Thứ Ba, 7 tháng 2, 2012

THÔNG ĐIỆP LIÊN BANG 2012 CỦA TỔNG THỐNG BARACK OBAMA

Xem thêm: Thông điệp liên bang của Tổng thống Obama 2011


Tài liệu tham khảo đặc biệt của TTXVN (Hà Nội 4/2)


Đồi Capitol, Washington D.C, 24/1/2012

Thưa ngài Chủ tịch Hạ viện, thưa ngài Phó Tổng thống, thưa các nghị sĩ Quốc hội, các vị khách quý và toàn thể đồng bào Mỹ:

Tháng trước, tôi đã tới Căn cứ Không quân Andrews và chào đón một số binh lính cuối cùng của chúng ta phục vụ tại Irắc trở về. Chúng tôi đã cùng nhau cử hành một lễ chào cờ cuối cùng, đáng tự hào mà dưới ngọn cờ đó hơn một triệu đồng bào của chúng ta đã chiến đấu – và vài nghìn người đã hy sinh tính mạng của họ.

Chúng ta tụ họp tối nay biết rằng thế hệ những người anh hùng này đã làm cho nước Mỹ an toàn hơn và được tôn trọng hơn trên toàn thế giới. Lần đầu tiên trong vòng 9 năm, không còn một người Mỹ nào chiến đấu ở Irắc. Lần đầu tiên trong hai thập kỷ qua, Osama bin Laden không phải là một mối đe dọa cho đất nước này. Phần lớn những chỉ huy cấp cao của Al Qaeda đã bị đánh bại. Động lực của Taliban đã bị phá vỡ, và một số binh lính ở Ápganixtan đã bắt đầu trở về nhà.

Những thành tựu này là một minh chứng cho lòng dũng cảm, sự quên mình và tinh thần đồng đội của Các lực lượng Vũ trang Mỹ. Vào thời điểm khi quá nhiều các thể chế của chúng ta làm chúng ta thất vọng, họ đã vượt mọi trông đợi. Họ không bị hao mòn bởi tham vọng cá nhân. Họ không bị ám ảnh về những khác biệt của họ. Họ tập trung vào sứ mệnh sắp tới. Họ làm việc cùng với nhau.

Hãy tưởng tượng chúng ta có thể thực hiện những gì nếu chúng ta noi theo tấm gương của họ. Hãy suy nghĩ về nước Mỹ trong tầm tay của chúng ta: Một đất nước đi đầu thế giới trong việc giáo dục người dân của mình. Một nước Mỹ thu hút một thế hệ mới những công việc sản xuất công nghệ cao và được trả lương cao. Một tương lai mà chúng ta có thể kiểm soát năng lượng của chính chúng ta, và an ninh và sự thịnh vượng của chúng ta không ràng buộc đến như vậy vào những phần bất ổn của thế giới. Một nền kinh tế bền vững, nơi mà làm việc chăm chỉ đem lại kết quả, và trách nhiệm được khen thưởng.

Chúng ta có thể làm được điều này. Tôi biết chúng ta có thể, bởi vì trước đây chúng ta đã từng làm được như vậy. Vào cuối Chiến tranh Thế giới thứ Hai, khi một thế hệ những người anh hùng khác chiến đấu trở về, họ đã xây dựng nên nền kinh tế và tầng lớp trung lưu hùng mạnh nhất mà thế giới từng biết đến. Ông của tôi, một cựu chiến binh trong Quân đội của Patton, đã có cơ hội học đại học theo đạo luật GI Bill. Bà của tôi, người làm việc trong một dây chuyền lắp ráp máy bay ném bom, là thành viên của một lực lượng lao động sản xuất ra những sản phẩm tốt nhất trên Trái đất.

Hai người họ đều có chung sự lạc quan về một quốc gia đã chiến thắng một cuộc suy thoái và chủ nghĩa phát xít. Họ hiểu rằng họ là một phần của một thứ gì đó lớn lao hơn, rằng họ đang đóng góp cho một câu chuyện thành công mà mỗi người Mỹ có một cơ hội để chia sẻ – lời hứa cơ bản của nước Mỹ rằng nếu bạn làm việc chăm chỉ, bạn có thể làm tốt đủ để nuôi gia đình, sở hữu một ngôi nhà, cho con cái học đại học, và để dành được một chút khi nghỉ hưu.

Vấn đề rõ ràng của thời đại chúng ta là làm thế nào đế giữ cho lời hứa đó có giá trị mãi mãi. Không có thách thức nào cấp bách hơn. Không có cuộc tranh luận nào quan trọng hơn. Chúng ta có thể hoặc ổn định một đất nước mà ở đó số người làm thực sự tốt đang giảm đi trong khi số người Mỹ chỉ xoay xở vừa đu ngày càng tăng, hoặc chúng ta có thể khôi phục lại một nền kinh tế mà ở đó tất cả mọi người đều có cơ hội như nhau, và tất cả mọi người đóng góp như nhau, và tất cả mọi người cùng tuân theo một loạt những quy tắc như nhau. Thứ đang bị lâm nguy không phải là những giá trị của đảng Dân chủ hay những giá trị của đảng Cộng hòa, mà là những giá trị của nước Mỹ. Và chúng ta phải giành lại chúng.

Hãy ghi nhớ làm thế nào chúng ta có mặt ở đây. Từ lâu trước cuộc suy thoái, công ăn việc làm và việc sản xuất đã bắt đầu rời khỏi đất nước chúng ta. Công nghệ đã khiến cho các doanh nghiệp có hiệu quả hơn, nhưng cũng khiến một số việc làm trở nên lỗi thời. Những người ở cấp cao thấy thu nhập của họ tăng lên hơn bao giờ hết, nhưng hầu hết người Mỹ chăm chỉ đã phải vật lộn với chi phí ngày càng tăng, tiền lương thì không tăng, và nợ cá nhân vẫn cứ chồng chất.

Trong năm 2008, kế hoạch bấp bênh đã sụp đổ. Chúng ta biết được rằng các khoản thế chấp đã được bán cho những người không có đủ kha năng chi trả hoặc hiểu chúng. Các ngân hàng đã đặt cược lớn và thưởng bằng tiền của người khác. Các-nhà quản lý đã ngoảnh mặt làm ngơ, hoặc không có thẩm quyền để ngăn chặn hành vi xấu.

Điều đó là sai trái. Điều đó là vô trách nhiệm Và nó đã đẩy nền kinh tế của chúng ta vào một cuộc khủng hoảng khiến hàng triệu người mất việc làm, chất thêm gánh nặng nợ nần cho chúng ta, và khiến những người Mỹ vô tội, chăm chỉ gặp khó khăn. Trong 6 tháng trước khi tôi nhậm chức, chúng ta đã mất gần 4 triệu công ăn việc làm. Và chúng ta đã mất thêm 4 triệu công ăn việc làm nữa trước khi các chính sách của chúng ta hoàn toàn có hiệu lực.

Những điều đó là thực tế. Nhưng đây cũng là thực tế: Trong 22 tháng qua, các doanh nghiệp đã tạo ra hơn 3 triệu công ăn việc làm.

Năm ngoái, họ đã tạo ra nhiều công ăn việc làm nhất kể từ năm 2005. Các nhà sản xuất Mỹ đang thuê nhân công trở lại, lần đầu tiên tạo ra công ăn việc làm kể từ cuối những năm 1990. Cùng với nhau, chúng ta đã nhất trí cắt giảm thâm hụt hơn 2 nghìn tỷ USD. Và chúng ta đã đặt ra các quy tắc mới để buộc Phố Uôn phải chịu trách nhiệm, để một cuộc khủng hoảng như thế này sẽ không bao giờ xảy ra lần nữa.

Tình trạng liên bang của chúng ta đang ngày càng mạnh mẽ hơn. Và chúng ta đã đi quá xa để có thể quay trở lại lúc này. Chừng nào tôi còn là tổng thống, tôi sẽ cộng tác với bất cứ ai trong căn phòng này đế xây dựng cái đà này. Nhưng tôi có ý định chống lại trở ngại bằng hành động, và trước, hết tôi sẽ phản đối bất kỳ nỗ lực nào nhằm quay lại với đúng những chính sách đã mang đến cuộc khủng hoảng kinh tế này.

Không, chúng ta sẽ không quay trở lại một nền kinh tế bị suy yếu bởi thuê nhân công bên ngoài, nợ xấu, và lợi nhuận tài chính giả mạo. Tối nay, tôi muốn nói về cách chúng ta tiến về phía trước, và đặt ra một kế hoạch chi tiết cho một nền kinh tế bền vững – một nền kinh tế dựa vào ngành sản xuất của Mỹ, năng lượng của Mỹ, những kỹ năng cho người lao động Mỹ, và một sự khôi phục lại những giá trị Mỹ. Hiện nay, kế hoạch chi tiết này này bắt đầu với ngành sản xuất của Mỹ.

Vào ngày tôi nhậm chức, ngành công nghiệp ôtô của chúng ta đang ở bên bờ vực sụp đổ. Một số người thậm chí còn nói rằng chúng ta nên để cho nó sụp đổ. Với một triệu công ăn việc làm bị đe dọa, tôi đã không đồng ý để cho điều đó xảy ra. Để đổi lấy sự giúp đỡ, chúng ta đòi hỏi trách nhiệm. Chúng ta đã dàn xếp những bất đồng giữa người lao động và các nhà sản xuất ôtô. Chúng ta đã tái trang bị và tái cơ cấu ngành công nghiệp này. Hiện nay, General Motors trở lại vị trí hàng đầu với tư cách nhà sản xuất ôtô số một thế giới. Chrysler đã phát triển ở Mỹ nhanh hơn bất kỳ công ty xe hơi lớn nào. Ford đang đầu tư hàng tỷ -USD vào các cơ sở và nhà máy của Mỹ. Và cùng với nhau, toàn bộ ngành công nghiệp này bổ sung thêm gần 160.000 công ăn việc làm.

“Chúng ta đặt cược vào những người lao động Mỹ. Chúng ta đặt cược vào sự khéo léo của Mỹ. Và tối nay, ngành công nghiệp ôtô của Mỹ đã trở lại.

Những gi đang diễn ra ở Detroit có thể diễn ra trong các ngành công nghiệp khác. Nó có thể xảy ra ở Cleveland, Pittsburgh và Raleigh. Chúng ta không thể mang trở lại tất cả những công ăn việc làm dã rời khỏi đất nước chúng ta. Nhưng ngay bây giờ, ngày càng tốn kém hơn khi: kinh doanh ở những nơi như Trung Quốc. Trong khi đó, nước Mỹ lại hiệu quả hơn. Một vài tuần trước đây, Giám đốc điều hành của Master Lock đã nói với tôi rằng điều hiện có ý nghĩa kinh doanh đối với ông ấy là đem công ăn việc làm về nước. Hiện nay, lần đầu tiên trong vòng 15 năm, tổ hợp nhà máy cua Master Lock ờ Milwaukee đang chạy hết công suất.

Như vậy tại thời điểm này, chúng ta có một cơ hội rất lớn để đưa ngành sản xuất trở lại. Nhưng chúng ta phải nắm bắt nó. Tối nay, thông điệp của tôi dành cho các nhà lãnh đạo doanh nghiệp rất đơn giản: Hãy tự hỏi các bạn có thể làm những gì để đưa công ăn việc làm trở lại đất nựớc mình, và đất nước các bạn sẽ làm tất cả mọi điều chúng ta có thể để giúp các bạn thành công.

Chúng ta nên bắt đầu với bộ luật thuế của chúng ta. Hiện tại, các công ty được miễn giảm thuế cho việc chuyển công ăn việc làm và lợi nhuận ra nước ngoài. Trong khi đó, các công ty chọn ở lại Mỹ bị đánh một trong những mức thuế cao nhất thế giới. Điều đó thật vô nghĩa, và tất cả mọi người biết điều đó. Vì vậy, hãy thay đổi nó.

Thứ nhất, nếu bạn là một doanh nghiệp muốn đi thuê nhân công bên ngoài làm việc, bạn không nên được hưởng khấu trừ thuế để làm việc dó số tiền đó nên được sử dụng để trang trải chi phí di chuyển cho các công ty như Master Lock mà quyết định đưa công ăn việc làm trở lại đất nước này.

Thứ hai, không có công ty Mỹ nào có thể tránh được việc phải trả phần tiền thuế như nhau bằng cách chuyển công ăn việc làm và lợi nhuận ra nước ngoài. Từ giờ trở đi, mỗi công ty đa quốc gia cần phải trả tiền thuế tối thiểu cơ bản. Và mỗi xu nên được sử dụng theo hướng giảm thuế cho các công ty lựa chọn ở lại đây và thuê nhân công ở đây tại Mỹ.

Thứ ba, nếu bạn là một nhà sản xuất của Mỹ, bạn sẽ được cắt giảm thuế nhiều hơn. Nếu bạn là một nhà sản xuất công nghệ cao, chúng ta nên tăng gấp đôi khoản khấu trừ thuế mà bạn nhận được vì chế tạo các sản phẩm của bạn ở đây. Và nếu bạn muốn lại chuyên về trong một cộng đồng, vốn bị tác động nặng nề khi một nhà máy rời khỏi thị trấn, bạn sẽ nhận được sự giúp đỡ tài trợ cho một nhà máy mới, thiết bị, hay đào tạo cho những người lao động mới.

Như vậy, thông điệp của tôi rất đơn giản. Đã đến lúc ngừng tán thưởng các doanh nghiệp đưa công ăn việc làm ra nước ngoài, và bắt đầu tán thưởng các công ty tạo công ăn việc làm ngay tại đây ở nước Mỹ. Hãy gửi cho tôi những cải cách thuế này, và tôi sẽ ký chúng ngay lập tức.

Chúng ta cũng đang tạo điều kiện dễ dàng hơn cho các doanh nghiệp Mỹ bán sản phẩm trên toàn thế giới. Hai năm trước, tôi đặt ra mục tiêu tăng gấp đôi xuất khẩu của Mỹ trong vòng 5 năm. Với các hiệp định thương mại được hai đảng nhất trí mà chúng ta đã ký thành luật, chúng ta đang trên lộ trình đạt được mục tiêu đó trước thời hạn. Và sẽ sớm có hàng triệu khách hàng mới cho hàng hóa của Mỹ tại Panama, Colombia, và Hàn Quốc. Sẽ sớm có những chiếc xe ôtô mới trên đường phố Xơun nhập khấu từ Detroit, và Toledo, và Chicago.

Tôi sẽ đi đến bất cứ nơi nào trên thế giới để mở các thị trường mới cho sản phẩm của Mỹ. Và tôi sẽ không đứng yên khi các đối thủ cạnh tranh của chúng ta không chơi đúng luật. Chúng ta đã có các vụ kiện thương mại chống lại Trung Quốc với tỷ lệ gần gấp đôi so với chính quyền trước – và nó đã tạo ra một sự khác biệt. Hơn một nghìn người Mỹ đang làm việc ngày hôm nay bởi chúng ta đã ngăn chặn sự tràn lan của lốp xe Trung Quốc. Nhưng chúng ta cần phải làm nhiều hơn nữa. Không phải là điều đúng đắn khi một nước khác để cho phim ảnh, âm nhạc, và phần mềm của chúng ta bị vi phạm bản quyền. Thật không công bằng khi các nhà sản xuất nước ngoài có lợi thế hơn chúng ta chỉ vì họ được trợ cấp nhiều.
Tối nay, tôi công bố thành lập một Đơn vị Thực thi Thương mại sẽ chịu trách nhiệm điều tra các hoạt động kinh doanh gian lận ở những nước như Trung Quốc. Sẽ có nhiều hơn những sự kiểm duyệt để ngăn không cho hàng, hóa giả hoặc không an toàn qua biên giới của chúng ta. Và Quốc hội này cần đảm bảo rằng không công ty nước ngoài nào có lợi thế hơn ngành sản xuất của Mỹ khi tiếp cận sự tài trợ hoặc các thị trường mới như Nga. Người lao động của chúng ta có hiệu quả nhất trên Trái đất, và nếu sân chơi ngang bằng, tôi xin hứa với các bạn – nước Mỹ sẽ luôn giành chiến thắng.

Tôi cũng nghe nói nhiều lãnh đạo doanh nghiệp muốn thuê nhân công tại Mỹ nhưng không thể tìm được người lao động với các kỹ năng thích hợp. Các ngành công nghiệp phát triển về khoa học và công nghệ có những vị trí trống nhiều gấp đôi số người lao động chúng ta có mà có thẻ làm được-việc. Hãy suy nghĩ về điều đó – các vị trí trống tại một thời điểm khi mà hàng triệu người Mỹ đang tìm kiếm công ăn việc làm. Đó là điều không thể bào chữa được. Và chúng ta biết làm thế nào để sửa chữa nó.

Jackie Bray là một người mẹ độc thân đến từ Bắc Carolina đã bị mất công việc thợ cơ khí của mình. Sau đó, hãng Siemens đã mở một nhà máy tuabin khí ở Charlotte, và thiết lập quan hệ đối tác với Đại học Cộng đồng Trung tâm Piedmont(1). Công ty đã giúp trường đại học này thiết kế các khóa học về đào tạo lade và robot. Công ty đã trả tiền học phí cho Jackie, sau đó thuê cô giúp vận hành nhà máy của họ.

Tôi muốn mọi người Mỹ đang tìm việc làm có được cơ hội giống như Jackie đã có. Hãy cùng tôi tham gia vào một cam kết quốc gia để đào tạo 2 triệu ngưòi Mỹ với những kỹ năng sẽ trực tiếp dẫn đến có một việc làm. Chính quyền của tôi đã thu xếp thêm nhiều công ty muốn giúp đỡ. Những mối quan hệ đối tác kiểu mẫu giữa các doanh nghiệp như Siemens và các trường đại học cộng đồng ở những nơi như Charlotte, và Orlando, và Louisville đang tăng lên và vận hành. Hiện nay, người ta cần phải cung cấp thêm cho các trường đại học cộng đồng các nguồn lực mà họ cần để trở thành những trung tâm nghề nghiệp cộng đồng – những nơi dạy con người các kỹ năng mà các doanh nghiệp đang tìm kiếm ngay lúc này, từ quản lý dữ liệu tới sản xuất công nghệ cao.

Và tôi muốn mở ra một lối đi trong mê cung của các chương trình đào tạo rối rắm, để từ giờ trở đi, những người như Jackie có một chương trình, một trang web, và một nơi đến để gõ được tất cả các thông tin và sự giúp đỡ mà họ cần. Đã đến lúc biến hệ thống thất nghiệp của chúng ta thành một hệ thống làm việc trở lại mà đưa mọi người đến với công việc.

Những cải cách này sẽ giúp người dân có được những việc làm đang để trống ngày hôm nay. Nhưng để chuẩn bị cho các công việc của ngày mai, cam kết của chúng ta về các kỹ năng và giáo dục phải bắt đầu sớm hơn. Với chưa đầy 1% những gì quốc gia chúng ta chi cho giáo dục mỗi năm, chúng ta đã thuyết phục gần như tất cả các bang trên đất nước này nâng cao tiêu chuẩn giảng dạy và học tập của họ – lần đầu tiên điều đó đã xảy ra trong một thế hệ.

Nhưng thách thức vẫn còn tồn tại. Và chúng ta biết phải làm thế nào để giải quyết chúng.

Vào một thời điểm khi các nước khác đang tăng cường cho giáo dục, việc thắt chặt ngân sách đã buộc các bang phải sa thải hàng nghìn giáo viên. Chúng ta biết một giáo viên giỏi có thể tăng thu nhập suốt đời của một lớp học vào khoảng trên 250.000 USD. Một giáo viên xuất sắc có thể làm cho một đứa trẻ mơ ước vượt qua hoàn cảnh của mình thoát khỏi cảnh nghèo khổ. Mọi người trong căn phòng này có thể chỉ ra một giáo viên đã thay đổi đường hướng cuộc sống của họ. Hầu hết các giáo viên làm việc không mệt mỏi, với mức lương khiêm tốn, đôi khi phải bỏ tiền túi của mình ra để giúp cho nhà trường – chỉ để tạo ra một sự khác biệt.

