được gõ trên mặt phím chiếc máy tính xách tay lúc nào cũng kè kè bên tôi như hình với bóng.
60 năm trang sách đời tôi đã đi qua, 60 lần “ ngày đầu tiên của năm mới “ hiện hữu. Cũng chính vào thời khắc đầu tiên của năm mới, người ta hay nhìn lại quá khứ, để rút tỉa những điều cần rút tỉa cho tương lai, cho những ngày mai đang chờ đợi trước mặt.
60 năm trang sách đời tôi đã đi qua,
Ở tuổi 60 như tôi, người ta cần và nên rút tỉa những gì từ thứ quá khứ dầy đặc và sâu hun hút ấy ? 60 năm một đời người đâu phải là khỏang thời gian ngắn ngủi, thế nên chất chứa trong đó hẳn phải là rất nhiều thứ . Vui có, buồn có. Thành công có, thất bại có. Điều hay có, điều dở cũng không ít. Và tất nhiên, hằng hà sa số những lỗi lầm lớn nhỏ. Nhưng trước hết, tôi muốn tìm câu trả lời cho câu hỏi thực tế : Rút tỉa kinh nghiệm từ quá khứ để làm gì cho những người gần đất xa trời như tôi , những ngày sống sau 60 tuổi chỉ là khỏan “ bonus” của thượng đế ( keo kiệt ) ban cho ? Ở những người trẻ thì thật dễ hiểu. Họ còn cả một cuộc đời trước mặt, mọi lỗi lầm trong quá khứ ( nếu có ), họ vẫn có thì giờ để sửa chữa. Nên việc nhìn lại hôm qua, để hướng về một ngày mai tốt đẹp hơn , là một điều cần thiết, phải làm và nên làm.
Khái niệm về năm tháng giúp người ta dựng nên những chặng mốc trong đời sống. Ở những chặng mốc đó, sự ngồi lại, đếm những chặng mốc đã qua, nhìn về những chặng mốc sắp tới, tùy theo độ ngắn hay dài của chúng mà người ta có sự chuẩn bị thích hợp.
Vậy thì, ở chặng mốc thứ 60, người ta ngồi lại, nghỉ ngơi để lấy sức đi nốt đọan đường ngắn ngủi còn lại trước mặt, hay cứ gỉa vờ như mình còn trẻ ( và khỏe ) , vuơn vai rũ sạch lớp quá khứ nặng nề, cương quyết đi về phía mặt trời mọc với cái hăm hở của 40 năm về trước, mặc dù sừng sững trước mặt là chặng mốc cuối của con đường ( đời ). Nói thì dễ, nhưng làm mới khó. Cũng như bao người cùng lứa tuổi khác, tôi đã ấp ủ trong đầu mình ý tưởng “ ngông cuồng “ ấy , xem như “ quyết tâm của năm mới “ mà mình phải nỗ lực đạt cho kỳ được. Cổ nhân có câu : lực bất tòng tâm. Muốn là một chuyện, nhưng làm được hay không còn tùy vào cái sức nó có cho phép hay không cho phép. Mặt khác, gánh nặng 60 năm quá khứ của tôi ( và những người cùng thế hệ ) không dễ dàng gì một sớm một chiều có thể rũ bỏ được. Nó nặng nề đã đành, mà còn bám rễ vào tận trong óc, trong tủy, trong tim, trong hồn. Những chặng mốc chiến tranh, tù đày, lưu vong đã hằn sâu như những vết chém trí mạng, nay tuy sống sót nhưng vết sẹo vẫn còn đó. Và phía dưới lớp thịt sẹo nhăn nhúm, vẫn âm ỉ một cảm giác nhức nhối, khó chịu, mỗi khi năm tháng chuyển mình. Lớp quá khứ ấy dầy đặc như thế, muốn rút tỉa điều cần rút tỉa, đã khó, mà xác định xem điều gì cần được rút tỉa, lại càng khó hơn. Chưa kể, còn phải trả lời câu hỏi : nhọc công nhọc sức như thế để làm gì ?
Hình như đã quá muộn cho những nỗ lực làm mới lại đời sống cho những người thuộc thế hệ chúng tôi, mà trong đó, thời gian là trở lực lớn nhất.
Với năm tháng, người ta trở nên quen với những điều không như ý, quen đến độ không thể sống thiếu chúng. Giống hệt như người phụ nữ có vết chàm bẩm sinh trên khuôn mặt đã quen thuộc với nó bao nhiêu năm, nay tuy có cơ hội giải phãu xóa bỏ vết chàm ấy đi, vẫn thẳng tay từ chối . Người phụ nữ bất hạnh tin rằng, vết chàm ấy là định mệnh của mình, và bà cương quyết sống trọn với định mệnh đời mình. Nhưng tận sâu kín trong tim , bà không đủ can đảm thú nhận rằng bà không thể sống thiếu vết chàm ấy, và lo sợ khỏang thời gian ( sống ) còn lại quá ngắn, không đủ cho bà tập làm quen với khuôn mặt tuy đẹp hơn, nhưng lại không có vết chàm.
Nhiều năm trước, tôi được nghe kể một câu chuyện như sau :
Báo đưa tin, có một ông già được đưa vào nhà thương cấp cứu. Ông té xỉu trong lúc ngồi đọc báo (tiếng Việt) ở một tiệm cà phê tọa lạc ngay trung tâm thành phố Little Sàigòn.
Tại nhà thương, người ta khám phá ra có một viên đạn nằm trong trái tim của ông có lẽ đã từ lâu lắm, vì qua máy chụp với độ rõ cao nhất, mắt thường cũng nhìn thấy nó bị gỉ sét. Chắc ông già phải bị đau đớn lắm. Cuối cùng, chính viên đạn ấy đã làm ông già ngất xỉu ( vì thở không được ). Các bác sĩ chẩn bệnh vô cùng ngạc nhiên vì tại sao mãi đến hôm nay, ông già mới được đưa vào nhà thương để chữa chạy. Dĩ nhiên, họ quyết định giải phẫu để lấy viên đạn ra. Đối với y khoa tân tiến của nước Mỹ, công việc giải phẫu ấy dễ dàng như lấy đồ trong túi. Nhưng theo thủ tục, vẫn phải có sự ưng thuận của gia đình ông già, và nhất là chính ông ta. Khi được nghe nói về chuyện giải phẫu, ông đã giẫy nẩy lên, mồ hôi toát ra khắp người, nét mặt hoảng hốt như người sắp phải đương đầu với một tình huống nghiêm trọng, nguy hiểm. Câu trả lời của ông là KHÔNG. Hãy cứ để yên viên đạn gỉ sét ấy trong người ông. Ông đã sống với nó 30 năm rồi, thỉnh thoảng ông có đau đớn, nghẹt thở, nhưng ông vẫn sống. Nếu chết, ông đã chết từ lâu rồi chứ đâu phải đợi đến hôm nay để mà giải phẫu.
Không một ai, kể cả người thân yêu nhất của ông già, nhận thức được rằng chính viên đạn gỉ sét, chứng tích của cuộc chiến tranh tàn khốc mà ông đã từng kinh qua, chính là lý do để ông tồn tại. Không có nó cùng với những cơn đau nhức triền miên, những nửa đêm về sáng hổn hển những hơi thở đứt đoạn, thì ông còn có gì khác để bám vào, để khỏi bị chết đuối giữa những lớp sóng dữ dội của quá khứ !
Vì thế, ông cám ơn trời phật đã giúp ông sống được với nó 30 năm nay, và sẽ còn sống được với nó thêm nhiều năm nữa.
Ông già nói đó có lẽ là phép màu.
Tất nhiên, câu chuyện tôi được nghe chỉ là một câu chuyện dụ ngôn về thế hệ chúng tôi. Cũng như người đàn bà mang trên khuôn mặt vết chàm xấu xí, chúng tôi đã sống quen với những vết thương, nên không thể sống thiếu chúng.