Những người giáo viên có vai trò quan trọng. Vì vậy thay vì đối xử thô bạo với họ, hay bảo vệ nguyên trạng, hãy đưa ra cho các trường học một thỏa thuận. Dành cho họ các nguồn tài lực để giữ chân các giáo viên giỏi tiếp tục theo nghề, và thưởng công cho những giáo viên giỏi nhất. Và đáp lại, cho phép các trường học được linh hoạt: dạy học với sự sáng tạo và say mê; chấm dứt dạy thử nghiệm; và thay thế những giáo viên không giúp đỡ trẻ em học hành. Đó là một sự mà cả đáng làm.

Chúng ta cũng biết rằng khi sinh viên không từ bỏ việc học hành của họ, thêm nhiều người trong số họ bước lên bục để nhận bằng cử nhân của mình. Khi sinh viên không được phép bỏ học, họ học tập tốt hơn. Vì vậy tối nay, tôi đề nghị mỗi bang – mỗi bang – yêu cầu tất cả các học sinh ở lại trường trung học cho đến khi họ tốt nghiệp hoặc đến năm 18 tuổi.

Khi trẻ em tốt nghiệp trung học, thách thức làm nản lòng nhất có thể là chi phí học đại học. Vào thời điểm khi người Mỹ chịu món nợ học phí nhiều hơn số tiền nợ trong thẻ tín dụng, Quốc hội này cần chấm dứt việc tăng gấp đôi lãi suất đối với các khoản vay của sinh viên vào tháng 7.

Việc mở rộng giảm thuế học phí mà chúng ta đã bắt đầu đang tiết kiệm hàng nghìn đôla cho hàng triệu gia đình thuộc tầng lớp trung lưu, và tạo thêm cơ hội cho những người trẻ tuổi kiếm tiền học hết đại học bằng cách tăng gấp đôi số việc vừa học vừa làm trong 5 năm tới.

Tất nhiên, đối với chúng ta việc tăng trợ cấp cho sinh viên là chưa đủ. Chúng ta không thể chỉ duy trì việc trợ cấp học phí đang tăng vọt; chúng ta sẽ hết sạch tiền. Các bang cũng cần làm phần việc của mình, bằng cách dành ưu tiên cao hơn cho giáo dục đại học trong ngân sách của họ. Và các trường cao đẳng và đại học phải làm phần việc của mình bằng cách phấn đấu giảm bớt chi phí.

Gần đây, tôi nói chuyện với một nhóm hiệu trưởng các trường cao đẳng những người đã làm đúng như vậy. Một số trường học đã sắp xếp lại các khóa học để giúp sinh viên hoàn thành nhanh hơn. Một số trường sử dụng công nghệ tốt hơn. vấn đề là điều đó có thể thực hiện được. Vì vậy cho phép tôi lưu ý tới các trường cao đẳng và đại học: nếu các quý vị không thể chấm dứt việc tăng học phí, số tiền mà các vị nhận được từ những người đóng thuế sẽ giảm. Giáo dục đại học không thể là sự xa xỉ – đây là một đòi hỏi kinh tế mà mỗi gia đình ở Mỹ cần có khả năng đáp ứng.

Chúng ta cũng hãy nhớ rằng hàng trăm nghìn sinh viên tài năng, học tập chăm chỉ ở đất nước này đối mặt với thách thức khác: thực tế rằng họ chưa hẳn là công dân Mỹ. Nhiều người được đưa đến đây khi còn là những đứa trẻ, hoàn toàn là người Mỹ, tuy nhiên họ sống hàng ngày với mối đe dọa bị trục xuất. Những người khác gần đây hơn đã đến đây học tập về kinh doanh, khoa học và thiết kế công trình, nhưng ngay khi họ nhận bằng tốt nghiệp, chúng ta đưa họ trở về nước để sáng chế các sản phẩm mới và tạo ra những công ăn việc làm mới ở nơi khác.

Điều đó thật vô nghĩa.

Tôi tin tưởng mạnh mẽ hơn bao giờ hết rằng chúng ta nên giải quyết vấn đề nhập cư trái phép. Đó là lý do giải thích tại sao chính quyền của tôi đã giám sát ráo riết hơn bao giờ hết ở biên giới. Đó là lý do tại sao có ít người vượt biên bất hợp pháp hơn khi tôi lên cầm quyền. Những người phản đối hành động là không thể tha thứ được. Chúng ta cần tiến hành cải cách nhập cư toàn diện ngay bây giờ.

Nhưng nếu các hoạt động chính trị trong năm bầu cử này ngăn không cho quốc hội hành động theo một kế hoạch toàn diện, thì ít nhất chúng ta hãy đồng ý chấm dứt việc trục xuất những người trẻ tuối có trách nhiệm muốn làm việc trong các phòng thí nghiệm của chúng ta, khởi đầu các doanh nghiệp mới, bảo vệ đất nước này. Hãy gửi cho tôi một đạo luật tạo cho họ cơ hội để có được tư cách công dân Mỹ. Tôi sẽ ký nó ngay lập tức.

Các quý vị biết đấy, một nền kinh tế được xây dụng để tồn tại lâu dài là một nền kinh tế nơi chúng ta khuyến khích tài năng và kỹ năng của mọi người ở đất nước này. Điều đó có nghĩa là phụ nữ cần được trả lương tương xứng với công việc. Điều đó có nghĩa là chúng ta cần ủng hộ mọi người sẵn sàng làm việc, và mọi người dám chấp nhận rủi ro và mọi chủ doanh nghiệp khao khát trở thành Steve Jobs tiếp theo.

Xét cho cùng, đổi mới là điều mà nước Mỹ luôn quan tâm. Phần lớn công ăn việc làm mới là được tạo ra ở các doanh nghiệp nhỏ và mới khởi sự. Do đó, chúng ta hãy thông qua một chương trình nghị sự giúp họ thành công. Hãy xóa bỏ những quy chế ngăn cản các chủ doanh nghiệp đầy khát vọng nhận được sự tài trợ để phát triển. Hãy mở rộng phạm vi giảm thuế đối với các doanh nghiệp nhỏ đang tăng lương và tạo ra những công ăn việc làm tốt. Cả hai đảng đều đồng ý về những ý tưởng này. Vì vậy hãy đưa chúng vào một dự luật, và đặt nó lên bàn làm việc của tôi trong năm nay.

Sự đổi mới cũng đòi hỏi việc nghiên cứu cơ bản. Hiện nay, nhưng khám phá diễn ra trong các phòng thí nghiệm và các trường đại học được liên bang tài trợ của chúng ta có thể dẫn đến các biện pháp điều trị mới tiêu diệt các tế bào ung thư nhưng không làm tổn thương các tế bào khỏe mạnh. Loại áo giáp nhẹ mới dùng cho cảnh sát và binh lính có thể chống được bât cứ viên đạn nào. Không được loại bỏ những đầu tư này trong ngân sách của chúng ta. Không được để cho các nước khác giành thắng lợi trong cuộc chạy đua giành tương lai. Hãy hỗ trợ cho hình thức tương tự những nghiên cứu và đổi mới đã dẫn đến con chíp máy tính và Internet; dẫn đến những công ăn việc làm mới của Mỹ và các ngành công nghiệp mới của Mỹ.

Và không ở đâu triển vọng đổi mới lại lớn hơn trong lĩnh vực năng lượng do Mỹ sản xuất. Trong 3 năm qua, chúng ta đã khai phá hàng triệu mẫu Anh mới để thăm dò dầu lửa và khí đốt, và tối nay, tôi đang chỉ đạo cho chính quyền của tôi khai phá hơn 75% các nguồn dầu lửa và khí đôt tiềm tàng của chúng ta ở ngoài khơi. Ngay bây giờ – ngay lúc này – sản lượng dầu lửa của Mỹ là cao nhất trong 8 năm qua. Đúng – 8 năm. Không chỉ có vậy – năm ngoái, chúng ta đã dựa ít hơn vào dầu lửa nước ngoài so với bất cứ thời điểm nào trong 16 năm qua. Nhưng với chỉ 2% trữ lượng dầu lửa thế giới, dầu lửa là không đủ. Đất nước này cần có một chiến lược tổng lực, quan trọng hơn hết thảy để phát triển mọi nguồn năng lượng sẵn có của Mỹ. Một chiến lược năng lượng sạch hơn, rẻ hơn, và tạo ra nhiều công ăn việc làm mới.

Chúng ta có một nguồn cung cấp khí đốt tự nhiên có thể đủ cung cấp cho nước Mỹ trong gần 100 năm. Và chính quyền của tôi sẽ tiến hành mọi hành động có thể để phát triển an toàn năng lượng này. Các chuyên gia tin rằng điều này sẽ hỗ trợ cho hơn 600.000 công ăn việc làm vào cuối thập kỷ này. Và tôi yêu cầu tất cả các công ty khoan thăm dò khí đốt ở các khu đất công tuyên bố công khai các hóa chất mà họ sử dụng. Vì Mỹ sẽ phát triển nguồn tài nguyên này mà không đặt sức khỏe và sự an toàn của các công dân của chúng ta vào tình trạng nguy hiểm.

Sự phát triển khí đốt tự nhiên sẽ tạo ra công ăn việc làm và cung cấp năng lượng sạch hơn và rẻ hơn cho các xe tải và các nhà máy chứng tỏ rằng chúng ta không phải lựa chọn giữa môi trường và nền kinh tế của chúng ta. Và theo đó, chính những đồng đôla công chi cho việc nghiên cứu, trong suốt 30 năm qua, đã góp phần phát triển các công nghệ chiết xuất khí đốt tự nhiên từ đá phiến – nhắc nhở chúng ta rằng sự hỗ trợ của chính phủ là mang tính quyết định trong việc giúp đỡ các doanh nghiệp có những ý tưởng mới về năng lượng khởi đầu có hiệu quả.

Hiện nay, những gì đúng đối với khí đốt tự nhiên là đúng đối với năng lượng sạch. Trong 3 năm qua, mối quan hệ đối tác của chúng ta với khu vực tư nhân đã đặt nước Mỹ vào vị trí là nước sản xuất pin công nghệ cao hàng đầu trên thế giới. Vì những đầu tư của liên bang, việc sử dụng năng lượng tái sinh gần như đã tăng gấp đôi, và hàng nghìn người Mỹ có công ăn việc làm vì nó.

Khi Bryan Ritterby bị sa thải khỏi công việc của ông là sản xuất đồ dùng ông nói ông lo lắng rằng ở tuổi 55, không ai cho ông cơ hội lần thứ hai. Nhưng ông đã tìm được việc làm tại Energetx, một nhà máy sản xuất tuốc bin chạy bằng sức gió ở Michigan. Trước cuộc suy thoái, nhà máy này chỉ sản xuất các du thuyền hạng sang. Hiện nay, nhà máy này đang thuê các công nhân như Bryan, ông nói: “Tôi tự hào đang làm việc trong ngành công nghiệp của tương lai”.

Kinh nghiệm của chúng ta về khí đốt từ đá phiến, kinh nghiệm cúa chúng ta về khí đốt tự nhiên, cho chúng ta thấy rằng kết quả về đầu tư công này không phải luôn đến ngay lập tức. Một số công nghệ chưa mang lại kết quả; một số công ty thất bại: Nhưng tôi sẽ không từ bỏ lời hứa về năng lượng sạch. Tôi sẽ không từ bỏ những người lao động như Bryan. Tôi sẽ không nhường lại ngành công nghiệp về sức gió, năng lượng mặt trời, hoặc pin cho Trung Quốc hoặc Đức vì chúng ta từ chối đưa ra cam kết tương tự ở đây.

Chúng ta đã trợ cấp cho các công ty dầu lửa trong một thế kỷ. Thế là quá đủ rồi. Đã đến lúc phải chấm dứt việc lấy tiền của những người đóng thuế cho một ngành công nghiệp hiếm khi mang lại nhiều lợi nhuận cao hơn, và tăng cường cho ngành công nghiệp năng lượng sạch mà chưa bao giờ nhiều hứa hẹn đến thế. Hãy thông qua việc cắt giảm thuế cho năng lượng sạch. Tạo ra những công ăn việc làm này.

Chúng ta cũng có thể khuyến khích đổi mới năng lượng với những khích lệ mới. Những bất đồng trong căn phòng này ngay lúc này có thể quá sâu sắc đến mức chưa thể thông qua một kế hoạch toàn diện ứng phó với sự biến đổi khí hậu. Nhưng không có lý do giải thích tại sao Quốc hội ít nhất lại không đề ra được một chuẩn mực về năng lượng sạch tạo ra một thị trường cho sự đổi mới. Cho đến nay, các quý vị vẫn chưa hành động. Vì vậy, tối nay, tôi sẽ hành động. Tôi đang chỉ thị cho chính quyền của tôi cho phép phát triển năng lượng sạch trên khu vực đất công để cung câp năng lượng cho 3 triệu gia đình. Và tôi tự hào thông báo rằng Bộ Quốc phòng, đang làm việc với chúng ta, người tiêu thụ năng lượng nhiều nhất thế giới, sẽ đưa ra một trong những cam kết lớn nhất về năng lượng sạch trong lịch sử – với việc lực lượng Hải quân mua đủ công suất để cung cấp năng lượng cho một phần tư triệu gia đình mỗi năm.

Tất nhiên, cách dễ dàng nhất để tiết kiệm tiền là giảm bớt tình trạng lãng phí năng lượng. Vì vậy đây là một đề xuât: giúp đỡ các nhà sản xuất loại bỏ tình trạng lãng phí năng lượng trong các nhà máy của họ và khuyến khích các doanh nghiệp nâng cấp các cơ sở của họ. Hóa đơn thanh toán cho năng lượng của họ sẽ thấp hơn 100 tỉ USD trong thập kỷ tới, và Mỹ sẽ giảm bớt tình trạng ô nhiễm, sản xuất nhiều hơn, tạo thêm nhiều công ăn việc làm hơn cho công nhân xây dựng, những người cần công ăn việc làm. Hãy gửi cho tôi một dự luật tạo ra những công ăn việc làm đó.

Việc xây dựng tương lai năng lượng mới này sẽ chỉ là một phần trong chương trình nghị sự rộng rãi hơn để sửa chữa cơ sở hạ tầng của Mỹ. Nước Mỹ rất cần được xây dựng lại rất nhiều. Chúng ta có những con đường và những cây cầu rạn nứt; một mạng lưới điện tiêu hao quá nhiều năng lượng; một mạng lưới băng thông rộng tốc độ cao chưa hoàn chỉnh cản trở một chủ doanh nghiệp nhỏ ở vùng nông thôn Mỹ bán sản phẩm của bà ra khắp thế giới.

Trong cuộc Đại Suy thoái, nước Mỹ đã xây dựng được Đập Hoover và cầu Golden Gate. Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, chúng ta đã nối liền các bang của chúng ta bằng một hệ thống đường cao tôc. Các chính quyền Dân chủ và Cộng hòa đã đầu tư vào các dự án lớn mang lại lợi ích cho mọi người từ những người công nhân xây dựng chúng cho đến các doanh nghiệp vẫn sử dụng chúng hiện nay.

Trong vài tuần tới, tôi sẽ ký một sắc luật bài trừ tệ quan liêu kìm hãm tiến độ của quá nhiều dự án xây dựng. Nhưng các quý vị cần tài trợ cho các dự án này. Hãy lấy số tiền mà chúng ta không còn phải chi phí trong chiến tranh sử dụng một nửa số tiền đó để trả bớt khoản nợ của chúng ta, và sử dụng phần còn lại để tiến hành phần nào việc xây dựng quốc gia ngay tại đất nước này.

Chưa có lúc nào xây dựng tốt hơn lúc này, đặc biệt kể từ khi nganh xây dựng là một trong những ngành gặp khó khăn nhất khi bong bóng nhà đất vỡ tung. Tất nhiên, công nhân xây dựng không phải là những người duy nhất bị phương hại. Cũng bị phương hại là hàng triệu người dân vô tội Mỹ đã nhận thấy những giá trị nhà cửa của họ suy giảm. Và trong khi chính phủ tự mình không thể giải quyết được vấn đề này, các chủ sở hữu nhà có trách nhiệm phải không được ngồi yên và chờ đợi thị trường nhà đất chạm đáy để được giảm nợ phần nào.

Và đó lí do là tại sao tôi đang gửi đến Quốc hội một kế hoạch đem đến cho mỗi chủ sở hữu nhà có trách nhiệm cơ hội để tiết kiệm khoảng 3.000 USD/năm đối với thế chấp của họ, bằng cách tái cấp vốn với những lãi suất thấp lịch sử. Không còn tệ quan liêu. Không còn việc chạy quanh các ngân hàng. Một khoản phí nhỏ đối với các thể chế tài chính lớn nhất sẽ đảm bảo rằng nó sẽ không làm tăng thâm hụt và đem đến cho những ngân hàng được giải cứu bởi người đóng thuế một cơ hội để trả lại một sự thiếu hụt về niềm tin.

Đừng bao giờ quên: Hàng triệu người Mỹ làm việc chăm chỉ và tuân thủ luật pháp mỗi ngày xứng đáng có một chính phủ và một hệ thống tài chính mà cũng hành động như vậy. Đã đến lúc áp dụng những quy tắc tương tự từ trên xuống dưới. Không cứu trợ tài chính, không bố thí, không chối bỏ trách nhiệm. Một nước Mỹ được xây dựng để tồn tại đòi hỏi trách nhiệm từ mọi người.

Chúng ta đều đã phải trả giá vì những người cho vay đã bán các tài sản thế chấp cho những người không có khả năng chi trả, và những người mua biết rằng họ không thể chi trả cho chúng. Đó là lí do tại sao chúng ta cần những quy tắc thông minh để ngăn ngừa cách hành xử thiếu trách nhiệm. Những luật lệ để ngăn ngừa gian lận tài chính hay việc thải chất độc hại hay các thiết bị y tế hỏng hóc – những điều này không phá hủy thị trường tự do. Chúng làm thị trường tự do hoạt động tốt hơn.

Không có việc một số quy tắc đã lỗi thời, không cần thiết hoặc quá tốn kém. Trên thực tế, tôi đã phê chuẩn ít quy tắc hơn trong 3 năm đầu nhiệm kỳ của tôi so với người tiền nhiệm Cộng hòa. Tôi đã ra lệnh cho tất cả các cơ quan liên bang loại trừ các luật lệ không có ý nghĩa. Chúng ta đã công bố trên 500 sửa đổi, và chỉ một phần của chúng sẽ tiết kiệm cho doanh nghiệp và các công dân hơn 10 tỷ USD trong 5 năm tới. Chúng ta đã loại bỏ một luật lệ từ 40 năm trước mà đã có thể buộc một số nông dân sản xuất bơ sữa phải chi 10.000 USD/năm để chứng minh rằng họ có thể ngăn chặn sự cố tràn sữa — vì sữa theo cách nào đó được xếp là một loại dầu. Với một luật lệ như thế, tôi cho rằng cũng đáng để ca thán.

Giờ đây, tôi tin rằng một người nông dân có thể ngăn tràn sữa mà không cần một cơ quan liên bang giám sát. Một cách chắc chắn. Nhưng tôi sẽ không lùi bước trước việc bảo đảm một công ty dầu có thể ngăn chặn kiểu tràn dầu chúng ta đã thấy ở Vịnh Mêhicô 2 năm trước. Tôi sẽ không lùi buớc trước việc bảo vệ những đứa trẻ của chúng ta khỏi nhiễm độc thủy ngân, hay đảm bảo rằng lương thực của chúng ta an toàn và nước của chúng ta sạch sẽ. Tôi sẽ không trở lại những ngày khi các công ty bảo hiểm sức khỏe có quyền không bị kiểm soát để hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm của các vị, từ chối phạm vi bảo hiểm của các vị hay thu phí phụ nữ khác với đàn ông.