2.Ngày đầu tiên của năm mới. Tôi không muốn nhuộm đen cái chặng mốc mới mẻ ấy bằng những ý tưởng ảm đạm của thế hệ mình, mà chỉ muốn nhìn vào một thực tế mà có muốn tránh cũng không được. Để từ đó, tôi có thể tìm cách thuyết phục chính mình rằng hãy sống và nhìn cuộc sống theo một hướng khác cho những ngày ngắn ngủi còn lại. Cái hướng khác ấy, tôi chẳng biết phải gọi nó bằng cái tên gì, định nghĩa nó như thế nào, chỉ biết hy vọng nó có thể giúp mình dễ sống hơn, dễ thở hơn, dễ chấp nhận hơn, bớt nhức nhối hơn mỗi khi trái gió trở trời, tuy viên đạn gỉ sét vẫn còn nằm nguyên trong cơ thể.

Loren Gerber,Florence Gerbert.
Hình như tôi đã có thể mường tượng ra được cái hướng sống (của riêng tôi ) ấy, nhân những ngày cuối năm đọc được câu chuyện cảm động từ một tờ báo địa phương , nói về cái chết của cặp vợ chồng người Mỹ .
Người chồng tên là Loren Gerber, vợ là Florence Gerbert. Bà vợ thường nói với mọi người rằng tên của chồng bà nằm gọn trong cái tên của bà ( F-Loren ) như một định mệnh đã gắn chặt họ với nhau 62 năm nay. Quen nhau từ thời còn học chung một trường tiểu học, khi trưởng thành , họ yêu nhau và lấy nhau, có với nhau những đứa con. 62 năm chung sống, có lúc vui , lúc buồn, khi cơm chẳng lành, khi canh chẳng ngọt, nhưng họ vẫn gắn bó với nhau, kể cả trong những giờ ăn trưa khi cả hai còn đi làm , trong những chuyến du lịch khi họ về hưu, và tất nhiên, khi về gìa hai vợ chồng chỉ còn có nhau để nương tựa. Những ngày cuối năm vừa qua, trên đường trở về nhà từ Wichita sau các cuộc viếng thăm con cháu trong thành phố, một tai nạn xe cộ xẩy ra khiến cả hai bị thương nặng, không thể qua khỏi.Họ chỉ sống bằng dưỡng khí nhân tạo, như thực vật. Không muốn cha mẹ kéo dài sự sống như thế, các con của họ quyết định xin bệnh viện tháo bỏ các ống dưỡng khí nhân tạo ấy ra. Những y tá, bác sĩ của bệnh viện St.Francis ở Wichita đã có sáng kiến để hai vợ chồng vào nằm chung một phòng khi thực hiện các thao tác tháo bỏ máy móc trợ sinh. Cả hai trái tim của Loren và Floren ce ngưng đập cùng một lúc ( điều khá hiếm ). Tay trái của người chồng nắm chặt lấy tay phải của vợ ( như khi họ còn sống mỗi khi ở bên nhau). Các con của họ tin rằng, đó cũng là nguyện vọng của cha mẹ họ. Sống bên nhau và chết bên nhau. Cả hai tránh cho nhau sự đau khổ khi một trong hai người phải ra đi trước. Một câu chuyện tình 62 năm với sự kết thúc tuyệt hảo.
Trong đời sống, yêu thương là thứ ở trong tầm tay của tất cả mọi người, bất kể sang hèn giàu nghèo, già trẻ lớn bé. Yêu thương làm đời sống bền vững, nhất là đời sống gia đình. 62 năm một cuộc hôn nhân, không phải là hiếm thấy. Cũng với lòng yêu thương con người, các bác sĩ y tá của bệnh viện St. Francis ở Wichita đã nẩy ra ý kiến và thực hiện việc để cho hai người yêu nhau , ở cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, được ở bên nhau suốt đời, cho đến khi trái tim ngừng đập mà tay vẫn trong tay. Và có thể, với sự sắp đặt của đấng Tối Cao, hồn của họ sẽ vẫn ở bên nhau trong cái cõi không hề biết đến chia ly thật huyền nhiệm ấy.
Happiness does not heal, but happiness protects against falling ill.

3.Ngày đầu tiên của năm mới. Nhìn những con số tròn trĩnh, trọn vẹn, tôi suy ngẫm bài học mới về yêu thương từ một câu chuyện tình cũng tròn trĩnh, trọn vẹn như cổ tích. Tôi đưa tay rờ ngực mình. Có thể viên đạn gỉ sét vẫn còn nằm trong đó, nhưng chắc nó cũng không thể cản được trái tim tôi rung lên vì những chấn động gây ra bởi yêu thương. Lòng yêu thương cuộc đời và con người. Tôi ngỏanh nhìn năm cũ. Mớ quá khứ rối tinh rối mù nặng trĩu bao hệ lụy vẫn còn đó, nhưng chắc nó cũng không thể trì kéo được tôi mãi trong bóng tối mù mịt của than vãn, trách móc, óan giận, tiếc nuối. Tôi cần được sống quãng đời ngắn ngủi còn lại một cách thanh thản, nhẹ nhàng. Nếu không nhẹ nhàng thể xác, thì ít nhất, cũng được sự nhẹ nhõm của tâm hồn. Tôi tin rằng, dù chất lên vai biết bao yêu thương , thì tâm hồn mình, thể xác mình vẫn nhẹ như mây bay lơ lửng khắp vòm trời nhân lọai. Lòng yêu thương có khả năng biến những hệ lụy cuộc đời thành những hạt bụi mong manh sớm muộn gì cũng sẽ bị gió cuốn đi đến tận cuối chân trời.
Và như thế, tôi hăm hở bước vào năm mới với cảm giác tươi mát , tràn đầy sinh lực như vừa được uống ngụm nước múc lên từ suối Cam Lồ.


Một số hình ảnh đẹp về Việt Nam trên National Geographic

Lê Hương (Theo National Geographic)

Cảnh vật và con người Việt Nam là nguồn cảm hứng sáng tác của không ít nhiếp ảnh gia nổi tiếng trên thế giới. Một số bức ảnh này đã được lựa chọn để đăng trên tạp chí uy tín National Geographic

Dưới đây là một số hình ảnh đẹp về Việt Nam trên National Geographic:


Vịnh Hạ Long kỳ ảo trong sương sớm.
Ruộng bậc thang ở các tỉnh miền núi phía bắc Việt Nam.
Một góc Vườn quốc gia Ba Vì (Hà Nội) sau một trận mưa
Một cụ bà đang bán hương nhang tại Cố đô Huế.
Đây là hình ảnh một loài khỉ đang có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam.

Một buổi lễ của những phật tử theo đạo Cao Đài.
Một em bé dân tọc H’Mông ngủ ngon lành trên lưng mẹ khi đang trên đường đi chợ
Một phụ nữ người dân tộc đang may đồ thổ cẩm ở làng Tả Phìn, gần Sapa
Một góc bình yên của phố cổ Hội An
Một bé gái Dao Đỏ đang được mẹ đeo khuyên tai
Phố cổ Hội An huyền ảo khi trời hoàng hôn đang dần chuyển sang màn đêm
Một người phụ nữ đang đạp xe qua cây gạo đầu làng trong buổi chiều tà. Cây gạo thường được trồng trước cổng làng ở vùng nông thôn Việt Nam
Ruộng bậc thang ở miền núi phía Bắc
Một người đàn ông đang chở lợn con ra chợ bán. Hình ảnh này được một người khách du lịch ghi lại được trong khi di chuyển từ Hà Nội xuống Hạ Long
Bán bóng bay dạo trên đường phố đêm ở Hà Nội
Những món ăn đặc sản của phố cổ Hội An
Một góc phố Hà Nội về đêm
Thanh bình Vịnh Hạ Long
Cầu nguyện tại chùa Tây Phương (Hà Nội)
Chiêm ngưỡng Thác Voi ở Đà Lạt, Lâm Đồng
Những đồi cát bất tận ở Bình Thuận
Khoảnh khắc lãng mạn của một cặp tình nhân trên bãi biển Cửa Lò, Nghệ An
Chèo thuyền trên sông Thu Bồn, Hội An
Bé gái người Dao Đỏ
Thành phố Hồ Chí Minh một chiều mưa
Cụ bà bán hoa quả rong
Một góc phố Hàng Bạc ở thủ đô Hà Nội.
Tự do và yên bình
 Chiêm ngưỡng Thác Voi ở Đà Lạt, Lâm Đồng
 Một bé gái ở Thành phố Hồ Chí Minh cười hồn nhiên trước ống kính máy ảnh của người nước ngoài
Một cặp tình nhau hôn nhau tình tứ giữa phố Hà Nội 
Một người phụ nữ bế con chờ chồng đi biển về. Hình ảnh này được ghi lại tại cảng Mũi Né, Bình Thuận 

Thứ Ba, 1 tháng 2, 2011

Tiếng mẹ đẻ

Phan Cẩm Thượng


Truyện trò bên hàng quà ngoài chợ.
Tranh vẽ trích trong sách “Kỹ thuật của
người An Nam”, Henri Oger.
Lịch sử chế độ quan liêu Việt Nam là lịch sử của bọn ăn không ngồi rồi, không dám chịu trách nhiệm, việc nào có đút lót thì sốt sắng, việc nào khó thì đùn lên quan trên, quan trên lạ đùn lên quan trên nữa, quan trên nữa thì đùn lên vua. Quá trình hành chính này sinh ra cách ăn nói vu vơ, không chết ai, không được việc gì, đầy sự cảm thông, cũng như đầy sự vô trách nhiệm.