Và tôi sẽ không trở lại những ngày khi Phố Uôn được cho phép hoạt động dựa trên những bộ nguyên tắc của riêng mình. Những luật lệ mới mà chúng ta đã thông qua khôi phục lại những điều nên là mục đích cốt lõi của bất kỳ hệ thống tài chính nào: cấp quỹ cho các chủ doanh nghiệp với sáng kiến tốt nhất, và cấp các khoản vay cho các gia đình có trách nhiệm, những người muốn mua một ngôi nhà, hay khởi nghiệp kinh doanh hoặc cho con cái của họ học đại học.

Do đó nếu các vị là một ngân hàng hay một thể chế tài chính lớn, các vị không còn được phép đánh cược liều lĩnh với các khoản tiền gửi của khách hàng của các vị. Các vị được yêu cầu viết một “di chúc sống” trình bày chi tiết chính xác làm thế nào các vị sẽ chi trả các hóa đơn nếu các vị thất bại – bởi vì phần còn lại của chúng ta sẽ không bao giờ cứu giúp các vị nữa. Và nếu các vị là một nhà cho vay thế chấp hay một nhà cho vay tạm ứng tiền mặt hoặc một công ty thẻ tín dụng, những ngày ký kết với người dân cho các sản phẩm họ không thể chi trả với những thủ tục rắc rối và các thủ đoạn lừa dối – những ngày đó đã hết. Ngày nay, người tiêu dùng Mỹ cuối cùng đã có một người bảo vệ quyền lợi là Richard Cordray với một công việc: Canh chừng cho họ.

Chúng ta cũng sẽ thành lập một Đơn vị chống tội phạm tài chính bao gồm các nhà điều tra được đào tạo kỹ lưỡng để trừng trị gian lận trên phạm vi lớn và bảo vệ các khoản đầu tư của người dân. Một số công ty tài chính vi phạm các luật chống gian lận lớn vì không có hình phạt thật sự cho một người phạm tội nhiều lần. Điều đó thật tồi tệ cho người tiêu dùng, và tồi tệ cho phần lớn các chủ ngân hàng và các chuyên gia dịch vụ tài chính, những người hành động đúng theo pháp luật. Vì vậy hãy thông qua luật pháp trừng phạt gian lận.

Và tối nay, tôi sẽ đề nghị Bộ trưởng tư pháp của tôi thành lập một đơn vị đặc biệt gồm các công tố viên liên bang và các viên chưởng lý bang hàng đầu để mở rộng các cuộc điều tra của chúng ta về việc cho vay và gộp các khoản thế chấp rủi ro mang tính lạm dụng mà đã dẫn tới cuộc khủng hoảng nhà ở. Đơn vị mới này sẽ quy trách nhiệm những người vi phạm luật pháp, đẩy nhanh hỗ trợ cho các chủ sở hữu nhà, và giúp kết thúc một kỷ nguyên liều lĩnh đã làm tổn thương quá nhiều người Mỹ.

Hiện nay, một sự trở lại với những giá trị Mỹ với cách xử sự công bằng và trách nhiệm được chia sẻ sẽ giúp bảo vệ người dân và nền kinh tế của chúng ta. Nhưng nó cũng nên dẫn dắt chúng ta khi chúng ta xem xét trả nợ và đầu tư vào tương lai cùa chúng ta.

Ngay bây giờ, ưu tiên trước nhất của chúng ta là chấm dứt việc tăng thuế đánh vào 160 triệu người lao động Mỹ trong khi quá trình phục hồi vẫn còn mỏng manh. Người dân không thể có đủ khả năng chịu mất 40 USD trong mỗi ngân phiếu trả lương năm nay. Có nhiều cách để thực hiện điều này. Vì vậy, chúng ta hãy đồng ý ngay tại đây, ngay bây giờ: Không vấn đề phụ. Không đóng kịch. Hãy thông qua việc cắt giảm thuế tiền lương ngay lập tức. Hãy thực hiện điều đó.

Khi nói tới thâm hụt, chúng ta đã đồng ý cắt giảm và tiết kiệm hơn 2 nghìn tỷ USD. Nhưng chúng ta cần làm nhiều hơn, và điều đó có nghĩa là phải lựa chọn, Ngay lúc này, chúng ta đã sẵn sàng chi thêm gần 1 nghìn tỷ USD nữa cho cái được cho là giảm thuế tạm thời cho 2% người Mỹ giàu có nhất. Ngay lúc này, vì những sơ hở và những che chắn trong luật thuế, một phần tư tất cả các triệu phú trả mức thuế suất thấp hơn hàng triệu gia đình trung lưu. Ngay lúc này, Warren Buffet trả một mức thuế suất thấp hơn thư ký của mình.

Liệu chúng ta có muốn duy trì những cắt giảm giảm thuế này cho nhũng người Mỹ giàu có nhất? Hay chúng ta muốn duy trì những đầu tư của chúng ta vào tất cả những điều khác – như nghiên cứu giáo dục và y học; một quân đội mạnh và công tác chăm sóc các cựu chiến binh của chúng ta? Vì nếu chúng ta nghiêm túc về việc trả nợ của mình, chúng ta không thể làm được cả hai.

Người dân Mỹ biết lựa chọn gì là đúng. Tôi cũng vậy. Như tôi đã nói với ngài Chủ tịch Hạ viện mùa hè này, tôi đang chuẩn bị thực hiện nhiều cải cách hơn để kiểm soát những chi phí lâu dài của chương trình Medicare và Medicaid, và củng cố An sinh Xã hội, miễn là các chương trình đó vẫn là một sự bảo đảm cho an sinh của người cao tuổi.

Nhưng bù lại, chúng ta cần phải thay đổi luật thuế của chúng ta để những người như tôi, và rất nhiều Nghị sĩ Quốc hội, trả thuế công bằng. Cải cách thuế nên đi theo Quy tắc Buffett. Nếu các vị làm ra hơn 1 triệu USD/năm, các vị không nên trả thuế ít hơn 30%. Và người bạn theo Đảng Cộng hòa của tôi Tom Coburn đã đúng: Oasinhtơn nên chấm dứt trợ cấp các triệu phú. Trên thực tế, nếu các vị kiếm được 1 triệu ƯSD/năm, các vị không nên nhận các khoản trợ cấp thuế và khấu trừ đặc biệt. Mặt khác, nếu các vị kiếm được dưới 250.000 USD/năm, như 98% các gia đình Mỹ, thuế của các vị không nên tăng lên. Các vị là những người vật lộn với chi phí đang gia tăng và tiền lương chậm trễ. Các-vị là những người cần trợ giúp.

Giờ đây, các vị có thể gọi cuộc chiến giai cấp này bàng tất cả những gì các vị muốn. Nhưng yêu cầu một tỷ phú trả thuế ít nhất bằng với thư ký của mình? Phần lớn người Mỹ gọi đó là lẽ thường.

Chúng ta không ghen tị thành công tài chính ở đất nước này. Chúng ta ngưỡng mộ nó. Khi người Mỹ nói về nhũng người như tôi trả phần thuế công bằng của mình, đó không phải vì họ ghen tị với người giàu. Đó là vì họ hiểu rằng khi tôi nhận được khoản khấu trừ thuế mà tôi không cần và đất nước không thể chi trả, điều đó tăng thêm thâm hụt, hoặc ai đó sẽ phải đền bù sự. chênh lệch – như một người cao tuổi sống bằng thu nhập cố định, hay một sinh viên cố gắng học hết khóa học, hay một gia đình cố kiếm tiền để đủ sống. Điều đó không đúng. Người Mỹ biết điều đó không đúng. Họ biết rằng thành công của thế hệ này chỉ có thể có được nhờ những thế hệ trước đã cảm thấy có trách nhiệm với nhau, cũng như với tương lai của đất nước họ, và họ biết lối sống của chúng ta sẽ chỉ kéo dài nếu chúng ta cảm nhận được ý thức tương tự về trách nhiệm được chia sẻ. Đó là cách chúng ta sẽ giảm thâm hụt của chúng ta. Đó là một nước Mỹ được xây dựng để tồn tại.

Giờ đây, tôi nhận ra rằng những người đang theo dõi tối nay có những cái nhìn khác nhau về các khoản thuế và nợ, năng lượng và chăm sóc sức khỏe. Nhưng bất kể họ thuộc đảng nào, tôi đánh cược rằng hầu hết người Mỹ ngay lúc này đang nghĩ về cùng một việc: Không điều gì sẽ được thực hiện ở Oasinhtơn trong năm nay, hoặc năm sau, hoặc có thể thậm chí cả năm sau nữa, bởi vì Oasinhtơn đang đổ vỡ.

Quý vị có thể đổ lỗi cho họ vì cảm thấy một chút hoài nghi? Cú đánh lớn nhất giáng vào lòng tin của chúng ta đối với nền kinh tế của chúng ta năm ngoái không đến từ những sự kiện nằm ngoài tầm kjểm soát của chúng ta. Nó đến từ một cuộc tranh luận ở Oasinhtơn về việc liệu Mỹ có trả những hóa đơn của mình hay không? Ai hưởng lợi từ thất bại đó?

Tối nay tôi đã nói về sự thiếu hụt niềm tin giữa Phố Main và Phố Uôn. Nhưng sự chia rẽ giữa thành phố này và phần còn lại của đất nước ít nhất cũng tồi tệ như vậy – và nó dường như tồi tệ hơn sau mỗi năm.

Một số trong đó có liên quan đến ảnh hưởng ăn mòn của đồng tiền trong hoạt động chính trị. Vì vậy, cùng nhau chúng ta hãy thực hiện một số bước để sửa chữa điều đó. Hãy gửi cho tôi một dự luật cấm các nghị sĩ Quốc hội buôn bán nội bộ; tôi sẽ ký vào ngày mai. Hãy hạn chế bất cứ quan chức được bầu lên nào sở hữu cổ phần trong các ngành công nghiệp họ có ảnh hưởng. Hãy đảm bảo rằng những người tập hợp những đóng góp tranh cử vào Quốc hội sẽ không vận động hành lang Quốc hội, và ngược lại – một ý tưởng đã nhận được sự ủng hộ của cả 2 đảng, ít nhất ở bên ngoài Oasinhtơn(2).

Một số điều đổ vỡ liên quan tới cách Quốc hội hoạt động những ngày này. Một đa số đơn giản không còn đủ để có được bất kỳ điều gì – thậm chí cả công việc thường ngày – được Thượng viện thông qua. Không đảng nào vô tội trong những sách lược này. Trước hết, tôi yêu cầu Thượng viện thông qua một quy tắc đơn giản rằng tất cả những bổ nhiệm về tư pháp và dịch vụ công phải nhận một cuộc bỏ phiếu thuận hay chống trong vòng 90 ngày.

Ngành hành pháp cũng cần thay đổi. Nó quá thường xuyên thiếu hiệu quả, lỗi thời và tách biệt. Đó là lí do tại sao tôi đã yêu cầu Quốc hội cho tôi quyền củng cố bộ máy quan liêu liên bang, để chính phủ của chúng ta gọn nhẹ hơn, nhanh hơn, và có khả năng đáp ứng hơn những nhu cầu của người dân Mỹ.

Cuối cùng, không điều nào trong số này có thể diễn ra trừ phi chúng ta cũng giảm bớt nhiệt độ trong thành phố này. Chúng ta cần chấm dứt quan điểm rằng hai đảng phải bị khóa chặt trong một chiến dịch phá hoại lẫn nhau liên miên; rằng chính trị có nghĩa là trung thành với những hệ tư tưởng cứng nhắc thay vì xây dựng sự đồng thuận xung quanh những ý tưởng thông thường.

Tôi là một đảng viên Dân chủ. Nhưng tôi tin vào điều đảng viên Cộng hòa Abraham Lincoln đã tin tưởng rằng chính phủ chỉ nên làm cho người dân những điều mà bản thân họ không thể làm tốt hơn, và không thêm gì nữa. Đó là lí do tại sao cải cách giáo dục của tôi đem đến nhiều cạnh tranh hơn, cũng như nhiều quyền kiểm soát hơn cho các trường học và các bang. Đó là lí do tại sao chúng ta đang từ bỏ những quy tắc không có tác dụng. Đó là lí do tại sao luật chăm sóc sức khỏe của chúng ta dựa trên một thị trường tư nhân được cải cách, chứ không phải một chương trình chính phủ.

Mặt khác, ngay cả những người bạn của tôi trong đảng Cộng hòa phàn nàn nhiều nhất về chi tiêu của chính phủ cũng ủng hộ những con đường được liên bang; tài trợ, và các dự án năng lượng sạch, cũng như các văn phòng liên bang cho những người ở trong nước.

Vấn đề là tất cả chúng ta hẳn đều muốn một chính phủ thông minh hơn, có hiệu quả hơn. Và trong khi chúng ta có thể không có khả năng khắc phục được những bất đồng về triết học lớn nhất của chúng ta năm nay, chúng ta có thể đạt được tiến bộ thực sự. Có hay không có Quốc hội nầy, tôi sẽ tiếp tục những hành động giúp nền kinh tế phát triển. Nhưng tôi có thể làm nhiều hơn với sự giúp đỡ của quý vị. Bởi vì khi chúng ta cùng nhau hành động, không có gì mà Hợp chủng quốc Hoa Kỳ không thể đạt được. Đó là bài học chúng ta nhận được từ những hành động của chúng ta ở nước ngoài trong vài năm qua.

Việc kết thúc cuộc chiến Irắc đã cho phép chúng ta giáng những đòn quyết định vào các kẻ thù của chúng ta. Từ Pakixtan đến Yemen, các mật vụ của Al Qaeda vẫn đang vật lộn, biết rằng chúng không thể thoát khỏi tầm kiểm soát của Mỹ.

Từ vị thế này về sức mạnh, chúng ta đã bắt đầu giảm dần cuộc chiến ở Ápganixtan. Hàng nghìn binh lính của chúng ta đã trở về nước. 23 nghìn quân nữa sẽ rút vào cuối hè năm nay. Việc chuyển tiếp này sang sự lãnh đạo của người Ápganixtan sẽ tiếp tục, và chúng ta sẽ xây dựng một mối quan hệ đối tác bền vững với Ápganixtan, để nước này sẽ không bao giờ lại trở thành một nguồn gốc của các cuộc tấn công chống nước Mỹ.

Khi cơn thủy triều chiến tranh rút dần, một làn sóng thay đổi đã quét qua khắp Trung Đông và Bắc Phi, từ Tuyni tới Cairô, từ Sana’a tới Tripoli. Cách đây một năm, Gaddafi đã là một trong những kẻ độc tài tại vị lâu nhất thế giới – một kẻ sát nhân tay vấy máu người Mỹ. Giờ đây, ông ta đã ra đi. Và ở Xyri, tôi không nghi ngờ là chế độ Assad sẽ sớm nhận ra rằng các lực lượng của sự thay đổi là không thế đảo ngược, và rằng không thể phủ nhận chân giá trị của con người.

Sự biến đổi không thể tin được này sẽ kết thúc như thế nào vần còn chưa chắc chắn. Nhưng chúng ta có phần lợi lớn trong kết quả. Và trong khi cuối cùng thì người dân khu vực này phải quyết định lấy số phận của họ, chúng ta sẽ ủng hộ những giá trị đã phục vụ rất tốt đất nước của chính chúng ta. Chúng ta sẽ chống lại bạo lực và sự hăm dọa. Chúng ta sẽ ủng hộ các quyền và chân giá trị của tất cả mọi người – nam giới và phụ nữ; người Cơ đốc giáo, người Hồi giáo và người Do Thái. Chúng ta sẽ ủng hộ các chính sách dẫn đến các nền dân chủ mạnh mẽ và ổn định và các thị trường mở cửa, vì sự chuyên chế không tương xứng với tự do.

Và chúng ta sẽ bảo vệ an ninh của chính nước Mỹ chống lại những kẻ đe dọa người dân của chúng ta, bạn bè của chúng ta và các lợi ích của chúng ta. Hãy xem Iran. Thông qua sức mạnh của ngoại giao chúng ta, một thế giới đã từng bị chia rẽ về cách thức đối phó với chương trình hạt nhân của Iran hiện nay đồng lòng như một. Chế độ này bị cô lập hơn bao giờ hết; các nhà lãnh đạo của nó đối mặt với những hình phạt gây lụn bại, và chừng nào họ còn lẩn tránh trách nhiệm của họ thì sức ép này sẽ không giảm bớt.

Chúng ta không nên nghi ngờ: nước Mỹ quyết tâm ngăn chặn Iran có được vũ khí hạt nhân, và tôi sẽ không bỏ những sự lựa chọn nào khỏi bàn thương lượng để đạt được mục tiêu đó. Nhưng một giải pháp hòa bình cho vấn đề này vẫn còn khả năng, và tốt hơn nhiều, và nếu Iran thay đổi tiến trình đồng thời đáp ứng những nghĩa vụ của mình, họ có thể trở lại với cộng đồng các quốc gia.
Việc đổi mới sự lãnh đạo của Mỹ có thể được cảm nhận khắp toàn cầu. Các liên minh lâu năm nhất của chúng ta ở châu Âu và châu Á là mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Các quan hệ của chúng ta với các nước châu Mỹ là sâu sắc hơn. Cam kết không thể hủy bỏ của chúng ta với Ixraen có nghĩa là sự hợp tác quân sự chặt chẽ nhất giữa hai nước chúng ta trong lịch sứ.

Chúng ta đã nói rõ rằng nước Mỹ là một cường quốc Thái Bình Dương, và một sự khởi đầu mới ở Mianma đã thắp lên niềm hy vọng mới. Từ các liên minh chúng ta đã xây dựng để đảm bảo an toàn cho các nguyên liệu hạt nhân, đến những sứ mệnh chúng ta đã đi đầu chống lại nghèo đói và bệnh tật; từ những đòn chúng ta đã giáng vào các kẻ thù của mình đến sức mạnh lâu bền của tấm gương về đạo đức của chúng ta, nước Mỹ đang trở lại.

Bất cứ ai nói với quý vị điều ngược lại, bất cứ ai nói với quý vị rằng nước Mỹ đang sa sút hay ảnh hưởng của chúng ta đã suy giảm đều không biết họ đang nói gì.

Đó không phải là bức thông điệp mà chúng ta nhận được từ các nhà lãnh đạo trên khắp thế giới, những người mong muốn làm việc cùng chúng ta. Đó không phải là cảm nhận của mọi người từ Tôkyô đến Béclin, từ Cap Town đến Rio, nơi sự đánh giá về nước Mỹ cao hơn so với trong nhiều năm. Đúng, thế giới đang thay đổi. Không, chúng ta không thể kiểm soát mọi sự kiện. Nhưng nước Mỹ vẫn còn là một quốc gia không thể thiếu được trong các vấn đề thế giới – và chừng nào tôi còn là tổng thống tôi vẫn có ý định duy trì điều đó.
Đó là lý do tại sao, làm việc với các nhà lãnh đạo quân sự của chúng ta, tôi đã đề xuất một chiến lược quốc phòng mới đảm bảo chúng ta vẫn là quân đội tinh nhuệ nhất trên thế giới, trong khi tiết kiệm gần một nửa nghìn tỉ USD trong ngân sách của chúng ta. Để vẫn vượt lên các đối thủ của chúng ta một bước, tôi đã gửi cho Quốc hội này đạo luật sẽ bảo vệ cho đất nước chúng ta khỏi những nguy hiểm ngày càng tăng của các mối đe đọa trên không gian ảo.

Quan trọng hơn cả, quyền tự do của chúng ta bền vững vì các quân nhân nam, nữ bảo vệ nó Khi họ trở về nhà, chúng ta phải phục vụ họ cũng như họ đã phục vụ chúng ta. Việc đó bao gồm dành cho họ sự chăm sóc và những lợi ích mà họ được hựởng – điều là lý do tại sao chúng ta đã tăng chi phí cho các cựu chiến binh hàng năm trong mỗi năm tôi làm tổng thống. Và điều đó có nghĩa đưa các cựu chiến binh của chúng ta tham gia công việc xây dựng quốc gia.