1. Ngôn ngữ của một dân tộc là một quá trình rất lâu dài từ hàng vạn năm đến hàng ngàn năm phát triển. Tôi luôn nghi ngờ các nhà khảo cổ học và lịch sử quy định sự phát triển của một dân tộc với thước đo vài ngàn năm. Để có được một tiếng mẹ đẻ một tộc người cần xuyên qua quãng thời gian không ngắn như thế. Ngôn ngữ không phải là các ký hiệu chỉ vật chất hay ý thức nào đó, nếu thế chúng ta đã học ngoại ngữ rất dễ dàng, trái lại ngoài tiếng mẹ đẻ của mình ra không ai có thể thạo một tiếng mẹ đẻ thứ hai, mà chỉ có thể giỏi một hoặc nhiều ngoại ngữ. Ngôn ngữ chính là biểu cảm tâm hồn và trời đất quy định tâm hồn ta thuộc về một dân tộc nhất định. Ngay cả một đứa trẻ lớn lên với nhiều tiếng nói xung quanh, nó vẫn thường nằm mơ bằng một ngôn ngữ, và trong thầm thì và im lặng của tâm thức chỉ có duy nhất một tiếng mẹ đẻ.
Tiếng mẹ đẻ của bà tôi và của tôi là tiếng Việt, hay có lúc người ta gọi là tiếng Kinh. Bà bảo: Có củ khoai cho cháu, chạy sang hàng xóm mượn cho bà cái kéo, tiên sư anh lúc nào cũng ỉa non đái ép, ăn nhanh lên còn đi học không thằng bố mày lại gào lên, lậy Thánh mớ bái cho chúng con rộng đường làm ăn... Tôi thuộc lòng tất cả những lời lẽ này, nhưng lại không nói như thế nữa. Tôi có cách ăn nói của thế hệ mình. Như vậy cứ vài mươi năm tiếng mẹ đẻ lại thay da đổi thịt một lần, lớp nọ chồng lên lớp kia, cái cũ chưa mất đi, cái mới đã nẩy sinh, đó là sự sinh động của một ngôn ngữ. Sự thay đổi đó bây giờ còn diễn ra nhanh hơn, có khi vài năm, nhưng trước thế kỷ 19, một trăm năm ngôn ngữ mới đổi mới một lần. Do đó con người bây giờ có cái lợi thế của một xã hội năng động, nhưng người ngày xưa có cái lợi thế của người luôn có gốc rễ.
Khi một đứa trẻ lớn lên đầu tiên nó sẽ được học chào và mời. Gặp ai lớn hơn mình đều phải chào cả: chào ông chào bà, chào bố chào mẹ, chào anh chào chị, chào bác chào cô. Thông qua lời chào đứa trẻ sẽ phân biệt được các đại từ nhân xưng phức tạp của tiếng Việt, nó sẽ phải gọi mọi người bằng ngôi thứ đấy, theo tuổi tác, không thể nào chỉ có nỉ và wo hay you và I như tiếng Tầu và tiếng Anh. Thế là một tư duy phán đoán và một thứ lễ nghĩa hình thành đi theo đứa bé trong quan hệ phức tạp của người Việt. Sau đó là học mời: mời bác vào chơi, mời bà xơi cơm, bà mời cơm, mời anh chị lại nhà, quý hóa quá, mời ông uống trà, mời sếp rửa tay. Rất sáo rỗng, nhưng tập tục lời chào cao hơn mâm cỗ, không thể không mời nhau. Khi ăn cơm người ta sẽ mời, nhưng không có nghĩa là bạn được ăn, cái đó gọi là mời rơi.
Chào mời, rồi đến chửi. Người Việt xưa coi chửi là một tập tục rất bình thường khi họ bất bình và rất yêu thương, nhưng họ không hay văng tục, trừ một lớp người gọi là giang hồ tứ chiếng. Văng tục và nói đệm tục là một lối ăn nói dân dã đang có xu hướng phổ biến, mà thực ra nó chỉ phát triển từ cuối thế kỷ 19 đầu 20 trở lại đây. Mẹ mày, Đ mẹ mày, Đ.. L... mẹ mày, tiên sư mày, tiên sư cha mày, bố mày, Đ...cả lò nhà mày, đồ con đĩ, đồ con chó, đồ chó, chó cái liếm L..., đồ mặt L..., đồ gái đĩ già mồm, ngu như bò, ngu như chó, tham như lợn, nhẵn như cầu hàng thịt...
Có thể nói, người Việt chửi rất chua ngoa và tục tĩu, trong đó toàn dùng các quan hệ tính dục với bậc trên của đối phương để sỉ nhục. Nó thể hiện sự bất lực của họ trong cuộc sống thường nhật và những ức chế không được giải tỏa. Xong tập tục chửi đổng có vần điệu và có bài bản lại là một nét sinh hoạt khác rất lâu đời. Chúng phần nhiều được các bà già mù chữ dùng để thóa mạ một đối thủ có quyền có chức hay ức hiếp dân lành, hoặc bọn trộm cắp trong làng. Ví dụ một bà già ở Bương Cấn, Quốc Oai, Hà Tây chửi khi mất gà: Cờ xanh cắm ngõ, cờ đỏ cắm nhà, bắt lấy tên, biên lấy tuổi, lên trình Nam tào sao Bắc đẩu, đứa nào ăn cắp con gà của bà. Con gà ở nhà bà là con công, con phượng, về nhà mày là con cú, con cáo. Nó mổ mắt cả lò nhà mày, mày hộc máu răng, mày văng máu mép, mày vật đống rơm, mày đơm đống rạ... Bài ca đó có thể kéo dài đến hai ba ngày, cho đến khi đối phương không thể chịu đựng được đành thả con gà ra. Rất buồn cười là kẻ ăn cắp được một con gà, về nhà thường lại thịt một con gà của nhà mình trước, đợi khi câu chuyện êm xuôi mới chén hoặc nuôi con gà ăn cắp. Người ta gọi đó là kẻ cắp nhà quê.