Với sự ủng hộ của hai đảng trong Quốc hội này, chúng ta đang cung cấp các khoản khấu trừ thuế mới cho các công ty thuê các cựu binh. Michelle và Jill Biden đã làm việc với các doanh nghiệp Mỹ để đảm bảo một cam kết 135.000 việc làm cho các cựu chiến binh và gia đình họ. Và tối nay, tôi đề xuất một Đội tìm kiếm công ăn việc làm cho cựu chiến binh sẽ giúp các cộng đồng của chúng ta thuê các cựu chiến binh làm cảnh sát và lính cứu hỏa, để nước Mỹ hùng mạnh như những người bảo vệ đất nước này. Điều đó đưa tôi trở lại nơi tôi bắt đầu. Những người trong chúng ta được cử đến đây để phục vụ có thể học được một hai điều từ sự phục vụ của binh lính chúng ta. Khi các bạn khoác lên người bộ quân phục, không có gì là quan trọng dù bạn là da đen hay da trắng; người gốc châu Á, Mỹ Latinh hay người Mỹ bản xứ; bảo thủ hay tự do; giàu hay nghèo; đông tính hay không. Khi các bạn tiến vào trận đánh, các bạn để ý đến người bên cạnh mình, hoặc nếu không nhiệm vụ thất bại. Khi các bạn ở vào lúc sôi động nhất của cuộc chiến, các bạn đứng lên hay ngã xuống với tư cách là một đơn vị, phục vụ một quốc gia, không để lại ai ở phía sau.

Một trong những vật sở hữu đáng tự hào nhất của tôi là lá cờ mà Biệt đội đặc nhiệm (SEAL) đã mang theo cùng họ trong sứ mệnh tiêu diệt Bin Laden. Trên lá cờ đó là tên của họ. Một số có thể là người Dân chủ. Một số có thể là người Cộng hòa. Nhưng điều đó không quan trọng. Cũng như không quan trọng vào ngày hôm đó trong Phòng Tình huống, khi tôi ngồi bên cạnh Bob Gates – một người đã là Bộ trưởng quốc phòng của George Bush – và Hillary Clinton – một phụ nữ đã cùng tôi chạy đua chức tổng thống.

Tất cả những gì quan trọng vào ngày hôm đó là nhiệm vụ. Không ai nghĩ về hoạt động chính trị. Không ai nghĩ về bản thân mình. Một trong những thanh niên liên quan đến cuộc đột kích sau đó nói với tôi rằng anh không đáng được khen thưởng vì nhiệm vụ này. Anh nói, nhiệm vụ chỉ thành công vì cá nhân mọi thành viên của đớn vị đó đã làm công việc của họ – người phi công đã hạ cánh chiếc trực thăng bị mất kiểm soát; người phiên dịch đã giữ không cho những người khác vào khu nhà đó; những người lính đã tách phụ nữ và trẻ em ra khỏi trận đánh; những người lính đặc nhiệm đã leo lên cầu thang. Hơn thế nữa, nhiệm vụ chỉ thành công vì mọi thành viên của đơn vị đó tin tưởng lẫn nhau – vì anh không thể leo lên những cầu thang đó , bước vào bóng tối và hiểm nguy, trừ phi anh biết rằng có người nào đó ở sau anh, canh chừng phía sau anh.

Như vậy đó là với nước Mỹ. Mỗi lần tôi nhìn vào lá cờ đó, tôi được nhắc nhở rằng vận mệnh của chúng ta gắn chặt với nhau như 50 ngôi sao và 13 vạch này. Không ai một mình xây dựng đất nước này. Quốc gia này vĩ đại bởi vì chúng ta cùng nhau xây dựng nó. Quốc gia này vĩ đại bởi vì chúng ta đã làm việc như một êkíp. Quốc gia này vĩ đại bởi vì chúng ta quan tâm đến nhau. Và nếu chúng ta luôn tin tưởng vào chân lý đó, trong giờ phút thử thách này, thì không có thử thách nào là quá lớn; không có nhiệm vụ nào là quá khó khăn. Chừng nào mà chúng ta kết hợp cùng nhau vì mục đích chung, chùng nào chúng ta duy trì quyết tâm chung của chúng ta, thì hành trình của chúng ta sẽ tiến về phía trước, tương lai của chúng ta đầy hy vọng, và tinh trạng Liên bang của chúng ta sẽ luôn luôn mạnh mẽ. Xin cám ơn, cầu Chúa phù hộ cho quý vị và cho nước Mỹ./.

Thứ Hai, 6 tháng 2, 2012

Bệnh viện ăn cắp giờ công

Kỳ 1: Bệnh viện ăn cắp giờ công

Lợi dụng tâm lý lo lắng khi phải “xếp hàng” chờ phẫu thuật của bệnh nhân, nhiều bệnh viện công tại TP.HCM đã mở ra “dịch vụ” và tổ chức cho bác sĩ ăn cắp giờ công để thu tiền hưởng lợi, bất chấp sự khó khăn túng thiếu của người bệnh.
“Bánh mì kẹp thịt” là cụm từ mà giới bác sĩ (BS) phẫu thuật ở TP.HCM, đặc biệt là BS của Bệnh viện (BV) Chấn thương - Chỉnh hình, thường dùng. Cụm từ đó ám chỉ hình thức các BS, BV nhà nước dùng phòng mổ chương trình (CT) để “nhét” bệnh nhân (BN) mổ dịch vụ (DV) ngay trong giờ hành chính.

Mổ “cờ tờ” và mổ “y cờ”
“Bánh mì” ở đây là nói về BN mổ CT (mổ theo lịch sắp xếp của khoa, người bệnh tốn ít tiền, BS cũng nhận được ít tiền); còn phần “thịt” ngon hơn là nói về BN mổ DV (BS mổ DV sẽ nhận được nhiều tiền so với mổ CT).
Ở một số BV, BS cũng thường dùng “biệt hiệu” mổ “cờ tờ” và mổ “y cờ” (ý nói mổ CT và mổ yêu cầu - YC). “Mổ CT”, “mổ YC”, mổ ngoài giờ, hay “bánh mì kẹp thịt”... đều là những biến tướng trong phẫu thuật ở hệ thống BV công lập.

Ngành y tế cần xem lại thực trạng bác sĩ bệnh viện công lo mổ dịch vụ quá nhiều
Ngành y tế cần xem lại thực trạng bác sĩ bệnh viện công lo mổ dịch vụ quá nhiều - Ảnh: Thanh Tùng

Trong những năm gần đây, khi mà ngày càng có nhiều BS “chạy đua” về thu nhập thì BN là người bị thiệt thòi. Thực trạng này đã đến lúc báo động, bởi vì nó có thể biến các BV công thành nơi chuyên mổ DV không khác gì là một dạng BV tư.
BV Chấn thương - Chỉnh hình TP.HCM là BV chuyên khoa đầu ngành ở phía nam về lĩnh vực cột sống, chỉnh hình..., nơi đây luôn tập trung đông đúc người bệnh. Lâu nay, BN và một số y, BS than phiền về việc nhiều BS ngoại khoa của BV này tận dụng thời gian, cơ sở vật chất của nhà nước để làm DV quá nhiều, khiến giới BS ngày càng thờ ơ với BN ít tiền, mổ CT. Có những người bệnh gia cảnh không mấy khá giả, thậm chí là người nghèo, người có thẻ bảo hiểm y tế, người có công cũng bị “hướng” sang mổ DV. Qua quá trình tìm hiểu, thu thập số liệu BN phẫu thuật điều trị tại BV này hơn nửa năm qua (từ tháng 5.2011 đến tháng 1.2012 vừa qua), chúng tôi phát hiện BS của BV công lập này phần lớn dành thời gian làm việc để mổ DV là chính. BS ở đây thường xuyên áp dụng chiêu thức “bánh mì kẹp thịt”, ăn cắp giờ công để làm DV, nhằm hưởng lợi cho riêng mình quá nhiều!

“Mổ CT phải đợi, còn DV mổ ngay, về sớm”
Lượng BN mổ DV hằng ngày tại BV Chấn thương - Chỉnh hình luôn chiếm hơn gấp đôi đến gấp 3 lần lượng BN mổ CT. Theo số liệu chúng tôi thu thập được, bình quân mỗi ngày số BN mổ CT ở BV này trên dưới 30 ca, nhưng lượng mổ DV luôn hơn 50, 60 đến 70, 80 ca.
Một BS của BV cho chúng tôi biết: “Lượng mổ DV ở đây luôn rất lớn, những ngày cao điểm lên đến 80 ca là chuyện bình thường. Giải thích ra bên ngoài mổ DV là làm ngoài giờ hành chính, nhưng thực tế thì không phải vậy, BS mổ DV cả trong giờ hành chính”.
Còn một nhân viên khác của BV thì nói thẳng: “Cả các BS trưởng, phó các khoa phòng, thậm chí là lãnh đạo BV cũng... tham gia mổ DV trong giờ hành chính!”.
Vì lợi ích cá nhân, BS và BV đã hướng BN sang mổ DV. Nghe BS hỏi “mổ CT thì phải chờ đợi, còn mổ DV thì mổ ngay, về sớm, chọn loại nào?”, thì BN cũng phải suy nghĩ. Vì "gợi ý đó" mà nhiều người bệnh, dù gia cảnh khó khăn cũng cố vay mượn đóng cho đủ tiền để được mổ DV. Đó là chưa nói, có BS còn “dọa” thêm: “Bệnh này để lâu thì sẽ nguy hiểm hơn”. BN nghe xong càng sợ, càng lo đăng ký mổ DV gấp.
Thực tế không hiếm những BN ở tỉnh, thuộc diện nghèo, hoặc không mấy khá giả cũng ráng lo chạy tiền để mổ DV cho nhanh. “Thậm chí có BN nghèo, sau khi mổ DV phải xin cơm từ thiện để qua ngày”, một nhân viên của BV nói. Điều đáng nói là chính vì thờ ơ với người bệnh mổ CT, nên đến khoảng 2-3 giờ chiều là BS không muốn mổ CT nữa. Từ thời điểm này kéo dài đến 21 - 22 giờ đêm là BS dành hết "tâm huyết" cho việc mổ DV kiếm tiền.
Thế nhưng, trả lời với PV Thanh Niên về vấn đề mổ CT, mổ DV, bác sĩ Trần Thanh Mỹ, Giám đốc BV Chấn thương - Chỉnh hình, khẳng định: “Số lượng BN mổ DV tại BV mỗi ngày chỉ 40 - 45 ca (?)”. Và theo ông thì mổ DV là để cải thiện đời sống CBCNV của BV, trong đó chủ yếu là giúp điều dưỡng có thêm thu nhập (?).
Giúp điều dưỡng, hay tạo điều kiện để BS phẫu thuật viên ăn cắp giờ công (đã được trả lương), dùng cơ sở vật chất của BV công để làm lợi riêng, hưởng tiền mổ DV cao chót vót hàng chục, hàng trăm triệu đồng mỗi tháng? Mời bạn đọc tiếp tục theo dõi phần tiếp theo của loạt bài điều tra này trên các số báo tới.
Những con số đáng báo động
Hơn 6 tháng điều tra về thực trạng ăn cắp giờ công tại BV Chấn thương - Chỉnh hình TP.HCM, PV Thanh Niên đã ghi nhận những số liệu đáng báo động. Cụ thể:
Ngày 18.5.2011: số BN được xếp mổ DV lên đến 71 ca, trong khi số xếp mổ CT chỉ có 25 ca.
Ngày 30.8.2011: số BN xếp mổ DV 59 ca, số BN xếp mổ CT chỉ 29 ca.
Ngày 31.8.2011: số BN xếp mổ DV 70 ca, nhưng số xếp mổ CT chỉ 33 ca.
Ngày 7.9.2011: số BN xếp mổ DV 67 ca, số mổ CT chỉ 31 ca.
Ngày 2.11.2011: số BN xếp mổ DV lên đến 79 ca, trong khi số BN mổ CT chỉ 24 ca.
Ngày 16.11.2011: số mổ DV 75 ca, số mổ CT chỉ 27 ca.
Ngày 14.12.2011: số BN xếp mổ DV 67 ca, trong khi số BN xếp mổ CT chỉ 29 ca.
Ngày 21.12.2011: số mổ CT chỉ 24 ca, nhưng số xếp mổ DV lên đến 59 ca.
Ngày 22.12.2011: mổ CT 25 ca, nhưng số BN xếp mổ DV 56 ca.
Ngày 23.12.2011: mổ CT 27 ca, nhưng số BN xếp mổ DV 58 ca.
Ngày 27.12.2011: số BN xếp mổ CT 27 ca, nhưng số xếp mổ DV lên đến 75 ca.
Ngày 4.1.2012: số BN được xếp mổ DV lên đến 73 ca, trong khi số BN xếp mổ CT chỉ 32 ca...

Không tiền cũng ráng lo... dịch vụ
Trong quá trình tìm hiểu viết bài này, chúng tôi đã gặp nhiều trường hợp thương tâm trước sức ép "mổ DV".
Nằm một mình trên giường bệnh, bà N.T.T (trọ tại thị trấn Thanh Bình, H.Bù Đốp, tỉnh Bình Phước) không ngớt rớt nước mắt cho cảnh ngộ của mình. Bà T. đi bán bánh mì bị té gãy tay, vào BV Chấn thương - Chỉnh hình một thân một mình. Bà cho biết: “Lúc mổ, tôi không nghe người của BV giải thích gì, chỉ có một cô nhân viên đến hỏi tôi có đồng ý mổ không. Tôi nói đồng ý. Đâu ngờ họ đã chọn sẵn cho mình mổ DV loại 1”. Chi phí mà bà phải đóng cho ca mổ là 4,5 triệu đồng, chưa kể hơn 1 triệu tiền mua dụng cụ. Nhiều ngày qua, bà T. ở trong BV đều nhờ người đi xin cơm chay từ thiện hoặc ăn cơm mà các BN khác chia cho. Bà T. giàn giụa nước mắt: “Trời ơi, nếu biết có thể mổ thường để đỡ chút tiền tôi cũng ráng chịu chờ nữa, 8 triệu bạc mà chòm xóm gom cho mượn giờ hết sạch, không biết mấy ngày tới sẽ sống sao, còn thằng con đang đi học, không biết tiền đâu nó ăn nữa”.
Ngày 4.2.2012, tại khu chờ bên ngoài phòng mổ của BV, anh H., bố của bệnh nhi nam (8 tuổi, nhà ở Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai) nói với chúng tôi: “Cách nay khoảng 2 tháng, con tôi bị tai nạn gãy tay trái nên tôi đưa lên đây. Vào viện từ lúc 6 giờ sáng nhưng chờ đến 3 giờ chiều mới được chữa trị. Lúc này nghe BS nói chuyện mổ DV, tôi chấp nhận luôn chứ thấy con đau đớn mà chờ đợi lâu vậy sao chịu cho thấu. Đợt đó chi phí hết hơn 10 triệu đồng. Đợt này lên để mổ lấy nẹp ra, tôi cũng chọn mổ DV cho nhanh, người ta bảo đóng trước 4,5 triệu đồng. Nếu các anh là nhà báo thì nên làm rõ vấn đề mổ DV, mổ theo CT nhà nước để người dân biết, chứ vào BV mấy ai hiểu rõ những chuyện đằng sau việc mổ DV”.
BN N.T.T.T (18 tuổi, H.Bình Chánh, TP.HCM) cũng vào phòng mổ vào giờ hành chính với gói mổ DV. Người nhà BN này cho biết: “Gia đình thuộc diện hộ nghèo, cha mẹ đều là công nhân. Tôi lên nuôi cháu để cha mẹ cháu đi làm kiếm tiền. Chi phí mổ hết 4,6 triệu đồng, trong đó tiền dụng cụ là 600.000 đồng. Nghe BS nói mổ DV thì nhanh gọn nên chịu đại vậy, tiền viện là đi hỏi vay mượn người ta đó, trả lãi nặng cũng phải chịu!”.

Thanh Tùng - Thanh Thùy



Điều đáng nói là tất cả các phương tiện, cơ sở vật chất đều là của công, nhưng bác sĩ (BS) mổ dịch vụ (DV) lại hưởng gần một nửa số tiền phẫu thuật. Chính điều này đã dẫn đến hệ lụy: BS dành phần ưu tiên cho mổ DV.

Lấy việc công làm lợi riêng
Bệnh viện Chấn thương - Chỉnh hình TP.HCM (BV CTCH) hiện có tổng cộng 14 phòng mổ. Làm việc với PV, bác sĩ Trần Thanh Mỹ - Giám đốc BV cho rằng, trong giờ hành chính BV dành cho các ca bệnh mổ chương trình (CT), còn mổ DV chỉ làm ngoài giờ (sau 16 giờ trở đi). Tuy nhiên, điều BS giám đốc nói không đúng như những gì diễn ra bấy lâu nay ở BV công này. Qua tìm hiểu của chúng tôi, trừ hai phòng mổ cột sống (phòng mổ 1 và phòng mổ 7), thỉnh thoảng có thêm phòng mổ 3 (mổ chi dưới) thì thời gian dành cho mổ CT kéo dài, còn lại các phòng mổ khác, BN được xếp mổ CT, phần lớn đến khoảng 11 giờ, hơn 11 giờ là xong, thời gian còn lại được dùng mổ toàn các ca DV. Thậm chí, vào các ngày thứ tư, thứ sáu, phòng mổ số 9 được dùng cho các ca mổ DV trong giờ hành chính và gần như suốt cả ngày; còn phòng mổ D hầu như ngày nào cũng mổ DV trong giờ hành chính.

Bác sĩ ưu tiên mổ DV
Xin nêu ra đây một số ngày để làm ví dụ: ngày 4.1.2012, BS N.L mổ 8 ca DV; BS Th. mổ 5 ca DV. Ngày 27.12.2011, BS Q.T và BS C. mổ 11 ca DV; BS N.L mổ 6 ca DV; BS A. mổ 5 ca DV; BS B.T mổ 4 ca DV. Ngày 18.11.2011 BS B. mổ 6 ca DV. Ngày 11.11.2011 BS G. mổ 6 ca DV. Ngày 31.8.2011 BS T.L mổ 6 ca DV. Ngày 29.8.2011, BS M. và BS H. mổ 5 ca DV. Ngày 30.8, BS Nh. và BS Q.T mổ 6 ca DV...

Theo tư liệu chúng tôi có được, hầu như ngày nào BS của BV CTCH cũng chiếm dụng giờ công để mổ DV, thậm chí mổ rất nhiều ca trong giờ hành chính. Chính vì vậy nên lượng BN mổ DV tại đây ngày nào cũng nhiều gấp 2, gấp 3 lần so với lượng bệnh mổ CT. Xin nêu ra đây một số ngày để minh chứng: ngày 21.12.2011, phòng mổ số 6 chỉ có 3 ca bệnh được xếp mổ CT (với mức độ bệnh vừa phải), nên đến khoảng 11 giờ là xong, thì ngay sau đó, “bánh mì kẹp thịt” được áp dụng - BN mổ DV được “nhét” vào. Cụ thể là mổ cho BN V.T.P (từ 11 giờ 30 - 13 giờ); cùng ngày, các phòng mổ khác cũng được dùng mổ DV, như: mổ BN T.N (9 giờ 15 - 11 giờ 30); BN N.N.S (10 giờ - 11 giờ 20); BN L.S (13 giờ 5 - 14 giờ 5); BN T.V (14 giờ 15 - 14 giờ 35); BN H.H (14 giờ 10 - 15 giờ 30); BN N.V.M (13 giờ 50 - 16 giờ 40); BN T.Q.L (15 giờ 20 - 16 giờ 40); và còn rất nhiều ca bệnh mổ DV khác nữa ở phòng mổ D cũng làm trong giờ hành chính.

Giám đốc BV Trần Thanh Mỹ lý giải, số lượng bệnh mổ DV trong ngày nhiều là vì mổ DV chỉ dành cho các trường hợp mổ nhỏ, bệnh nhẹ. Nhưng, thực tế không hề đúng như thế, mà theo danh sách BN mổ DV chúng tôi có được cho thấy, hằng ngày có rất nhiều ca mổ DV là những ca mổ lớn, ca bệnh nặng. “Cũng cùng một phòng mổ, nhưng ngày mổ CT thì mổ ít ca, còn ngày mổ DV thì BS lại mổ đạt năng suất cao, mổ được nhiều ca bệnh hơn rất nhiều”, một người của BV này nói.

Hưởng tiền mổ cao chót vót
Lâu nay, các BV thường “than khổ” chính sách mức tiền trả cho một ca mổ của BS rất “bèo”, chỉ bằng “vá cái ruột xe”. Nhưng thực chất, trong nơi này, lúc khác đó chỉ là bề nổi, là giá tiền tính theo BHYT, mà trong đó nhà nước đã chi trả thêm bằng lương hằng tháng cho BS. Còn tảng băng chìm, mà người ngoài không hề biết được đó là, thu nhập của các BS phẫu thuật viên, nhất là những BS tận dụng cơ sở BV công làm DV triệt để là rất lớn.

Quay trở lại BV CTCH, mỗi tháng BS phẫu thuật viên thu nhập từ tiền mổ DV từ vài chục triệu đến hơn cả trăm triệu đồng. Theo bảng phân chia tiền mổ DV tại BV này, thì BS phẫu thuật viên hưởng từ 35 - 40% trên giá tiền của từng loại mổ DV. Trong khi đó, giá mổ DV ở đây bình quân từ 1,5 - 5,5 triệu đồng/BN, tính ra, mỗi ca mổ DV phẫu thuật viên sẽ hưởng từ 500.000 đến 2,2 triệu đồng. Một ngày có khi BS mổ 3 ca, 5 ca, 7 ca, thậm chí có ngày hơn 10 ca DV, như thế, số tiền nhận được lên đến cả chục triệu đồng/ngày là vậy.

Rất đông thân nhân ngồi đợi bệnh nhân ngoài phòng mổ tại
BV Chấn thương - Chỉnh hình TP.HCM - Ảnh: Hà Minh
Đó là chưa kể nhiều ca mổ DV được cộng vào những khoản tiền khó hiểu. Cụ thể, có những trường hợp mổ DV, tiền công mổ 5,5 triệu đồng, nhưng BS ghi trên phiếu mổ cộng vào thêm phẫu thuật loại III (nghĩa là cộng thêm 3 triệu đồng nữa), thành ra người bệnh phải trả đến 8,5 triệu đồng. Theo nhân viên của BV, khoản tiền cộng thêm này không có trong quy định nào cả, mà tùy từng phẫu thuật viên cho cộng vào (?!).

Việc phân chia tiền mổ DV được BV CTCH áp dụng thế nào? Ví dụ cụ thể, một ca mổ DV nếu tiền công mổ 5,5 triệu đồng thì sẽ được chia như sau: BS phẫu thuật được 2,2 triệu đồng; BS gây mê 500.000 đồng; ê kíp phòng mổ + hồi sức 760.000 đồng; khoa có BN nằm điều trị 120.000 đồng, và chi cho các khoản khác… Với BS gây mê hồi sức, mặc dù thu nhập từ tiền mổ DV hằng tuần, hằng tháng có thấp hơn so với BS phẫu thuật viên, nhưng con số cũng không hề nhỏ chút nào. Chúng tôi lấy ví dụ trong một tuần gần cuối tháng 9.2011 (6 ngày), 12 BS gây mê hồi sức tham gia 372 ca phẫu thuật, với số tiền DV được hưởng là 144 triệu đồng, tính ra trong 6 ngày, mỗi BS gây mê hưởng tiền mổ DV là 12 triệu đồng, bình quân 2 triệu đồng/ngày (!). Chính vì vậy, có dư luận từ nội bộ BV này rằng, ai kéo được bệnh, giới thiệu để BS mổ DV thì sẽ được chia 10% trên số tiền phẫu thuật mà BS nhận được (?!).

Không thể phủ nhận mức ngân sách đầu tư cho hoạt động BV công hiện nay không thể đáp ứng được nhu cầu hoạt động chuyên môn và quản lý của đội ngũ y, BS; chính sách đãi ngộ thầy thuốc còn quá bất cập cần được điều chỉnh kịp thời, nhất là trong tình trạng BV quá tải triền miên. Song, dù vậy cũng không thể vin vào lý do “tự cứu” để làm biến tướng DV y tế, làm mất đi ý nghĩa của y đức và chức năng nghề nghiệp.

Không mổ DV thì cứ... chờ
Sáng 6.2, khi chúng tôi đến trước phòng mổ của BV CTCH đã thấy rất đông người nhà ngồi đợi các BN. Bà N.T.Đ (55 tuổi, ngụ H.Củ Chi, TP.HCM) tâm sự: “Đây là lần thứ 3 con trai tôi phải đến BV này mổ vì tai nạn giao thông. Người ta khuyên mổ DV nhanh, không phải nằm chờ nên tôi ráng xoay tiền lo cho nó. Hai lần mổ nối gân chân và sắp lại xương rồi, chi phí đi lại, ăn ở cũng tốn hơn 20 triệu đồng. Tưởng đã xong, nào ngờ còn sót lại một ngón tay bị gãy. Lần này họ cũng gợi ý mổ DV nhưng tôi lo tiền không nổi. Vậy là họ cứ hẹn hết lần này đến lần khác. Chờ gần 20 ngày rồi mới được kêu đi mổ đó”.
Chị Bé (23 tuổi, ngụ Châu Đốc, An Giang) ngồi đợi dượng mổ chân cũng kể: “Lúc làm hồ sơ họ bảo mổ gì gì đó tiện lợi, nhanh chóng chúng tôi có hiểu đâu, nhưng thấy chi phí gần 5 triệu đồng cao quá nên không đồng ý. Sau đó họ bảo chờ đến lượt, gần hai tuần sau dượng mới được kêu đi mổ”. (Hà Minh)

Thanh Tùng




Chủ Nhật, 5 tháng 2, 2012

Ứng dụng CNTT trong quản lý bệnh viện

BS. PHAN XUÂN TRUNG – TTYK MEDIC


1. Một số vấn đề nan giải của y tế Việt Nam hiện nay

Y tế Việt Nam hiện nay đang gặp một số vấn đề nan giải. Mặc dù các cấp lãnh đạo đã tìm và thực hiện nhiều giải pháp nhưng vẫn chưa giải quyết tốt.

- Đối với bệnh nhân: tình trạng quá tải bệnh viện là vấn đề thời sự. Một giường bệnh chứa 3-4 bệnh nhân. Rủi ro trong điều trị xảy ra do trình độ tay nghề bác sĩ yếu kém. Đơn thuốc viết tay, chữ xấu của bác sĩ là một nguồn rủi ro to lớn cho bệnh nhân. Nhìn chung, người dân hưởng lợi rất ít, thậm chí nhiều rủi ro từ ngành y tế. Hồ sơ bệnh nhân thường do bệnh viện giữ lại gây khó cho việc khám lại ở nơi khác.

- Đối với nhân viên y tế: với tình trạng quá tải, bác sĩ không có đủ thì giờ để nghiên cứu kỹ từng ca bệnh để phục vụ tốt nhất. Vì bận làm thêm để tăng thu nhập nên ít bác sĩ chịu khó nghiên cứu, đọc sách để tăng kiến thức. Dữ liệu bệnh án mặc dù được lưu lại tại kho hồ sơ nhưng ít khi được khai thác. Mặt khác, dữ liệu được ghi trong hồ sơ rất ít thông tin có giá trị vì không được ghi chép một cách có hệ thống chuẩn hóa.

- Đối với lãnh đạo bệnh viện: số liệu do cấp dưới báo cáo lên thường không đồng bộ, không khớp nhau. Tình trạng không kiểm soát được hoạt động tài chính, hoạt động dược... dẫn đến thất thoát tài sản công. Tài chính bệnh viện luôn luôn bị thâm hụt, cần phải được ngân sách bổ sung thường xuyên.

- Đối với các cấp quản lý y tế: số liệu được cung cấp từ các bệnh viện thường không chính xác, chậm trễ. Tình hình dịch bệnh không được kiểm soát ngay lập tức. Thông tin tổng quát về y tế không đầy đủ. Từ đó không thể ra các quyết định điều hành kịp thời và hợp lý.

2. Ứng dụng CNTT trong giải quyết vấn đề y tế:

Ngày nay ứng dụng CNTT trong y tế (e-health) đã góp phần giải quyết các vấn nạn trên một cách hữu hiệu. CNTT đã thâm nhập vào nhiều lĩnh vực của y tế làm thay đổi diện mạo hoạt động chăm sóc sức khỏe ngày nay.

2.1. Các thiết bị y khoa điện tử: ngày nay các thiết bị y tế điện tử ra đời giúp chẩn đoán chính xác. Chẩn đoán hình ảnh giúp phát hiện các thương tổn sâu bên trong cơ thể. Máy xét nghiệm làm đơn giản hóa công việc xét nghiệm, cho kết quả chính xác. Các thiết bị điện tâm đồ, điện não đồ được số hóa... Tất cả các loại thiết bị y tế này đểu ứng dụng CNTT kết hợp với kỹ thuật điện tử để cho kết quả chẩn đoán ngoài sức tưởng tượng. Nhờ đó, công việc chẩn đoán bệnh chính xác góp phần điều trị hiệu quả hơn.

2.2. Các phương tiện truyền thông: như Internet, bộ tìm kiếm thông tin Google, phim ảnh được post lên Youtube, các trang thông tin y khoa... đã cung cấp nhiều thông tin y khoa mới nhất đến các bác sĩ. Hầu hết các bác sĩ đã có máy tính để truy cập internet để học tập và nghiên cứu, xóa khoảng cách kiến thức giữa các vùng địa lý.

2.3. Các bộ phần mềm trợ giúp thống kê: đơn giản như Excel hay chuyên nghiệp như SPSS đã giúp các bác sĩ trong việc làm nghiên cứu khoa học. Một số bệnh viện đã có ngân hàng dữ liệu, giúp khai thác trong thống kê, nghiên cứu.

2.4. Các phần mềm quản lý tổng thể bệnh viện và quản lý bệnh nhân: đã được hình thành và đưa vào sử dụng thực tế. Trong đó, có các phân hệ quản lý bệnh nhân từ đầu vào đến đầu ra, có các phân hệ quản lý bệnh viện toàn diện, bao gồm quản lý nhân sự, quản lý tài sản, quản lý tài chính, quản lý hành chính... Những hệ thống này trước đây còn rời rạc, nay đã được xây dựng trên một hệ thống cơ sở dữ liệu tập trung, thống nhất.

3. Ứng dụng CNTT trong quản lý bệnh viện.

Do tính phức tạp và đa dạng của các chuyên ngành y khoa, do tính đa dạng của mô hình và quản lý bệnh viện cho nên việc thiết kế một bộ phần mềm quản lý bệnh viện tổng thể dùng chung cho các bệnh viện là cực kỳ khó khăn, phức tạp. Các quốc gia giàu có như Mỹ, Anh Quốc, Canada, Úc... đã đầu tư nhiều tiền để trang bị một hệ thống y tế điện tử quốc gia dùng chung cho các bệnh viện nhưng cho đến thời điểm cuối năm 2011 vẫn chưa có quốc gia nào đạt đến trình độ này. Các bệnh viện chỉ ứng dụng đến mức quản lý thông tin bệnh nhân trong phạm vi bệnh viện. Đa phần các tính năng quản lý còn rời rạc, chưa kết nối thành 1 hệ thống hoàn chỉnh.




“Đây là nơi ý tưởng cho bệnh án điện tử bắt đầu gặp chút rắc rối”. Tranh: GOFF.

Hiện nay tại Việt Nam đã có phần mềm đầy đủ tính năng quản lý liên hoàn trên cùng một hệ thống. Các chức năng của phần mềm được phân thành các phân hệ dành cho từng đối tượng riêng. Dưới đây là liệt kê và tóm tắt chức năng chính của hệ thống phần mềm quản lý bệnh nhân.

Hệ thống quản lý bệnh nhân (Patient Information Management System - PIS): Hệ thống quản lý bệnh nhân ghi chép thông tin của bệnh nhân từ khi bắt đầu nhập viện đến khi xuất viện. Mỗi giai đoạn giao dịch của bệnh nhân với bệnh viện đều được ghi nhận bằng máy tính. Ở đây chỉ mô tả những vấn đề quan trọng mà các phân hệ chức năng cần kiểm soát.

Sơ đồ tính năng trong phân hệ quản lý thông tin bệnh nhân.

3.1. Tiếp nhận – thu phí – BHYT:

• Chức năng tiếp nhận giúp ghi thông tin định danh bệnh nhân như họ tên, tuổi, giới. Ghi nhận thông tin theo từng đợt khám như nơi chuyển đến, chẩn đoán tuyến trước... Xếp loại đối tượng bệnh nhân.

• Chức năng thu phí: tùy theo loại đối tượng bệnh nhân mà cách tính phí khác nhau. Điều này quan trọng vì cách tính phí của BHYT khác nhau tùy đối tượng.

• Chức năng kiểm tra BHYT: sau mỗi đợt khám, phần mềm sẽ tự kiểm tra tính hợp lệ cho đối tựơng BHYT và lưu thông tin hóa đơn để lập báo cáo tài chính BHYT.

• Phần mềm có chức năng chuyển đổi đối tượng để giải quyết các vấn đề quên thẻ hoặc thẻ hết hạn sử dụng.

3.2. Phân hệ phòng khám:

• Bảng danh sách bệnh nhân chờ: BN đăng ký khám phòng khám nào thì tên bệnh nhân sẽ vào danh sách chờ của phòng khám đó.

• Chức năng ghi sinh hiệu, tiền sử bệnh, các tình trạng đặc biệt như có thai, cho chon bú, bệnh tiểu đường... làm cơ sở cho việc kê đơn thuốc an toàn.

• Chức năng khám, ghi triệu chứng.

• Chức năng ghi y lệnh, chỉ định cận lâm sàng. Chức năng này giúp BS hoàn tất 1 y lệnh một cách nhanh chóng. BS biết giá tiền của một phiếu chỉ định để tùy chỉnh cho từng bệnh nhân.

• Chức năng kê đơn thuốc: các đơn thuốc được tự động hóa về cách kê đơn, kiểm tra trùng thuốc, trùng hoạt chất, tương tác thuốc, chống chỉ định trong trường hợp đặc biệt.

• Các xử trí khác: chuyển khám chuyên khoa khác, chuyển viện, nhập viện, tư vấn, bỏ khám.

3.3. Phân hệ chẩn đoán có hình ảnh:

• Phương tiện y khoa ngày nay cung cấp nhiều hình ảnh giúp chẩn đoán rõ ràng, chính xác như X quang, nội soi, siêu âm, CT. MRI...

• Các phương tiện này có tính năng chụp lại hình ảnh y khoa theo định dạng DICOM và NON-DICOM. Các hình ảnh này được lưu vào hồ sơ bệnh nhân và dễ dàng được truy tìm theo mã bệnh nhân hoặc theo chẩn đoán.

3.4. Phân hệ xét nghiệm:

• Phân hệ xét nghiệm ghi nhận kết quả xét nghiệm và kết nạp tự động vào hồ sơ bệnh nhân. Các kết quả xét nghiệm được cảnh báo số liệu bất thường.

• Các máy xét nghiệm đời mới đều có chức năng xuất kết quả xét nghiệm ra máy tính. Hệ thống phần mềm tự động nhập kết quả từ máy xét nghiệm vào hồ sơ bệnh nhân.

3.5. Phân hệ dược ngoại trú:

• Chức năng nhập thuốc, định giá thuốc, xuất thuốc được thiết kế nhiều option tùy mô hình quản lý của bệnh viện.

• Phân hệ dược nối kết với phân hệ đơn thuốc điện tử để cung cấp thông tin về số lượng, đơn giá cho bác sĩ biết. Ngược lại, các đơn thuốc của BS cũng được chuyển đến phân hệ dược để khoa dược xuất bán mà không cần phải nhập liệu và tính toán lại.

• Dược ngoại trú BHYT dùng để phát thuốc cho đối tượng BHYT có mối quan hệ chặt chẽ với phân hệ thẩm định BHYT, chỉ cấp thuốc sau khi đã được duyệt.

3.6. Phân hệ quản lý nội trú:

• Chức năng quản lý xuất nhập viện: mô phỏng lại tờ bìa bệnh án. Các thông tin về nhập viện, xuất viện, chuyển khoa, kết quả điều trị... được lưu vào dữ liệu để xuất thành các báo cáo theo từng tiêu chí.

• Chức năng ghi bệnh án và y lệnh: bác sĩ ghi bệnh án nhập viện và bệnh án hàng ngày vào phần mềm, tương đương với tờ ruột bệnh án.

• Chức năng quản lý dịch vụ: mỗi bệnh nhân nhập viện đều có hưởng các dịch vụ y tế.

• Chức năng quản lý dược nội trú: đây là hệ thống phức tạp. Các thuốc được kê đơn sẽ được tổng hợp và chuyển đến các kho dược; nhập thuốc từ các kho dược về phân phối lại cho bệnh nhân.

3.7. Hệ thống quản lý dược bệnh viện

• Hệ thống kho thuốc: bao gồm kho chẵn có chức năng thu mua và phân phối thuốc cho kho lẻ; các kho lẻ được xem như các kho phân loại thuốc.

• Hệ thống dược nội trú: dùng để tổng hợp yêu cầu thuốc, gửi đến các kho, nhận thuốc về khoa và phân phối cho bệnh nhân.

• Hệ thống tủ trực: tại các khoa cấp cứu, khoa thủ thuật đều có tủ trực để quản lý các thuốc cần dùng ngay.

• Hệ thống quản lý vật tư y tế và sinh phẩm: để quản lý vật tư y tế, oxy, sinh phẩm huyết học, hóa chất...

3.8. Phân hệ báo cáo – thống kê – khai thác dữ liệu (data mining).

• Toàn bộ số liệu của các khoa chức năng đều được ghi vào dữ liệu và xuất thành các hệ thống báo cáo theo mẫu chuẩn quốc gia, thành các bảng thống kê riêng của bệnh viện.

• Hệ thống dữ liệu của phần mềm sẽ trở thành nguồn tài liệu vô giá cho việc thống kê, nghiên cứu khoa học (secondary use).

Hệ thống quản lý bệnh viện (Hospital Information Management System - HIS):

Ngoài các phân hệ quản lý bệnh nhân quan trọng kể trên, còn có các phân hệ quản lý nội bộ hoạt động của bệnh viện.

3.9. Quản lý nhân sự: Quản lý hợp đồng, lý lịch, công việc, chấm công, NCKH...

3.10. Quản lý tài sản: quản lý lý lịch tài sản, sử dụng tài sản, khấu hao...

3.11. Quản lý tài chính: quản lý kế toán dược, kế toán viện phí và các tài khoản kế toán bệnh viện khác.


3.12. Quản lý hành chính: quản lý công văn đến và đi.


4. Kỹ thuật lập trình và các giải pháp:

Khi ứng dụng CNTT vào quản lý bệnh viện thì không chỉ cần có phần mềm quản lý bệnh viện chuyên nghiệp mà còn phải kèm theo các giải pháp và thay đổi quy trình hoạt động bệnh viện. Một trong những giải pháp mang tính quyết định sự thành công của hệ thống là dùng công nghệ điện toán đám mây (phần mềm trên nền web 2.0)

4.1. Điện toán đám mây:

- Phần mềm PC: là phần mềm được cài đặt trên từng máy tính cá nhân. Nếu máy tính hư thì phần mềm không sử dụng được.

- Phần mềm đám mây: là phần mềm và dữ liệu được cài đặt tại máy chủ. Người dùng truy cập mạng vào máy chủ để thao tác, ghi và lấy dữ liệu. Như vậy, khi dùng phần mềm với giải pháp điện toán đám mây thì toàn thể máy tính trong bệnh viện sẽ truy cập vào một nơi là máy chủ để thao tác.