Làng xã là một xã hội khác so với những gì ta quan niệm. Đàn bà ở đó không được đi học, họ được yêu nhưng lấy ai lại do cha mẹ quyết định, có thời họ được thừa kế một phần tài sản của cha mẹ, nhưng đại thể là không. Họ có nghĩa vụ yêu thương chồng con vô điều kiện, cấy cầy và buôn bán. Như vậy phụ nữ Việt hoàn toàn khác với phụ nữ phương Đông nói chung và phụ nữ Hồi giáo, những người về cơ bản không phải ra chợ bán hàng, hay lao động nặng ngoài đồng ruộng. Nhưng vì thế mà người phụ nữ Việt có vai trò lớn trong gia đình, họ có đời sống tinh thần riêng bởi Phật giáo và các truyện thơ dân gian. Cái lời ăn tiếng nói của đàn bà trong làng là một phần rất phong phú trong ngôn ngữ tiếng Việt. Thân em như giếng giữa đàng / Người khôn rửa mặt người quàng rửa chân, Ước gì sông rộng tầy gang / Bắc cầu giải yếm cho chàng sang chơi; Người khôn ăn nói nửa chừng / Làm cho người dại nửa mừng nửa lo; Thà mất nửa sào trước cửa / Còn hơn mất nửa con đầu buồi... đều là tiếng nói của nữ nhi cả. Trẻ con Việt trước tuổi đi học (bẩy, tám tuổi) luôn ở cạnh mẹ và bà, nên mới có câu: Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà. Như vậy đời sống tâm thức của chúng hoàn toàn từ kiến thức dân gian và tâm hồn thiên về cái tình của người phụ nữ. Rất ít người Việt có đời sống lý trí mạnh, mọi việc đều phải giải quyết theo cái tình trước.
Tiếng nói thường nhật và tiếng nói văn học đôi khi lẫn lộn vào nhau. Có thể nói mỗi bà già Việt xưa đều là một kho cổ tích, tiếu lâm, ca dao dân ca, hát ru, thành ngữ tục ngữ thuần Việt, trong khi đàn ông chạy theo văn tự của Thánh hiền, những lời cao siêu trong Tứ thư Ngũ kinh trang trọng. Bẩm hoàng thượng, muôn tâu bệ hạ, học nhi thời tập chi, bất diệc lạc hồ (học lại được hành, chẳng vui sao), đại nhân lâu nay vẫn an khang đấy chứ, nhân tứ tuần khánh thọ, cung hỉ các ngài, mời các ngài dùng trà, mời quan khách lên mâm trên, chúc thượng lộ bình an... Nghĩa là có một lối ăn nói khác ảnh hưởng sâu sắc từ văn ngôn tiếng Hán, cách thức và lễ nghĩa phong kiến Trung Hoa và Việt Nam.
Đôi khi sự thay đổi của ngôn ngữ lại phụ thuộc vào vài cá nhân nhà văn, đó thực sự là các văn hào. Từ sau khi tác phẩm của họ được truyền tụng, tiếng mẹ đẻ được mở rộng thêm một bước. Nguyễn Trãi, Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến và Tú Xương. Ngâm nga buổi trưa và buổi tối, lẩy thơ, và nói năng ví von bằng nguồn thơ có sẵn... là cách thức phổ thông nhất. Tôi thấy một ông già vác rá đi vay gạo. Ông hàng xóm bảo: Nếu cụ lẩy Kiều được về việc hết gạo, thì tôi biếu không một rá. Ông vay gạo đọc luôn: Đói lòng vừa ghé tới nơi / Thì đà gạo vãi cơm rơi bao giờ / Bếp kia lạnh ngắt như tờ / Nồi kia rêu đã lờ mờ phủ xanh. Nguyên văn trong Kiều như sau: Thuyền tình vừa ghé tới nơi / Thì đà trâm gẫy bình rơi bao giờ / Phòng không lạnh ngắt như tờ / Dấu xưa rêu đã lờ mờ phủ xanh, đó là đoạn một người khách tìm đến nàng Đạm Tiên thì nàng đã xanh cỏ đỏ mồ từ lâu.
Ăn nói hàng ngày là một biểu hiện của tính cách dân tộc, ngay từ cách dùng từ ăn nói, mà không dùng là tiếng nói, lời nói. Ăn và nói là hai việc khác nhau, ghép với nhau chúng thể hiện phong cách sinh hoạt. Người Việt nói: ăn nói, ăn nằm (tình yêu thắm thiết đã có sinh hoạt tình dục), ăn trông nồi, ngồi trông hướng, trồng lúa ăn nằm, chăn tằm ăn đứng... chứng tỏ ăn là hành vi quan trọng, khởi thủy, vì vậy mới nói nhân chi sơ là sờ tí mẹ, tính bản thiện là miệng muốn ăn. Nhưng khi nói riêng về ăn, thì người Việt có không biết bao nhiêu từ tương tự: ăn, đớp, hít, chén, nhậu, nhắm, hốc, bớp, đả, đánh, húp, nhôm, quạc, sực... cũng giống như những từ chỉ việc đánh nhau nhiều vô kể: đạp, đấm, đá, thụi, bốc, túm, quăng, quật, tát, béo, thoi, ục, chưởng, đả, đánh, cốc, gõ, chém, bổ, húc, quạt... tất nhiên là mỗi từ đắc địa trong một hành vi cụ thể, nhưng có lẽ so với các ngôn ngữ khác là quá phong phú. Từ ngữ diễn đạt các trạng thái tình cảm còn giầu có gấp bội, nhưng ngược lại các từ chỉ vật chất lại khá nghèo nàn, nhất là những sản phẩm công nghiệp, người Việt hầu như hoàn toàn vay mượn từ ngôn ngữ Hán và Anh, Pháp.
Khi trò chuyện, người Việt thường khen ngợi người khác sung sướng hơn mình và bản thân mình thì ôn nghèo kể khổ, dường như chỉ có họ là người khổ nhất trên đời. Bác xây nhà mới to quá, dễ đến vài trăm triệu, con cháu lại đề huề cả, anh ấy làm cho người nước ngoài ối tiền, bác cứ gọi là ngồi mát ăn bát vàng, tiền nhiều như thế để đâu cho hết, cái áo này chắc mua tận Mỹ đây... Và Khốn nạn cái thân tôi, khổ thân em quá, sao mà em cơ cực thế này, cay đắng lắm chị ơi, nào có vui vẻ gì, chồng với con gì toàn một lũ ăn bám, ông giời không có mắt thôi, kỳ này thì cứt cũng không có mà ăn, đú đởn cho lắm vào rồi ít nữa mốc mép, giời ôi, cái lồn mà để ngoài da / một ngày mất bẩy mươi ba cái lồn...
Cho đến nay toàn bộ đời sống tinh thần của người Việt vẫn dành cho làm ăn và quan hệ tình cảm, tất nhiên điều này cũng thuộc về con người nói chung, nhưng ngoài cái đó ra lại không có chỗ nào cho văn hóa nghệ thuật và khoa học. Những quan tâm đến môi trường và cộng đồng cũng chưa có một vị thế trong tâm hồn, và tâm hồn ấy cũng không có một đấng tối cao nào ngự trị. Trước nền kinh tế thị trường, Việt Nam là một xã hội nông nghiệp, thu nhập không cao, tích lũy không nhiều, người dân không có ước vọng cao xa ngoài đủ ăn đủ mặc, rồi đến nhà ngói sân gạch. Nền kinh tế thị trường bắt đầu, người ta lao vào guồng máy kiếm tiền như con thiêu thân, tham vọng của từng cá nhân đều là cái thùng không đáy.