4.2. Các giải pháp kỹ thuật:

- Ngoài việc thiết kế tính năng cho phần mềm, bệnh viện còn phải tính đến các giải pháp quan trọng như bảo mật thông tin, chống quá tải máy chủ, lưu trữ dữ liệu, chia sẻ dữ liệu cho bệnh viện khác...

4.3. Giải pháp quy trình:

- Khi ứng dụng CNTT vào quản lý bệnh viện, cách thức hoạt động, quy trình khám chữa bệnh cũng sẽ phải thay đổi.

Ví dụ:

- Bệnh viện có thể bố trí các trạm tiếp nhận và thu phí ở nhiều nơi khác nhau trong bệnh viện tạo thuận lợi cho bệnh nhân đóng phí.

- Y tá ngồi riêng 1 bàn tiếp nhận bệnh nhân để đo sinh hiệu, ghi tiền sử bệnh, thể trạng... cho bệnh nhân trước khi bệnh nhân vào gặp bác sĩ.

5. Phản ứng tích cực từ nơi ứng dụng:

Các bệnh viện đã ứng dụng phần mềm đã có những phản hồi tích cực.

- Bệnh viện Bạch Mai – Hà Nội đã giải quyết bài toán quá tải tại Khoa Khám Bệnh khi bố trí nhiều bàn tiếp nhận – thu phí tại nhiều nơi, tầng trệt, tầng lầu và tại các khoa khám chuyên sâu. Bệnh viện này còn tiên phong trong việc khám bệnh ngày thứ Bảy cho đối tượng BHYT.

- Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc chống thất thoát nhờ kiểm soát được tài chính, viện phí, tính được năng suất lao động của từng phòng ban chức năng.

- Bệnh viện đa khoa Phú Quốc đã tăng số tiền nhận từ bảo hiểm y tế nhờ lập thống kê quyết toán chính xác.

- Phòng khám đa khoa An Khang, công ty sữa Vinamilk đã cung cấp cho khách hàng hồ sơ điện tử khám sức khỏe định kỳ, tạo được uy tín cho khách hàng bệnh nhân.

6. Những trường hợp thất bại:

Hiện nay nhiều bệnh viện cũng đã trang bị phần mềm, tuy nhiên đa phần không hài lòng với kết quả khi ứng dụng thực tế. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thất bại này.

- Phẩn mềm thiếu tính năng: phần mềm chỉ phát huy tác dụng tốt nhất khi có đủ tính năng liên hoàn. Sử dụng phần mềm thiếu tính năng hoặc không liên hoàn sẽ gây gián đoạn dữ liệu. Người dùng sẽ phải nhập liệu lại nhiều lần thông tin bệnh nhân. Dữ liệu bệnh nhân không liên kết nhau, gây khó khăn trong việc truy lục hồ sơ.

- Phần mềm do các công ty không có chuyên môn y tế: muốn xây dựng một phần mềm đáp ứng được yêu cầu quản lý thì đòi hỏi công ty phần mềm phải có kiến thức chuyên môn về y khoa quản lý và y khoa chuyên môn. Người thiết kế phải am hiểu hoạt động bệnh viện như một giám đốc bệnh viện đầy kinh nghiệm thì mới tính hết mọi tình huống có thể xảy ra trong quá trình hoạt động.

- Phần mềm chưa qua trải nghiệm thực tế: tính năng phần mềm ngay sau khi áp dụng lần đầu sẽ rất nhiều thiếu khuyết và được bổ sung dần trong quá trình trải nghiệm thực tế. Chính người dùng là bác sĩ, y tá, lãnh đạo bệnh viện phản ánh thiếu sót, góp ý bổ sung tính năng đến mức hoàn thiện. Những phần mềm chưa qua trải nghiệm ở nhiều bệnh viện khác nhau sẽ không đáp ứng đầy đủ yêu cầu hoạt động của bệnh viện.

7. Hướng phát triển tiếp theo:

Sau khi các bệnh viện đã ứng dụng tốt phần mềm quản lý bệnh viện, bước kế tiếp là khai thác tài nguyên dữ liệu đã có.

- Kết xuất dữ liệu thành báo cáo chung vào trung tâm tích hợp dữ liệu (datacenter) của cơ quan quản lý nhằm thống kê số liệu động, đúng thời gian thực.

- Chuyển dữ liệu từ bệnh viện này sang bệnh viện khác nhằm tiết kiệm chi phí cận lâm sàng.

- Thành lập telemedicine (y học từ xa): bệnh viện tuyến dưới có thể gửi tài liệu bệnh nhân đến tuyến trên nhờ tham vấn, phân tích hình ảnh y khoa...

- Nếu được sự quan tâm, đầu tư đúng mức của nhà nước, Việt Nam có thể trở thành một trong những quốc gia đầu tiên có hệ thống y tế điện tử quốc gia trước năm 2015.

8. Liên lạc:

BS Phan Xuân Trung
Website: http://www.ykhoa.net/
Email: phanxuantrung@ykhoa.net
Phone: 0903774437



Thứ Bảy, 4 tháng 2, 2012

45 thói ngụy biện ở người Việt

Tranh luận trên các diễn đàn công cộng là một hình thức trao đổi ý kiến không thể thiếu được trong một xã hội văn minh. Ở nhiều nước, lưu lượng của những tranh luận cởi mở và nghiêm túc được xem là một dấu hiệu của một xã hội lành mạnh. Ở các nước phương Tây, hầu như ngày nào báo chí cũng có những bài của những cây bỉnh bút tranh luận về một vấn đề nóng nào đó. Trên tivi cũng có những cuộc tranh luận trực tiếp giữa hai hay nhiều người về những chủ đề từ “đại sự” đến những vấn đề tưởng như nhỏ nhất. Trong các hội nghị khoa học, trước một vấn đề còn trong vòng nghi vấn, người ta cũng có những chuyên gia tranh luận dưới dạng những bài giảng khoa học.
Nhưng thế nào là tranh luận nghiêm túc? Nói một cách ngắn gọn, cũng như trong một cuộc đấu võ, một tranh luận nghiêm túc là một cuộc tranh luận có qui tắc, mà trong đó người tham gia không được, hay cần phải tránh, phạm luật chơi. Những qui tắc chung và căn bản là người tham gia chỉ phát biểu bằng cách vận dụng những lí lẽ logic, với thái độ thành thật và cởi mở, chứ không phát biểu theo cảm tính, lười biếng, hay biểu hiện một sự thiển cận, đầu óc hẹp hòi.

Để đạt những yêu cầu này, người tranh luận nghiêm túc trước khi phát biểu hay đề xuất ý kiến, đưa ra lời bình phẩm của mình, cần phải xem xét tất cả các trường hợp khả dĩ, phải cân nhắc những quan điểm và những cách giải thích khác nhau, phải đánh giá ảnh hưởng của sự chủ quan và cảm tính, phải tập trung vào việc tìm sự thật hơn là muốn mình đúng, phải sẵn sàng chấp nhận những quan điểm không được nhiều người ưa chuộng, và phải ý thức được định kiến và chủ quan của chính mình. Khi tranh luận phải nhất quán là chỉ xoay quanh chủ đề bàn luận, luận điểm bàn luận chứ không đi lạc đề. Không công kích vào cá nhân và nhân thân của người tham gia tranh luận.

Đó là những đòi hỏi khó khăn cho một cuộc tranh luận nghiêm túc có ý nghĩa, và không phải ai cũng có khả năng đạt được những yêu cầu này, nhất là đối với người Việt vốn chưa quan với văn hóa tranh luận. Do đó, không mấy ai ngạc nhiên khi thấy có quá nhiều trường hợp chất lượng của những cuộc tranh luận giữa người Việt rất thấp. Chỉ cần xem qua những cái-gọi-là “tranh luận” trên các diễn đàn báo chí (và nhất là các “chat room” hay blog), người ta có thể thấy đó không phải là tranh luận, mà là những cuộc đụng độ giũa các cá nhân tham gia tranh luận, những cuộc chửi bới, chẳng có lí luận của người tranh luận. Ngoài ra, đối với một số người tham gia bình luận về một câu chuyện nào đó là một cuộc dàn xếp, một sự đóng kịch, nhằm tung hỏa mù hoặc lên lớp, hoặc a dua theo đám đông. Đó là những kịch bản ngớ ngẩn đến tội nghiệp. Ngớ ngẩn là vì người xuất hiện chẳng nói được gì cho đầy đủ, mà cũng chẳng phân tích một vấn đề gì cho đến nơi đến chốn.

Thật vậy, rất nhiều trường hợp, những cuộc tranh luận giữa người Việt chỉ là những cuộc chửi lộn, mà trong đó người ta tha hồ vung vít, ném liệng vốn liếng chữ nghĩa qua lại một cách hỗn độn, mà chẳng cần để ý đến logic hay các nguyên tắc của tranh luận là gì. Hơn nữa, rất dễ dàng nhận thấy rằng trong các cuộc tranh luận đó người ta nhắm vào mục tiêu là nhân thân, cá nhân của người tranh luận chứ không nhắm vào quan điểm và lí lẽ của người đó. Thay vì tranh luận thẳng vào vấn đề, người ta tìm cách gắn cho đối phương một nhãn hiệu, và từ đó làm lu mờ đi quan điểm của họ. Trong hầu như những tranh luận, nhiều người cố tìm hay tạo cho mình một vị trí đạo cao đức trọng cả bằng cách gắn cho đối phương những danh từ và tính từ mang tính miệt thị, một thủ đoạn có khả năng làm cho một cuộc tranh luận trở nên một cuộc ẩu đã ngôn từ đinh tai nhức óc thay vì là một trao đổi khoa học.

Thực ra, đó là một hình thức ngụy biện, một lỗi lầm cơ bản nhưng nghiêm trọng trong tranh luận. Nói một cách đơn giản, ngụy biện là những nhầm lẫn trong lí luận và suy luận. Ngụy biện khác với logic. Logic, nói một cách ngắn gọn trong trường hợp này, là những qui ước quản lí tính nhất quán trong việc sử dụng ngôn ngữ. Giới triết học Tây phương đã bỏ khá nhiều công sức để phân biệt thế nào là logic và thế nào là ngụy biện. Aristotle có lẽ là một nhà logic học đầu tiên có công phát triển các qui tắc và hệ thống suy luận. Trong quá trình làm việc, ông phát hiện ra nhiều lỗi lầm mà sau này người ta quen gọi là những “ngụy biện.” Mặc dù Aristotle là một nhà nhà logic học đầu tiên có công liệt kê và phân loại những loại ngụy biện, thầy của ông (Plato) mới xứng đáng được vinh danh như là một nhà triết học đầu tiên đã có công sưu tầm những ví dụ về ngụy biện. Kể từ khi Plato và Aristotle, đã có khá nhiều nhà triết học và logic học như John Locke, John Stuart Mill, Jeremy Bentham, và Arthur Schopenhauer cũng có nhiều cống hiến quan trọng trong việc nghiên cứu về ngụy biện.

Điều đáng chú ý là những lỗi lầm về ngụy biện ở người Việt lại hay thấy trong giới có học. Chỉ cần điểm qua báo chí, websites, blog, v.v… chúng ta dễ dàng thấy rất nhiều cái-gọi-là “tranh luận” thật ra chỉ là ngụy biện. Tuy nhiên, nhiều người vẫn chưa biết đó là những ngụy biện, mà thậm chí còn hết lời khen ngợi kẻ ngụy biện là … uyên bác! Điều này cho thấy trong những người Việt học cũng có người rất lười biếng suy nghĩ và chẳng phân biệt được thật và giả, không có khả năng nhận dạng được ngụy biện. Phải ghi nhận một điều là internet đã rất tuyệt vời, vì qua những “tranh luận” và chửi bới của những kẻ tham gia trên internet, chúng ta biết được bộ mặt xấu xí đằng sau những người mang nhãn mác “trí thức” hay “có học”. Những kẻ này tương đối nguy hiểm, vì với cái nhãn mác “có học” đó, họ có cơ hội làm lũng đoạn xã hội và trở thành những con vi khuẩn làm nhiễm trùng nền học thuật nước nhà. Do đó, cần phải giúp họ nhận ra đâu là ngụy biện và đâu là logic.

Thực ra, nhận dạng ngụy biện không phải là một việc làm khó khăn. Nói chung chỉ với một lương năng bình dân, người ta có thể phân biệt một phát biểu mang tính ngụy biện với một phát biểu logic. Tuy nhiên, cũng có nhiều dạng thức ngụy biện mà vẻ bề ngoài hay mới nghe qua thì rất logic, nhưng thực chất là phi logic. Những loại ngụy biện núp dưới hình thức “khoa học” này không dễ nhận dạng nếu người đối thoại thiếu kiến thức về logic học hay thờ ơ với lý lẽ. Do đó, một điều quan trọng trong tranh luận là cần phải phát hiện và nhận dạng những hình thức ngụy biện, và quan trọng hơn, cần phải hiểu tại sao chúng sai. Có thể phân loại ngụy biện thành nhiều nhóm khác nhau liên quan đến việc đánh lạc vấn đề, lợi dụng cảm tính, thay đổi chủ đề, nhầm lẫn trong thuật qui nạp, lý luận nhập nhằng, phi logic, và sai phạm trù. Trong khuôn khổ giới hạn, người viết bài này không có tham vọng trình bày tất cả những loại ngụy biện một cách chi tiết (vì việc này đã được hệ thống hóa trong nhiều sách về logic học), mà chỉ muốn liệt kê ra những loại ngụy biện thường hay gặp trong báo chí và truyền thông, hầu giúp bạn đọc có thể phân biệt giữa chân và giả.

Liệt kê sau đây là một loạt những ngụy biện phổ biến hay thấy ở người Việt. Những ngụy biện này có thể phân thành 7 nhóm như sau:
• Đánh tráo chủ đề
• Lợi dụng cảm tính và đám đông
• Làm lạc hướng vấn đề
• Qui nạp sai
• Nhập nhằng đánh lận con đen
• Phi logic
• Các nhầm lẫn khác

Nhóm 1. Đánh tráo chủ đề

1. Công kích cá nhân (ad hominem). Đây là một loại ngụy biện phổ biến nhất, thấp kém nhất, nguy hiểm nhất, nhưng có “công hiệu” nhất, vì nó tấn công vào cá nhân của người tranh luận, và tìm cách trốn tránh luận điểm của cá nhân đó. Hình thức ngụy biện này thường xuất hiện dưới dạng: Ông A phát biểu về một vấn đề; ông B tấn công vào cá nhân ông A, và làm cho người ta nghi ngờ luận điểm của ông A. Tuy nhiên, có thể không có mối liên hệ nào giữa cá nhân và luận điểm của ông A.

Có hai hình thức thuộc loại ngụy biện này. Thứ nhất là dưới hình thức sỉ nhục, hay chửi rủa. Khi bất đồng ý kiến, người ngụy biện chỉ việc công kích vào cá nhân của người phát biểu. Chẳng hạn như “Ông nói là những người vô thần có đạo đức, vậy mà chính ông là người từng li dị với vợ con,” hay “Ông là người làm kinh tế, không biết gì về khoa học, mà nói chuyện khoa học”. Đây là một ngụy biện, bởi vì sự thật của phát biểu không tùy thuộc vào cá nhân của người phát biểu, mà là logic của lời phát biểu. Cũng nằm trong loại ngụy biện này là thói dùng một đặc điểm của một vật thể nào đó để ứng dụng cho một cá nhân hay một vật thể khác. Ví dụ: “Anh học của Tây có vài chữ mà đã quay lại chửi bới đồng nghiệp à? Anh là con công cháu cha, anh không hiểu gì về sự nghèo khổ của chúng tôi.”

2. Lợi dụng quyền lực (ad verecundiam). Đây là loại ngụy biện dùng những nhân vật nổi tiếng hay được nhiều người ái mộ để tìm sự ủng hộ cho luận điểm của mình. Chẳng hạn như “Isaac Newton là một thiên tài, và ông tin vào Thượng đế,” làm như ông Newton là người có thẩm quyền để chúng ta tin vào Thượng đế. Thẩm quyền không thuyết phục được ai; chỉ có sự thật, lí lẽ và logic mới quan trọng và có khả năng thuyết phục.

3. Lợi dụng nặc danh. Trong trường hợp này, người ngụy biện không nêu danh tính người có thẩm quyền, và vì không ai biết tên người có thẩm quyền nên không ai có thể kiểm chứng sự chính xác của lời phát biểu. Một loại ngụy biện khác có quan hệ với loại này là dùng lời đồn đại để làm cơ sở lập luận. Giới công an hay sử dụng ngụy biện này, ví dụ như “Một viên chức tình báo cho biết chính anh từng hoạt động cho địch.”

4. Lợi dụng tác phong. Loại ngụy biện này dùng tác phong hay cách làm việc hay một đặc tính nào đó của đối tượng để cố thuyết phục về tính hợp lí của phát biểu. Tiêu biểu cho loại ngụy biện này là những phát biểu như “Nixon thất cử vì ông ta thường hay ra mồ hôi trên trán,” hay “Tại sao anh không nghe theo lời khuyên của anh chàng ăn mặc bảnh bao đó?” Thực ra, “bảnh bao” và “mồ hôi trên trán” chẳng có dính dáng gì đến vấn đề đang bàn thảo.

5. Luận điệu cá trích. Loại ngụy biện này thường hay được ứng dụng khi một người nào đó đưa vào những phát biểu không dính dáng gì đến vấn đề đang tranh luận, nhằm mục đích đánh lạc hướng vấn đề. Ví dụ: “Anh có thể nói rằng tử hình là một hình thức không có hiệu quả trong việc chống lại tội phạm, nhưng còn nạn nhân của tội phạm thì sao? Gia đình của nạn nhân sẽ nghĩ gì khi họ thấy tên sát nhân người thân của họ bị giam giữ trong nhà tù bằng đồng tiền của chính họ. Họ có nên nuôi dưỡng những tên sát nhân như thế không?”

6. Luận điệu ngược ngạo. Bằng chứng luôn luôn là gánh nặng của người phát biểu. Do đó, tìm cách chuyển gánh nặng đó cho một người khác là một thủ đoạn của những người ngụy biện. Chẳng hạn như trong câu này “Anh nói rằng ăn nhiều mỡ không liên quan đến cholesterol, nhưng anh có thể chứng minh điều đó không?” Đáng lẽ người phát biểu phải chứng minh, nhưng công việc đó lại được chuyển cho người đối thoại!

Nhóm 2. Lợi dụng cảm tính và đám đông

7. Dựa vào bạo lực (ad baculum). Ngụy biện dựa vào bạo lực thực chất là một sự đe dọa, nhằm mục đích gây áp lực cho người đối thoại phải chấp nhận một kết luận nào đó. Loại ngụy biện này thưởng được giới chính khách dùng, và có thể tóm gọn bằng một câu “chân lí thuộc về kẻ mạnh”. Sự đe dọa không hẳn chỉ xuất phát từ người phát biểu, mà có thể từ một người khác. Ví dụ như “Những ai không tin vào chính sách của Nhà nước sẽ phải trả giá đắt”, hay “Được rồi, tôi đã biết số điện thoại của anh và biết anh đang ở đâu. À, tôi có nói cho anh biết là tôi mới mua một cây súng ngắn chưa nhỉ?”

8. Lợi dụng lòng thương hại (ad misericordiam). Đây là một loại ngụy biện dựa vào lòng trắc ẩn của người đối thoại để người đối thoại chấp nhận lí lẽ của mình. Ví dụ như “Anh ấy không có giết người bằng búa. Làm ơn đừng tuyên án anh ấy có tội, anh ấy đang trải qua một giai đoạn khủng hoảng tinh thần,” hay “Tôi hi vọng anh sẽ chấp nhận đề nghị này, chúng ta đã tiêu ra ba tháng nay để bàn rồi đấy.”