2. Khi tư duy lý trí không mạnh, ăn nói ví von là cách tốt nhất để diễn tả. Ví von luôn gắn với đời sống vật chất cụ thể và các trạng thái tâm sinh lý. Ôi dào, dậu đổ bìm leo, nhà em có gì, toàn chổi cùn rế rách, kẻ cắp bà già gặp nhau, sâu bọ lên làm người, chó cắn áo rách hay hớm gì, miệng nam mô bụng một bồ dao găm, tâm xà khẩu Phật, mật ngọt chết ruồi... Trên cơ sở này ca dao dân ca cũng dùng toàn ví von so sánh: Ước gì anh hóa ra dưa / Để anh được tắm nước mưa chậu đồng; Ước gì sông rộng tầy gang / Bắc cầu giải yếm cho chàng sang chơi; Một vung một chĩnh chẳng mong / Một vung hai chĩnh còn nong tay vào; Chồng người đánh giặc sông Lô / Chồng em ngồi bếp rang ngô cháy quần; Chồng người buôn ngược bán xuôi / Chồng em ngồi bếp để buồi chấm gio... Như vậy nếu tìm trong kho tàng văn học truyền miệng Viêt Nam cũng đủ hết những hình thức vật chất thường dụng. Đồ dùng do con người chế tạo, sử dụng hàng ngày, các trạng thái của nó phản ánh các trạng thái tinh thần. Ví dụ: lợn cưới áo mới (đồ tốt), chổi cùn rế rách (đồ tồi), già được bát canh, trẻ được manh áo mới (khát vọng), nhẵn như cầu hàng thịt (sự thớ lợ, trơ trẽn).
Nhà thơ Nguyễn Khuyến viết:
Đã bấy lâu nay bác đến nhà,
Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa.
Ao sâu nước cả khôn chài cá,
Vườn rộng rào thưa khó đuổi gà.
Cải chửa ra cây, cà mới nụ,
Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.
Đầu trò nói chuyện trầu không có,
Bác đến chơi nhà, ta với ta.
Một khung cảnh rất đặc trưng cho căn nhà người nông dân, có đủ ao cá, gà qué, vườn rau, cải, bầu, cà, mướp, và trầu cau, nhưng cuối cùng là chẳng có gì ngoài tình người.
Tiếng Việt từng được thử thách với tiếng Hán trong một quá trình lịch sử lâu dài. Cách chúng ta một ngàn ba trăm năm, mà Lý Bạch, Đỗ Phủ đã viết hàng ngàn bài thơ tinh tế về nhân gian thế sự và tình cảm của con người đủ mọi trạng thái góc độ. Cũng thời gian đó, người Việt không thể nào mà dùng tiếng Việt diễn tả như vậy được, và thực ra tất cả các thứ tiếng khác trên đời lúc đó cũng thế. Ta có thể thấy điều đó trong văn học Trung cổ phương Tây. Muốn diễn đạt sâu sắc điều gì, nhà Nho Việt lại phải dùng Hán văn. Tám trăm năm sau Lý Đỗ, Nguyễn Trãi làm thơ Nôm thế này: Góc thành Nam, lều một gian / Bụt chẳng phải, ở chẳng phải / Bà ngựa gầy thiếu kẻ chăn. Ba trăm năm sau Nguyễn Trãi, đến Hồ Xuân Hương tiếng Việt đã trở nên tinh vi sinh động ngóc ngách lạ thường: Trời đất sinh ra có một vòm / Nứt ra một lỗ hỏm hòm hom. Nhưng cái khí vị nửa Nôm nửa Hán vẫn còn phảng phất cho đến Bà huyện Thanh Quan: Trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn / Tiếng mõ xa đưa tiếng ốc dồn / Gác mái ngư ông về viễn phố / Gõ sừng mục tử lại cô thôn.
Tôi tin chắc rằng cái rổ, cái rá hoàn toàn do người Việt làm ra không nhất thiết phải học người Trung Quốc và từ rổ rá cũng hoàn toàn thuần Việt. Nhưng tôi lại thất vọng vô cùng khi biết cái khố lại là một từ Hán, chỉ cái quần ngắn, chả lẽ không có người Trung Quốc thì người Việt cởi truồng, khi mà xưa kia rất nhiều người Việt chỉ có độc cái khố che bộ hạ. Tại sao chúng ta lạ nói là bông hoa, khi bông chính là hoa trong tiếng Hán. Người Việt nói rằng đâm bông kết trái, học tiếng Hán, ta nói rằng đơm hoa kết quả, bông trái ta có thể nói là hoa quả. Quá trình này tất nhiên không thiệt gì, mà tiếng Việt lại thêm phong phú và sinh động gấp bội. Tiếng Hán đã có mặt trong tiếng Việt tới 60 %, có thể chỉ là lượng từ, nhưng nó đã vào như thế nào và nó làm thay đổi hay phong phú thêm tâm hồn của người Việt như thế nào, chúng ta cũng thường không để ý. Ở một số tỉnh miền nam Trung Quốc như Quảng Đông, Triết Giang, Phúc Kiến, nhiều từ gốc Hán được phát âm không khác gì tiếng Việt phát âm. Ví dụ chu sa, xạ kích, mục tiêu, mục lục... Trong khi đó tiếng Hà Bắc (Bắc Kinh) ngày nay là khác hẳn. Tất nhiên người Việt không thể nói chuyện thẳng với người Quảng Đông bằng tiếng Hán Việt và ngược lại, nhưng chắc chắn trong lịch sử có lúc ngôn ngữ vùng phía nam sông Dương Tử rất gần gũi với ngôn ngữ Việt. Ở Hồng Kông tôi đi khắc một con dấu cho họa sỹ Trương Hạnh, tôi nói với ông thợ rằng khắc cho tôi con dấu tên Zhangxing, ông ta bảo tôi viết ra, rồi đọc nguyên văn là Trương Hạnh. Âm Hán Việt nhuần nhuyễn với nhau trong hai ngàn năm qua làm cho tiếng Việt trở nên lóng lánh uyển nhã lạ thường. Ví như ta đọc thơ Đường bằng âm Hán Việt là hay vô cùng, đến mức Lý Bạch, Đỗ Phủ chắc phải trầm trồ sao thơ mình lại có thể uyển chuyển đến thế. Đại loại:
Bất hướng Đông sơn cửu
Tường vi kỷ độ hoa
Bạch vân hoàn tự tán
Minh nguyệt lạc thùy gia