9. Lợi dụng hậu quả (ad consequentiam). Ngụy biện loại này thường được biểu hiện qua cách phát biểu “A hàm ý B, B là sự thật, do đó A là sự thật”. Ví dụ: “Nếu vũ trụ được một đấng chí tôn thượng đế tạo nên, chúng ta có thể thấy những hiện tượng được tổ chức một cách thứ tự. Và hiện tượng chung quanh chúng ta quả rất thứ tự, vậy đấng chí tôn thượng đế chính là người tạo nên vũ trụ,” hay “Anh phải tin vào Đảng Cộng hòa, chứ nếu không cuộc đời này sẽ chẳng có ý nghĩa” (hay là nói một cách ngược lại: cuộc sống này chẳng có ý nghĩa gì nếu không có Đảng cộng hòa!)

10. Lạm dụng chữ nghĩa. Đây là một loại ngụy biện dựa vào dùng những chữ mang cảm tính cao để gắn một giá trị đạo đức vào một đề nghị hay một câu phát biểu. Chẳng hạn như trong câu “Bất cứ một người có lương tri nào cũng phải đồng ý rằng về Việt Nam ăn Tết là làm lợi cho cộng sản,” chữ “lương tri” được cài vào nhằm cho người đối thoại phải nghiêng theo những người có lương tri.

11. Dựa vào quần chúng (ad numerum). Loại ngụy biện này tin rằng nếu có nhiều người ủng hộ một đề nghị nào đó, thì đề nghị đó phải đúng. Ví dụ như “Đại đa số người dân trong cộng đồng ủng hộ ông Minh, vậy phát biểu của ông Minh ắt phải đúng.”

Nhóm 3. Làm lạc hướng vấn đề

12. Lí lẽ chẻ đôi. Loại ngụy biện này thường phân định một vấn đề thành hai giá trị: trắng và đen, bạn và thù, có và không, v.v.. dù trong thực tế, có hơn hai lựa chọn. Chẳng hạn như “Hoặc là anh hợp tác với tôi hay là anh chống tôi, anh chọn hướng nào, yes hay là no?”

13. Lí lẽ ngờ nghệch (ad ignorantiam). Loại ngụy biện này, như tên gọi ám chỉ, xuất phát từ sự ngớ ngẩn. Một trong những cách nói thông thường nhất trong loại ngụy biện này mà giới ngụy biện hay dùng là nếu một điều gì đó chưa được chứng minh là sai (hay giả) thì điều đó là đúng (hay thật). Ví dụ: “Bởi vì các nhà khoa học chưa chứng minh dioxin có thể gây ra dị thai, do đó dioxin không thể gây ra dị thai,” hay kiểu lí luận của “nền kinh tế phát triển và xã hội ổn định mấy năm nay, không có lý do gì phải cần đến dân chủ”.

14. Lí luận lươn trạch. Loại ngụy biện này cho rằng nếu một sự kiện xảy ra, các sự kiện có hại khác sẽ xảy ra. Chẳng hạn như “Nếu chúng ta hợp pháp hóa cần sa, công chúng sẽ bắt đầu hút cần sa, và chúng ta cũng sẽ phải hợp pháp hóa á phiện. Rồi chúng ta sẽ là một quốc gia với những người ăn bám vào xã hội. Do đó, chúng ta không thể hợp pháp hóa á marijuana”. Hay một đoạn ví dụ khác:” Tiếc thay một cuộc cải cách về kinh tế, bình bị, tài chánh, xã hội, nông nghiệp như vậy, đang trên đường thành công rực rỡ: bị tan vỡ, bị huỷ bỏ chỉ vì tham vọng đánh Đại việt của Vương An Thạch. Mà đau đớn biết bao, khi người phá vỡ chỉ là một thiếu phụ Việt ở tuổi ba mươi. Giá như Thạch không chủ trương Nam xâm, chỉ cần mười năm nữa, toàn bộ xã hội Trung quốc thay đổi; rồi với cái đà đó, thì Trung quốc sẽ là nước hùng mạnh vô song, e rằng cứ muôn đời mặt trời vẫn nở phương Đông chứ không ngả về Tây như hồi thế kỉ 18 cho đến nay bao giờ.”

15. Mệnh đề rời rạc. Đây là loại ngụy biện dùng hai (hay nhiều hơn hai) mệnh đề chẳng dính dáng gì với nhau để làm thành một phát biểu hay kết luận. Ví dụ: “Anh ủng hộ tự do dân chủ và quyền mang vũ khí hay không?” hay “Anh đã ngưng làm ăn trái phép chưa?” Câu hỏi sau thực ra hỏi hai vấn đề “Anh từng làm ăn trái phép?” và “Anh đã ngừng hoạt động hay chưa?”

16. Đơn giản hóa. Đây là một loại ngụy biện mà người phát biểu cố tình biến một quan niệm trừu tượng thành một điều cụ thể để bắt lấy thế thượng phong trong đối thoại (nhưng là ngụy biện). Ví dụ: “Tôi để ý thấy anh mô tả ông ta là một người quỉ quyệt. Vậy tôi hỏi anh cái “quỉ quyệt” đó nó nằm ở đâu trong bộ não? Anh không chỉ ra được cho tôi; do đó, tôi có thể nói cái quỉ quyệt không có thực.”

Nhóm 4. Qui nạp sai

17. Khái quát hóa vội vã. Loại ngụy biện này cũng khá phổ biến. Nó dùng một ví dụ hay trường hợp nhỏ và từ đó khái quát hóa cho một cộng đồng. Chẳng hạn như “Ông ấy là một tay đạo đức giả. Do đó, các bạn bè của ông ấy cũng giả dối.”

18. Khái quát hóa không đúng chỗ. Đây là loại ngụy biện mà người sử dụng chúng thường áp dụng một qui luật chung cho một tình huống hay một cá nhân. Chẳng hạn như “Người cộng sản là vô thần. Anh là người theo chủ nghĩa cộng sản, vậy anh chắc chắn là một người vô thần.”

19. Kéo dài tính tương đồng. Trong loại ngụy biện này, người dùng nó đề nghị một điều lệ chung chung, rồi áp dụng nó cho mọi trường hợp và cá nhân. Ví dụ: “Tôi tin rằng chống luật pháp bằng cách phạm luật pháp là một điều sai trái”, hay “Nhưng quan điểm đó ghê tởm lắm, vì nó ám chỉ rằng anh sẽ không ủng hộ tôi,” hay “Anh muốn nói rằng luật về mật mã cũng có tầm quan trọng tương đương với phong trào giải phóng sao? Sao anh dám nói thế?”

20. Lí lẽ quanh co. Loại ngụy biện này thường luẩn quẩn trong vài giả định và kết luận. Chẳng hạn như “Những người đồng tính luyến ái nhất định không thể nắm chính quyền. Do đó, phải tống khứ những viên chức chính phủ đồng tính luyến ái. Vì thế, những người đồng tính luyến ái sẽ làm mọi cách để dấu diếm hành tung của họ, và họ có nguy cơ bị tống tiền. Do vậy, những người đồng tính luyến ái không được giữa chức vụ gì trong chính phủ.” Tức là trong một lí giải như thế, cả hai giả thuyết và kết luận đều giống nhau.

21. Đảo ngược điều kiện. Loại ngụy biện này thường được biểu hiện qua hình thức “Nếu A xảy ra thì B sẽ xảy ra, do đó, nếu B xảy ra thì A sẽ xảy ra.” Ví dụ: “Nếu tiêu chuẩn giáo dục bị hạ thấp, chất lượng tranh luận sẽ bị tồi đi. Do đó, nếu chúng ta thấy chất lượng tranh luận suy đồi trong những năm sắp đến, thì điều đó cho thấy tiêu chuẩn giáo dục của ta bị xuống cấp.”

22. Lợi dụng rủi ro. Ngụy biện này thường dùng một qui luật chung và áp dụng nó cho một trường hợp cá biệt. Ví dụ: “Luật giao thông không cho anh chạy quá 50 km/h. Cho dù cha anh sắp chết anh cũng không được chạy quá tốc độ đó.”

23. Lợi dụng trường hợp cá biệt. Ngụy biện này thường dùng một trường hợp cá biệt để đem ra ứng dụng cho một đám đông. Ví dụ: “Chúng ta cho phép bệnh nhân sắp chết dùng á phiện, chúng ta nên cho phép mọi người dùng á phiện.”

24. Kết luận lạc đề. Loại ngụy biện này thường xuất hiện khi một kết luận chẳng dính dáng gì đến lí lẽ mà người biện luận trình bày. Một ví dụ tiêu biểu cho trường hợp ngụy biện này là: “Độ nhiễm arsenic trong nước ở Việt Nam chưa cao và còn trong mức độ cho phép. Dữ kiện của Bangladesh cho thấy tình trạng nhiễm arsenic ở Việt Nam rất trầm trọng.”

25. Ngụy biện rơm. Loại ngụy biện này cố tình xuyên tạc, bóp méo quan điểm hay phát biểu của người khác, để làm luận điểm tấn công. Đây là một ngụy biện, vì nó không đương đầu với cái lí lẽ đang bàn. Chẳng hạn như: “Chúng ta nên ủng hộ chế độ cưỡng bách quân dịch. Người ta không thích tòng quân vì họ không muốn cuộc sống bị đảo lộn. Nhưng họ cần nhận thức rằng có nhiều điều quan trọng hơn tiện nghi trong cuộc sống.”

Nhóm 5. Nguyên nhân giả tạo

26. “Post hoc”. Loại ngụy biện này phát biểu rằng hai sự kiện xảy ra, một trước và một sau, có quan hệ với nhau như nguyên nhân và hậu quả. Ví dụ: “Liên Xô sụp đổ sau khi nhà nước theo chủ nghĩa vô thần. Do đó, chúng ta phải từ bỏ chủ nghĩa vô thần để khỏi bị suy sụp.”

27. Ảnh hưởng liên đới. Một sự kiện được cho là có ảnh hưởng đến một sự kiện khác, nhưng thực chất thì cả hai sự kiện đều có cùng một nguyên nhân. Đây cũng chính là một trường hợp ngụy biện dưới dạng “post hoc”. Ví dụ: “Chúng ta đang chứng kiến một tình trạng thất nghiệp rất cao, vì do thiếu nhu cầu của người tiêu thụ.” (Nhưng có thể cả hai sự kiện có nguyên nhân từ tiền lời quá cao.)

28. Ảnh hưởng không đáng kể. Đây là một loại ngụy biện mang tính phóng đại từ một ảnh hưởng rất nhỏ. Chẳng hạn như “Hút thuốc gây ra ô nhiễm môi trường ở Sydney” là một phát biểu đúng, nhưng ảnh hưởng của thuốc lá đến môi trường rất khiêm tốn khi so với ảnh hưởng của khói xe và các hãng xưởng.

29. Ảnh hưởng ngược chiều. Mối quan hệ giữa nguyên nhân và hậu quả bị đảo ngược chiều để tìm đến một kết luận mang tính ngụy biện. Ví dụ: “Ung thư gây ra thói quen hút thuốc lá”.

30. Nguyên nhân phức tạp. Một sự kiện xảy ra có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng người ngụy biện có thể đơn giản hóa thành một liên hệ đơn giản. Chẳng hạn như “Tai nạn xe cộ là do đường xá xấu” có thể đúng, nhưng tai nạn cũng có thể do người lái xe ẩu trong một điều kiện xấu.

31. Nguyên nhân sai (Non causa pro causa). Loại ngụy biện này xảy ra khi một điều nào đó được cho là nguyên nhân của một sự kiện, nhưng nó chưa thực sự được chứng minh là nguyên nhân. Ví dụ: “Tôi uống một viên aspirin và cầu nguyện thượng đế, và tôi không còn bị nhức đầu. Như vậy thượng đế đã chữa trị tôi khỏi nhức đầu.”

Nhóm 6. Phi logic (non sequitur) và nhần lẫn trong tam đoạn luận

32. Phi logic. Ngụy biện phi logic thường xảy ra trong trường hợp một lí lẽ mà kết luận được rút ra từ những tiêu đề không dính dáng gì với nhau. Chẳng hạn như “Người Ai Cập đã từng làm nhiều khai quật để xây dựng những kim tự tháp, họ chắc chắn phải rất thạo về cổ sinh vật học.”

33. Loại bỏ tiền đề. Ngụy biện loại này thường xảy ra dưới hình thức “nếu A thì B, không phải A thì không phải B.” Ví dụ: “Nếu tôi ở Sydney thì tôi đang ở New South Wales. Tôi hiện không ở Sydney, do đó, tôi không ở New South Wales”.

34. Nhét chữ vào miệng người khác. Đây là một loại ngụy biện bằng cách dùng kĩ thuật phỏng vấn. Một trường hợp cổ điển là “Ông đã ngưng đánh vợ chưa?” Tức là một câu hỏi với một giả định rằng người được hỏi từng hành hung vợ. Đây là một mẹo mà giới luật sư thường hay dùng trong thẩm vấn. “Ông dấu tiền ăn cắp đó ở đâu?” Giới chính khách cũng thích mẹo này, đại khái như “Bao giờ thì nhóm EU này sẽ không còn xâm phạm vào công việc của chúng ta?”

35. Ngụy biện tứ ngữ. (Một tiêu chuẩn của tam đoạn luận gồm có 3 chữ). Ví dụ như trong câu phát biểu “Tất cả chó là thú vật, và tất cả mèo là loài động vật có vú, do đó tất cả chó là loài động vật có vú,” có bốn chữ: chó, mèo, động vật, và động vật có vú.

36. Đứt đoạn. Hai sự vật riêng biệt được xem là có liên hệ nhau nếu chúng có chung đặc tính. Người ngụy biện lợi dụng chữ giữa của một phát biểu để đưa đến một kết luận sai. Chẳng hạn như trong câu “Tất cả người Nga là nhà cách mạng, và tất cả những người theo chủ nghĩa vô chính phủ cũng là nhà cách mạng, do đó, tất cả những người theo chủ nghĩa vô chính phủ là người Nga,” chữ chính giữa là “nhà cách mạng”. Nhưng kết luận này sai, vì dù những người theo chủ nghĩa vô chính phủ và người Nga là những người cách mạng, nhưng họ có thể là hai nhóm cách mạng khác nhau.

Nhóm 7. Các nhầm lẫn khác

37. Dẫn chứng bằng giai thoại. Một trong những ngụy biện phổ biến nhất và đơn giản nhất là dựa vào những câu chuyện có tính vụn vặt, hay giai thoại. Chẳng hạn như “Có hàng khối bằng chứng cho thấy thượng đế hiện hữu và vẫn ban phép mầu hàng ngày. Mới tuần rồi đây, tôi có đọc được một câu chuyện về một cô gái sắp chết vì ung thư, cả gia đình cô đi cầu nguyện trong nhà thờ, và chỉ vài ngày sau cô hết bệnh.” Dùng kinh nghiệm cá nhân để minh họa cho một luận điểm là một điều hoàn toàn hợp lí, nhưng dùng những giai thoại như thế sẽ chẳng chứng minh gì. Một anh bạn có thể cho rằng anh từng gặp Elvis ở một siêu thị nào đó, nhưng những người chưa gặp Elvis bao giờ thì cần nhiều bằng chứng xác thực hơn.

38. Lợi dụng cổ tích. Đây là một loại ngụy biện cho rằng những gì đúng hay tốt chỉ đơn giản vì chúng là cổ xưa, và những người theo cách ngụy biện này thường nói “hồi nào đến giờ ai cũng vậy.” Chẳng hạn như “Hàng trăm năm nay, Úc chịu dưới sự cai trị của Hoàng gia Anh, và là một nước thịnh vượng. Một thể chế tồn tại lâu dài như thế ắt phải là một thể chế ưu việt.”

39. Dựa vào cái mới (ad novitatem). Ngược lại với loại ngụy biện dựa vào cái cũ, ngụy biện dựa vào cái mới cho rằng một điều gì đó tốt hơn và đúng hơn đơn giản chỉ vì nó mới hơn cái khác. “Windows 2000 phải tốt hơn Windows 95, Windows 2000 mới được thiết kế lại năm ngoái.”

40. Lí lẽ của đồng tiền. Loại ngụy biện này thường dựa vào một niềm tin duy nhất rằng đồng tiền là một tiêu chuẩn của sự đúng đắn. Những người có nhiều tiến có khả năng đúng hơn những người ít tiền. Chẳng hạn như “Nhu liệu của hãng Microsoft đương nhiên là tốt hơn; nếu không thì làm sao Bill Gates có thể trở nên tỉ phú như thế”.

41. Dựa vào cái nghèo. Ngược lại với ngụy biện dựa vào sự giàu có, có một loại ngụy biện khác dựa vào sự nghèo khổ. Chẳng hạn như “Các vị sư có khả năng hiểu thấu được ý nghĩa của cuộc sống, bởi vì họ từ bỏ mọi xa hoa của cuộc sống.”

42. Điệp khúc (ad nauseam). Loại ngụy biện này cho rằng một lí lẽ càng được lặp đi lặp lại nhiều chừng nào thì nó sẽ được người ta chấp nhận là đúng. Do đó, người ngụy biện thường chỉ lặp đi lặp lại những phát biểu, bất kể đúng sai ra sao, cho đến khi người đối thoại mệt mỏi không còn muốn nghe nữa, như “Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, nhà nước quản lí”.

43. Lạm dụng thiên nhiên. Đây là một ngụy biện rất thông thường trong giới chính trị gia, mà trong đó họ tìm cái tương đồng giữa một kết luận nào đó và một khía cạnh của thế giới tự nhiên, rồi từ đó phát biểu rằng kết luận đó là không thể tránh khỏi. Chẳng hạn như “Đặc điểm của thế giới tự nhiên là cạnh tranh; động vật đấu tranh chống nhau để làm chủ tài nguyên thiên nhiên. Chủ nghĩa tư bản, một hình thức cạnh tranh để làm chủ tư liệu, chỉ đơn giản là một phần của con người sống trong thế giới tự nhiên. Đó cũng là cách mà thế giới tự nhiên vận hành.”

Một hình thức khác của lạm dụng thiên nhiên là lí luận cho rằng bởi vì con người là sản phẩm của thế giới tự nhiên, chúng ta phải bắt chước hành động theo những gì chúng ta thấy trong thế giới tự nhiên, và làm khác đi là “phi tự nhiên”. Ví dụ: “Đồng tính luyến ái dĩ nhiên là không tự nhiên.”

44. Ngụy biện “anh cũng vậy”. Đây là một trong những ngụy biện rất phổ biến. Nó dựa vào lí lẽ rằng một hành động có thể chấp nhận được bởi vì người đối nghịch đã làm. Chẳng hạn như “Anh là một người lừa dối.” “Rồi sao? Anh cũng là một tay lừa dối vậy.”

45. Lạm dụng thống kê. Thống kê thường được giới ngụy biện sử dụng tối đa, vì theo họ thống kê có thể dùng để “chứng minh” bất cứ điều gì. Người ta có thể vặn vẹo hai con số 1 và 3 điểm để sản xuất những phát biểu như “khác nhau 2 điểm”, “cao gấp 3 lần”, hay “tăng 200%”; người ta có thể dựa vào ý kiến đồng tình của 4 người trong 5 người để cho là “80% người được thăm dò”, hay thậm chí “đa số cộng đồng” đồng ý với một luận điểm nào đó. Tức là những khái quát hoá một cách vội vã, hay dựa vào một mẫu số cực kỳ thấp, thấp đến độ nó không có nghĩa lí gì. Thực ra, thống kê không chứng minh điều gì cả. Thống kê chỉ là một phương tiện hay thuật toán dùng để loại bỏ những trường hợp khả dĩ hay không khả dĩ. Vì có quá nhiều ngụy biện thống kê, nên vấn đề này sẽ được bàn tiếp trong một dịp khác.

Nhận xét

Có thể nói những loại ngụy biện trên đây có những đặc điểm chung là (a) phát biểu không dựa vào lí lẽ logic; (b) các định đề không vững để đi đến một kết luận; và (c) đưa ra giả định không đúng. Ngụy biện, do đó, nói cho cùng, là một sản phẩm của sự lười biếng suy nghĩ. Và hầu như trong chúng ta, ai cũng có ít nhất là một lần lười suy nghĩ. Do đó, nếu điểm qua những loại ngụy biện trên đây, chúng ta tự cảm nhận rằng trong quá khứ mình chắc cũng có lần phạm vào lỗi lầm của ngụy biện. Điều này có thể đúng, và không nên lấy làm ngạc nhiên, vì các nhà thông thái, và ngay cả giới có huấn luyện về logic học cũng đôi khi, vì cố ý hay vô tình, ngụy biện. Giới chính trị gia và truyền thông là những người cực kì nổi tiếng về ngụy biện.