(Núi Đông lâu không về
Tường vi hoa mấy độ
Mây trắng tan ra mãi
Trăng sáng lọt nhà ai)
Từ đây các nhà thơ Việt Nam có thể làm:
Lởn nhởn mấy hàng tỏi
Lơ thơ mấy nhánh khương
Vẻ chi là cảnh mọn
Thế mà cũng tang thương
(Nguyễn Gia Thiều)
Đỗ Phủ viết Vô biên lạc diệp tiêu tiêu hạ / Bất tận Trường Giang cổn cổn lai. (Vô hạn lá rơi ào ào rụng / Chẩy mãi Trường Giang lớp lớp dồn). Nguyễn Khuyến viết Hoạn đào chỉ dĩ khinh tâm trạo / Lợi trục thời thường lãnh nhãn khan (Bể hoạn chỉ nên chèo với lòng nương nhẹ / Cuộc lợi lộc nhìn với con mắt lạnh lùng). Bà huyện Thanh Quan viết Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo / Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.
Ở thế kỷ 15, trong văn bản Cổ châu lục chùa Dâu, nhà sư Khâu đà la nói với đệ tử Man Nương rằng: Mày ở trong phép của tao. Nếu diễn đạt đúng tiếng nói của chúng ta ngày nay phải thế này: Đệ tử, cô đang theo học đạo của thầy. Chúng ta nhận ra một điều khác, có thời người Việt cũng dùng phổ biến hai ngôi mày và tao thôi, nhưng rồi một quá trình gia đình hóa xã hội nào đó đã diễn ra, người Việt bê toàn bộ danh từ chỉ ngôi thứ trong gia đình làm đại từ nhân xưng ngoài đường, từ đây ta phải gọi người xung quanh ta là cụ, ông, bà, bác, chú, dì, anh, chị... một cách phiền toái nhất trên đời. Thế nhưng khi Đặng Trần Côn viết: Tương cố bất tương kiến / Thanh thanh mạch thượng tang / Mạch thượng tang, Mạch thượng tang / Thiếp ý quân tâm thùy đoạn tràng, mà Đoàn Thị Điểm dịch là: Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy / Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu / Ngàn dâu xanh ngắt một mầu / Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai, lại chẳng tuyệt vời khi chúng ta có cả hai thứ tiếng hay sao. Có những lúc tiếng Hán gần tiếng Việt đến lạ lùng, ví dụ: Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất bất năng khuất (Mạnh Tử). Được dịch là: Giầu sang không quyến rũ, nghèo khó không chuyển lay, uy vũ không khuất phục, có khác nào một sự chuyển tiếp giản đơn.