Nhưng tại sao những ngụy biện vẫn còn có mặt trên báo chí? Theo tôi, bởi vì chúng vẫn có khách hàng. Vẫn có người, dù ít hay nhiều, tin tưởng vào ngụy biện, vì nó thuận nhĩ, trơn tru, và nhất là không thách thức. Sờ một hòn đá trơn tru đem lại cho chúng ta một cảm giác khoan khoái dễ chịu hơn là sờ một hòn đá lởm chởm, hay ngồi trên một cái ghế ghồ ghề. Người ta thích sự trơn tru, bởi vì trơn tru là dấu hiệu của sự khoan khoái, dễ chịu, là cái khoảng thời gian giải lao, không cần sự thách thức.

Có lẽ, ở một khía cạnh nào đó, điều này cũng không đến nỗi tệ, bởi vì những ngụy biện phản ánh sự thành công [hay có người nói sự phong phú] của ngôn ngữ trong việc tách rời giữa những gì thô thiển, gồ ghề với những gì hoàn thiện, mĩ miều. Nhưng sự trơn tru của các vật thể và ngôn ngữ ngày nay đem lại cho chúng ta một cảm giác giả tạo về thế giới thực của các vật thể. Những kì kẹt xe trên đường xá mới để lộ trái tim phức tạp của một thành phố. Tương tự, một sự cố của internet sẽ nhắc nhở chúng ta về tình trạng hỗn mang và phức tạp của hệ thống thông tin điện tử. Sự hỗn mang và phức tạp là thực. Trơn tru, tròn trĩnh có thể là giả tạo. Những câu văn ngụy biện có thể chỉ là những lời phát biểu lém lỉnh thay vì lịch thiệp, hàm chứa mánh khóe thay vì thân thiện. Có thể nói, ngụy biện là những lối sáo ngữ liến thoắng nhằm vào mục đích lôi cuốn người nghe/đọc, thay vì cung cấp cho họ một sự thực.

Bởi vì ngụy biện là những lí lẽ mà bề ngoài có vẻ logic, nên chúng có khả năng thuyết phục những người không chịu khó suy nghĩ, nhất là những người còn mang nặng cảm tính. Điều này giải thích tại sao nhiều người tiếp nhận một cách thụ động quá nhiều những điều quái gở về thế giới chung quanh, kể cả những niềm tin tôn giáo, những mê tín dị đoan, những triết lí quái đảng, những thông tin sai lạc, v.v.. Cái tác hại của việc tiếp nhận thụ động này là nó làm cho người ta trở nên nô lệ với cảm tính, và dễ dàng trở thành những tín đồ cuồng tín của những người “lãnh đạo” chính trị hay tôn giáo.

Để không trở thành những nô lệ, cần phải suy nghĩ nghiêm túc. Suy nghĩ nghiêm túc là một quá trình hoạt động tri thức nhằm ý niệm hóa, ứng dụng, phân tích, tổng hợp, và đánh giá những thông tin được thu thập từ quan sát, kinh nghiệm, phản ánh, lí luận, hay liên lạc, như là một niềm tin cho hành động. Cần phải dựa vào những giá trị tri thức với những đặc điểm như trong sáng, chính xác, nhất quán, có liên hệ, bằng chứng tốt, lí lẽ hợp lí, có chiều sâu, và công bằng. Tức là, trước một câu phát biểu hay một đề nghị, cần phải thẩm định lại kết cấu và nguyên tố của phát biểu hay đề nghị đó. Những kết cấu và nguyên tố này là: mục đích, vấn đề, giả định, quan niệm, bối cảnh, kết luận, ngụ ý, hậu quả, phạm vi tham khảo, và quan điểm khác.

Người Việt chúng ta thường rất tự hào về những đối thoại [mà chúng ta cho là “thông minh”] giữa Trạng Quỳnh và Chúa Trịnh ngày xưa. Nhưng nói một cách công bằng và theo tiêu chuẩn của lí luận logic, thì những trao đổi của Trạng Quỳnh hay tương tự chỉ là những ngụy biện ở trình độ thô sơ nhất. Nhưng có điều đáng buồn là những đối thoại kiểu Trạng Quỳnh, mà trong đó sự hơn thua nhau từng câu nói, bắt bẽ nhau từng chữ, vặn vẹo ý nghĩa của từng câu văn, v.v… lại đi vào sử sách, như thể để làm gương cho thế hệ sau này. Mà làm gương thật. Cho đến ngày nay, có người vẫn còn cho đó là một biểu tượng của sự thâm thúy, thông minh của dân tộc, là phản ánh sự phong phú của ngôn ngữ Việt, và đem ra ứng dụng trong tranh luận.

Theo dõi báo chí, chúng ta thấy những hình thức tấn công cá nhân (thay vì tấn công vào luận điểm), xuyên tạc ý tưởng, chụp mũ, suy luận theo cảm tính, mỉa mai, đơn giản hóa vấn đề, v.v… xuất hiện hầu như hàng ngày, có khi hàng giờ. Vì những tần số của những loại ngụy biện xuất hiện quá nhiều như thế, nó thành một sự rập khuôn. Theo thời gian, rập khuôn trở thành “truyền thống”. Hậu quả của cái truyền thống này là những ai ra ngoài cái khuôn sáo của ngụy biện đều có thể bị xem là phi chính thống, dẫn đến một lối suy nghĩ và phán xét kì quặc kiểu “anh/chị không thuộc nhóm của tôi, vậy thì anh/chị thuộc nhóm bên kia,” “anh chê ‘quốc gia’, vậy anh phải là cộng sản,” “anh khen Việt Nam, vậy anh là cộng sản,” “giọng nói anh ‘Bắc kỳ 75’, vậy anh là cộng sản,” hay “Nhà nước cho anh ra ngoài này trình diễn, chắc anh là cộng sản đi tuyên truyền”… Anh ở phía này, tôi bên kia. Nói tóm lại, đó là một lối phân định theo hai giá trị: xấu và tốt, đen và trắng, hay địch và ta một cách cứng nhắc. Cách phân định này thể hiện một sự nghèo nàn về trí tuệ, hay lười biếng suy nghĩ. Chỉ cần đặt vấn đề ngược lại một chút, hay phát triển vấn đề xa hơn một chút, ai cũng có thể thấy lối phân chia có/không này không thể đem đến một đáp số cho một vấn đề nào cả.

Trong cái sự thực phức tạp, mờ mờ ảo ảo của vấn đề, có cái đẹp riêng. Không phải cái đẹp trơn tru, tròn trĩnh, nhưng là cái đẹp khắt khe của sự thật. Tương tự, một lời phát biểu nghịch lí có cái đẹp của nó, vì nó có thể đánh thức chúng ta về một thế giới phức tạp, một thế giới không nằm gọn trong đúng/sai, tốt/xấu, bạn/thù. Có lẽ đã đến lúc chúng ta nên vượt qua chính mình bằng cách cho các tế bào trí tuệ có cơ hội làm việc.

BTĐ

Nguồn: http://tuanvannguyen.blogspot.com/2010/05/thoi-nguy-bien-o-nguoi-viet.html


“Đảng viên hư trước, làng nước hư theo!” & Nghịch lý

Trong hôm khai mạc Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ Tư (khóa XI), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nói đến nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ do sự sa sút phẩm chất chính trị và đạo đức của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên từ Trung ương tới cơ sở; trong khi hàng triệu nhân dân, đảng viên đang nỗ lực xây dựng đất nước.

Điều này nhân dân đã biết từ lâu. Chưa bao giờ thấy nhiều hiện tượng trái với đạo lí dân tộc như trong những năm gần đây: Cha giết con, chồng chém vợ, thầy giáo bị học trò làm hại, gia đình bệnh nhân đánh thầy thuốc, nông dân bị chiếm đất ồ ạt đi khiếu kiện, cán bộ tỉnh đánh bạc mỗi ván ăn thua tới 5 tỉ đồng, tội phạm vị thành niên ngày càng tăng. Sự dối trá tràn lan. Chạy chức chạy quyền, cúng bái cầu tài cầu lộc, mê tín dị đoan tràn ngập…

Trách nhiệm thuộc về ai? Thuộc về sự lãnh đạo của Đảng và quản lí của Chính phủ, các cấp từ Trung ương tới cơ sở.

Bản Di chúc năm 1969 của Bác Hồ, đã nhấn mạnh điều quyết định là Đảng cầm quyền phải thực sự trong sạch. Sau hơn 40 năm, mặc dầu chúng ta có phong trào “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” nhưng còn hình thức.

Khi Đảng còn nhiều uy tín trong xã hội, dân ta đã có câu “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Và nhiều thanh niên hăng hái phấn đấu vào Đảng.
Đến nay thì ngược lại, một số người trung thực đã quyết định không vào Đảng, một số cán bộ cao cấp, kể cả sĩ quan quân đội khi nghỉ hưu đã bỏ sinh hoạt Đảng. Sự suy giảm lòng tin trong dân thật nặng nề. Từ chỗ “đảng viên hư trước, làng nước hư theo” đến chỗ dân tỉnh ngộ sẽ không theo Đảng nữa. Thế là Đảng dần dần như con cá ngúc ngoắc trong cái ao cạn, thật nguy to!

Nạn tham nhũng có bè cánh tràn lan là nỗi buồn, nỗi lo và sự tức giận của mọi người. Người ta đồn mỗi chức vụ trong Đảng, trong chính quyền đều có giá bằng tiền cả! Thế thì Ban Tổ chức Trung ương, Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Bộ Nội vụ, Thanh tra Chính phủ đã làm được những gì? Đến mỗi xin cho con vào học lớp mầm non cũng phải khổ sở chạy chọt!

Mỗi ngày hơn 30 công dân Việt Nam chết vì tai nạn giao thông! Ra đường sẵn sàng đón thương vong như ra trận! Tình hình không thể để kéo dài mãi như thế này!

Tôi cùng nhân dân mong và tin rằng, như lời nói của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, các đồng chí trong Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chính phủ và Quốc hội, mỗi người sẽ trung thực tự kiểm điểm mình và báo cáo trách nhiệm trước nhân dân. Đây là yêu cầu cao và cấp bách về sự gương mẫu của đảng viên là cán bộ lãnh đạo, từ Trung ương đến cơ sở.

Đảng ta đã nói thì phải làm. Làm cụ thể, thiết thực, từng việc một, từng bước một, làm triệt để và phải có hiệu quả. Cần xử lí nghiêm các cá nhân và tổ chức sai phạm.

Để chuộc lại uy tín của Đảng, đem lại lòng tin cho nhân dân, làm sống lại hình ảnh “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, cần mở rộng dân chủ hơn nữa từ trong Đảng ra ngoài. Nếu có được lòng tin rộng mở của Đảng thì mỗi người dân sẽ vì điều tốt lành mà thành thực phát biểu ý kiến của mình. Khi đó ý Đảng sẽ hoàn toàn hợp với lòng dân. Dân sẽ thực sự làm chủ. Và không có khó khăn nào ta không thể vượt qua

Vũ Tú Nam

Nguồn: Báo Người Cao Tuổi 




Khổng Minh Dụ

Cha tôi trở thành đảng viên cộng sản từ những năm cuối thập niên 40 của thế kỷ trước. Có một điều tôi chưa lý giải được về ông. Một nông dân chính hiệu, chữ nghĩa không có bao nhiêu, vậy mà sao ông lại thấm nhuần những điều cơ bản về học thuyết Mác - Lênnin sâu sắc như vậy. Hỏi về giai cấp và đấu tranh giai cấp, ông có thể nói tới hàng giờ đồng hồ; Hỏi về tiến trình phát triển của xã hội loài người, ông có thể giảng giải cả buổi.

Một lần, khi mới được kết nạp vào Đoàn thanh niên Lao động, đắn đo mãi tôi mới "liều mạng" hỏi ông: "Vì sao người ta lại nói chủ nghĩa xã hội là giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản? Hai chủ nghĩa ấy khác nhau ở chỗ nào?”. Ông trợn mắt nhìn tôi, ngỡ ngàng: "Tuổi con, chưa hiểu nổi đâu! Nhưng, đã là Đoàn viên rồi thì phải phấn đấu vào Đảng. Vì vậy, biết suy nghĩ và tìm hiểu như vậy là tốt. Về bản chất thì đó là một chế độ xã hội, nhưng chia thành 2 giai đoạn.

Giai đoạn đầu là xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, rồi mới tiến lên xây dựng chế độ Cộng sản chủ nghĩa. Dù ở giai đoạn nào thì nó vẫn là một chế độ công bằng dân chủ (thời đó ông chưa biết thêm từ văn minh như ta thường nói bây giờ). Một xã hội không có bóc lột, người với người là bạn. Con người sống tử tế với nhau, không hận thù, mưu mẹo, thủ đoạn để chém giết, thôn tính lẫn nhau… Ở nước ta bây giờ mới đang ở thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội. Còn khác nhau là gì ư? Đó là lao động và hưởng thụ.

Ở chế độ XHCN (kể cả thời kỳ quá độ) thì làm theo năng lực, hưởng theo năng lực (làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít). Sự công bằng là ở đấy. Còn, khi đã tiến lên Cộng sản chủ nghĩa thì lại khác, con người có thể làm theo năng lực, nhưng được hưởng theo nhu cầu. Vì trình độ giác ngộ của con người lúc đó rất cao, không có cảnh lười biếng dẫn tới nghèo khổ. Ngược lại, cũng sẽ không có mưu ma, chước quỷ vơ vét đầy túi tham như mấy ông chủ nhiệm hợp tác xã bị mất chức vừa rồi".

Tôi như nuốt hết những lời cha tôi vừa nói và nguyện sẽ đi theo con đường ông đã chọn.

Bây giờ thì cha tôi đã yên nghỉ ngàn thu nơi chín suối. Ông từ giã cõi đời này đã trên 20 năm. Và, kể từ khi ông phán những lời tâm huyết trên, tới nay vừa tròn nửa thế kỷ. Nếu có phép mầu cho ông trở về với hiện tại chắc ngoài niềm vui về sự phát triển của đất nước, ông sẽ không tránh khỏi nỗi đau buồn bởi những nghịch lý từ những lý thuyết kinh điển ông đã hấp thụ.

Sự nghịch lý ghê sợ gấp trăm, gấp nghìn lần cái nghịch lý thời ông đã sống. Không ít kẻ đã lợi dụng chức, quyền và những sơ hở trong khâu quản lý kinh tế, đút vào cái túi tham hàng tỉ tới nhiều tỉ đồng. Mức hưởng thụ gấp hàng chục, hàng trăm lần năng lực của họ chứ phải đâu như mấy cái anh chủ nhiệm "gà què ăn quẩn cối xay".

Nhắc lại chuyện xưa để nói tới chuyện hôm nay, nói tới cái nghịch lý của thời chúng ta đang sống. Cái nghịch lý mà nhiều người không ngờ tới, kể cả kẻ viết bài này. Xin nêu ra vài việc, có thể đã âm ỷ từ lâu, nhưng nó vừa phơi bày ra vào cái tháng "củ mật" của năm con Mèo này.

Đầu tháng, rộ lên cái chuyện ở Tổng công ty Xăng dầu (Petrolimex), “lập lờ đánh lận”, chi sai nguyên tắc trên 500 tỉ đồng, nhưng lại gộp vào cái khoản lỗ để Nhà nước phải chịu.

Giữa tháng lại lòi ra cái chuyện ở "xứ sở" ông Ngân hàng. Trọng tâm là chuyện tham ô, tham nhũng. Không nhắc lại làm chi những chuyện mà báo chí đã nêu… Nơi này thất thoát mấy chục tỉ, nơi kia biển thủ mấy nghìn cây vàng… mà chỉ xin nhắc lại có tính "thu gom" những vụ mất mát, tham nhũng điển hình của ngành Ngân hàng. Chỉ trong mấy năm thôi mà đã để thất thoát tới 8.000 tỉ đồng, giỏi lắm chỉ thu lại được 2.000 tỉ, mất toi 6.000 tỉ. Vậy mà lương bình quân của ngành này lại cao ngất ngưởng.

Hai "tiếng sấm" trên còn đang âm ỷ, vang dền đây đó, thì những ngày cuối tháng lại dội lên "tiếng sét" của ngành điện - Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN).

Mấy hôm nay, một số báo cùng với việc đưa tin từ 20/12/2011, giá điện tăng thêm 5%, là các bài viết "ưu ái" dành cho EVN với những tít lớn, tít bé nghe đến lạ lùng, khó hiểu: "Sốc với lương ngành điện"; "Lương cán bộ tập đoàn gần 30 triệu đồng/tháng"; "Lãnh đạo EVN thu nhập bao nhiêu?". "Lương lãnh đạo hơn lương nhân viên hàng chục lần; Phân chia tiền lương bất hợp lý; Lỗ nặng, lương vẫn khủng; Thiếu tiền trả nợ, thừa tiền gửi ngân hàng lấy lãi; Thiếu tiền đầu tư, có tiền gửi ngân hàng; Hết năm, EVN lỗ 40.000 tỉ đồng…”. Đây là tin công khai trên báo, được kiểm định qua Kiểm toán Nhà nước, người nghe mà không động lòng, day dứt thì quả là thần kinh có vấn đề.

Cái nghịch lý nằm im ỉm lâu nay, bây giờ mới lòi ra, đó là thu nhập bình quân toàn công ty mẹ - Tập đoàn Điện lực VN là 13,7 triệu đồng/người/tháng. Lương bình quân khối văn phòng công ty mẹ xấp xỉ 30 triệu đồng/người/tháng. Theo hiểu biết của "thảo dân" thì cán bộ văn phòng là những người gián tiếp sản xuất. Lương hầu hết ở khối văn phòng các cơ quan đơn vị đều thấp bởi tính chất "bàn giấy" của nó. Hà cớ gì ở đây nó lại vống lên như vậy. Hẳn đây sẽ là tin buồn đối với các anh các chị công nhân đang ngày đêm giam thân dưới hầm máy hoặc phơi mình với nắng gió trên các cột cao thế ngút trời. Mà khối văn phòng của tập đoàn có ít đâu, nghe nói tới gần 400 người. Mỗi năm EVN phải chi lương cho khối này tới trên 140 tỉ đồng. Riêng lương của lãnh đạo tập đoàn, nghe nói thu nhập hàng tháng lên tới năm, sáu chục triệu đồng (không kể những khoản thu nhập khác). Thật là vô lý. Thật là nghịch lý đến lạ lùng. Cái "bệnh" này đã "nhuốm" từ lâu mà sao tới những ngày cùng tháng tận của năm con Mèo này mới rờ tới. Rờ tới 3 nơi đều có chuyện "động trời", với bao nghịch lý. Còn các địa chỉ khác thì sao?

Đó là mới nói tới chuyện gian lận, tham nhũng, vô nguyên tắc... để thất thoát hàng trăm, hàng ngàn tỉ đồng của Nhà nước; cho tới việc lương, thưởng tùy tiện tạo sự bất công ngay trong nội bộ và toàn xã hội. Ấy là chưa nói tới chuyện lãng phí về nhân lực. Ở nhiều nước, bố trí nhân lực ở bất kể ngành nào, người ta tính rất chi ly, khoa học. Ví như ngành điện, để sản xuất 1MW - chỉ cần 2,5 tới 3 người. Còn ở ta thì sao? Phải tới trên 10 người. Bởi thế mà ngành điện Việt Nam mới có tới quân số xấp xỉ một vạn người.

Đảng và Nhà nước đã có chủ trương, quần chúng đều ngán ngẩm, đắng lòng mong đợi - mong đợi sự ra tay công tâm, kiên quyết của các cơ quan chức năng góp phần giảm thiểu những bất công, nghịch lý như trên

K.M.D.

Nguồn: Báo CAND