3. Tiếng Việt là một ngôn ngữ ý tượng hay cảm giác còn chưa chắc chắn. Tay cầm bán nguyệt xênh xang, bán nguyệt ở đây có thể hiểu là cái liềm, cái hái, nhưng cũng không hẳn như thế, cô gái này đung đưa với mặt trăng lưỡi liềm trong tay, cô cầm cái nón mà ta chỉ trông thấy một nửa, hay cô chẳng cầm gì cả, mà cổ tay, cánh tay tròn lẳn trắng ngà như mặt nguyệt. Rõ ràng mọi thứ không chính xác, không nhất quyết bề nào, đó chính là tiếng Việt. Một thứ tiếng không chính xác, khi nói không xác định được thì, và hành động kết thúc hay chưa, hay còn tiếp diễn, chủ ngữ là ai, ai nói với ai... Được bù lại, nó lại là ngôn ngữ rất văn chương và có chất thơ. Nó đòi hỏi ta phải cảm nhận, thay vì nhận biết một thông tin gì. Người Việt nói chuyện với nhau hàng ngày nhưng nghe kỹ nội dung rất vu vơ, chẳng ra đâu vào đâu, đụng đến việc cụ thể là giải thích hàng tràng dài mà càng không chính xác.
Đêm qua ngồi tựa song đào
Hỏi người quân tử ra vào có thấy vấn vương
Đêm qua gió lạnh đông trường
Nửa chăn nửa chiếu mà nửa giường để đó đợi ai
Tay du ngắt nhụy hoa nhài
Tay giơ đón gió, tay chòi ghẹo trăng
Rủi may cũng bởi chị hằng.
(Ca dao và Quan họ Bắc Ninh)
Thật chẳng có gì cụ thể, nhưng đầy những thông tin người tình trong lời ca rất đẹp. Cô gái không thể nói ra, không thể bày tỏ trước, nhưng chàng cứ quan sát, cảm nhận, còn mọi chuyện có tốt hay không còn phụ thuộc vào số phận. Nhưng nếu ta hỏi đáp với một người: Mày đi đâu đấy? Tao đi đằng này. Việc có tốt không? Cũng hòm hòm? Kiếm được nhiều không? Cũng tàm tạm. Con cái thế nào? Có giời lo. Chuyện ruộng làng ta thế nào? À lý trưởng còn hỏi quan trên, quan trên lại phải tâu lên đức kim thượng. Chiều nay có khao ở đình? Ờ có lẽ, rỗi thì ra. Đã lấy mạ chưa? Đã gieo đéo đâu mà nhổ... Rất nhiều thông tin, cũng như chẳng có gì. Cách ăn nói này của người Việt cho đến nay chẳng thay đổi là mấy, thậm chí nó còn ngày càng vu vơ và trừu tượng hơn, do công việc luôn khúc mắc với nhiều hủ tục hành chính rườm rà, dù người Việt đã và đang học tiếng Pháp, tiếng Anh hàng ngày. Tư duy và tâm hồn của một tộc người có cái gì đó cố hữu dù nói tiếng gì cũng vậy thôi.
Lời ăn tiếng nói xuất phát từ hoàn cảnh lao động cụ thể. Bước vào một xã hội nông nghiệp, người nông dân biết mình phải làm gì với thời vụ và ruộng đồng. Tháng giêng trồng khoai, tháng hai trồng đậu, tháng ba trồng cà, tháng tư cầy vỡ ruộng ra... cứ thế với xuân hạ thu đông, rồi lại xuân hạ thu đông, ông vua này hay ông vua kia, ông quan này hay ông quan kia, thì nhà nông vẫn một nắng hai sương trên đồng. Chuyện đồng áng họ bàn bạc rất cụ thể và hoàn toàn tin vào kinh nghiệm của mình chứ không nghe theo nhà Nho nào cả. Triều đình sẽ thu thuế đinh và thuế điền thông qua bộ máy lý dịch ở làng, tốt nhất là không sưu cao thuế nặng. Như vậy cuộc sống tự hình thành hai lối ăn nói, một đằng rất cụ thể với lao động sản xuất nông nghiệp và một đằng rất cao siêu với đạo lý của Nho giáo. Trong trường hợp họ cần đến lý thuyết Nho Lão Phật mà khó hiểu thì sẽ tìm cách dân gian hóa tam giáo ấy. Cho nên các học giả nhận định rằng: Nho giáo vào Việt Nam thì biến thành luân thường lễ nghĩa, Phật giáo vào Việt Nam thì biến thành mê tín dị đoan. Nói Phật là giác ngộ thì cao siêu quá, tốt nhất là Phật có nhiều mắt nhiều tay, nhiều quyền năng phép lạ, cứu vớt và phù hộ chúng sinh. Âm dương bát quái của Đạo giáo cũng trừu tượng nốt, nên vẽ lên cái gương treo trước cửa nhà để trừ tà ma.
Lịch sử chế độ quan liêu Việt Nam là lịch sử của bọn ăn không ngồi rồi, không bao giờ dám chịu trách nhiệm một cái gì, việc nào có đút lót thì sốt sắng, việc nào khó thì đùn lên quan trên, quan trên thì đùn lên quan trên nữa, quan trên nữa thì đùn lên vua. Ông vua sẽ phải bàn bạc từ chuyện ăn mày ăn xin, đê điều, giống má, thuế khóa đổ đi, dù có đủ các quan chức trách. Quá trình hành chính này sinh ra cách ăn nói vu vơ, không chết ai, không được việc gì, đầy sự cảm thông, cũng như đầy sự vô trách nhiệm. Kết thúc là sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi. Dư luận xã hội thì không bao giờ được coi trọng và trở thành nghị sự trong triều đình, nên biến thành chuyện tiếu lâm và hò vè chế riễu, mặt khác lại có khả năng chụp mũ giết người không dao bằng các lời đồn thổi. Cuối cùng là để cười, vui vui ấy mà, cũng nhì nhằng thôi, lo chi chuyện trời sập, kệ mẹ nó nói mãi cũng thế, ai có thân người ấy lo, việc quan đâu đến đàn bà trẻ con, ôi dào bói ra ma quét nhà ra rác, số nó giầu có cho nó giầu, nhà mình bạc phúc còn kêu ai, chết ngay đâu mà phải sợ, có phải nhịn bữa nào đâu mà kêu lắm thế, cho ông làm quan cũng vậy thôi, độc mồm độc miệng vừa phải còn để phúc đức về sau, con gà tức nhau tiếng gáy làm gì, của đi thay người, của thiên trả địa, rồi sẽ có quả báo nhãn tiền... Khi tất cả cách nói năng trên còn chưa tắt trên mồm người Việt tức là nền hành chính còn có vấn đề.

2010