Trang blog này nhằm lưu lại những bài viết của chính tác giả hoặc của những tác giả khác đã viết và công bố trên các ấn phẩm chính thức, trên phương tiện truyền thông đại chúng, và trên mạng Internet, về những vấn đề Kinh Tế, Văn hoá, Xã hội, Y tế & Giáo dục đang cần tìm hiểu...lúc tuổi già.
Không biết nói gì hơn, ngoài lời được xin phép và trân trọng cám ơn các bạn có bài đăng lại trên Blog này.
Văn bản gồm 30 chương vừa được Bộ Công Thương Việt Nam và các cơ quan phụ trách TPP của 11 nước còn lại công bố chiều nay, đúng một tháng sau khi quá trình đàm phán kết thúc. Văn bản gồm đầy đủ thông tin chi tiết về các cam kết và các điều khoản áp dụng với tất cả các nước thành viên.
Một trong những điểm được quan tâm nhất trong văn bản này là điều khoản áp dụng. Theo đó, TPP sẽ có hiệu lực trong vòng 60 ngày kể từ khi tất cả các thành viên thông báo đã hoàn tất trình tự thông qua về mặt pháp lý trong nước. Trong điều kiện một số điều khoản hoặc toàn bộ hiệp định không được một hoặc một số nước thành viên thông qua, TPP vẫn có hiệu lực nếu có ít nhất 6 trên 12 thành viên, chiếm tối thiểu 85% GDP toàn khối chấp nhận.
Toàn văn Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương - TPP (tiếng Anh)
Với Việt Nam, biểu thuế tại Hiệp định cho thấy thuế xuất - nhập khẩu với nhiều mặt hàng sẽ được dỡ bỏ ngay khi hiệp định có hiệu lực như hàng dệt may, giày dép, cá ngừ, thịt động vật thuần chủng...
Ngược lại, lộ trình dỡ bỏ thuế quan dài nhất sẽ lên kéo dài 16 năm, thuộc về những hàng hóa như dầu thô, trứng... Một số mặt hàng khác lại có lộ trình giảm thuế quan từng nấc theo năm, ví dụ như khoai tây (hiện có mức thuế 24%, giảm về 12% trong năm thứ 2, 6% vào năm thứ 3 và miễn thuế trong năm thứ 4)...
Trao đổi với VnExpress, nguồn tin từ Bộ Công Thương cho biết đây là văn bản được các bên thống nhất sau khi hoàn tất đàm phán ngày 5/10 tại Atlanta (Mỹ). Tuy vậy, các chi tiết trong hiệp định vẫn trong quá trình rà soát pháp lý tại các nước và có thể thay đổi. Riêng văn bản tiếng Việt đã được Bộ Công Thương chuẩn bị và sẽ sớm được công bố.
Ngoài các nội dung cam kết trong hiệp định, trong quá trình đàm phán các nước TPP cũng đạt được một số thỏa thuận song phương. Các thỏa thuận này sẽ được các bên ký kết công bố riêng, có hiệu lực cùng thời điểm với TPP.
Sau khi công bố toàn văn hiệp định, mỗi nước sẽ dành thời gian nhất định để người dân nghiên cứu hiệp định trước khi ký kết, dao động từ 60 đến 90 ngày. Sau khoảng thời gian này, các nước TPP sẽ tiến hành ký kết chính thức.
"Thời điểm ký kết chính thức Hiệp định hiện chưa được xác định nhưng dự kiến sẽ không muộn hơn quý I/2016", Bộ Công Thương cho biết. Sau khi ký chính thức, các nước sẽ tiến hành thủ tục phê chuẩn hiệp định theo quy định của pháp luật nước mình.
Trao đổi tại cuộc họp báo tháng 10/2015, Thứ trưởng Bộ Công Thương Trần Quốc Khánh, Trưởng đoàn đàm phán TPP cho biết dự kiến mất 1,5-2 năm để hiệp định được thông qua.
TPP chính thức hoàn tất đàm phán vào ngày 5/10/2015 và được xem là hiệp định thương mại thế kỷ, mang tính lịch sử, lớn nhất trong vòng 20 năm qua. TPP có sự tham gia của 12 nước gồm: Australia, Brunei Darussalam, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, Mỹ và Việt Nam. Các nước cũng kỳ vọng thỏa thuận này sẽ giúp nâng cao mức sống của người dân, giảm nghèo, khuyên khích sự minh bạch, hiệu quả điều hành cũng như cải thiện việc bảo vệ người lao động, môi trường. Hiệp định cũng được xem là bước quan trong việc tiến gần tới mục tiêu thúc đẩy thương mại tự do trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương.
Việt Nam đồng ý để người lao động có thêm nhiều quyền, như tự do lập công đoàn và đình công để đổi lại lợi ích giao thương với Mỹ, theo phân tích của tờ New York Times về TPP.
Văn bản bằng tiếng Anh của Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương - TPP đã được 12 nước thành viên công bố chiều 5/11.
Theo bài của New York Times, thỏa thuận đòi hỏi Việt Nam thay đổi luật hoặc ra luật mới cho phép công nhân thành lập công đoàn độc lập.
Công nhân sẽ được phép đình công không chỉ vì lương và giờ làm, mà còn vì điều kiện làm việc và các quyền khác.
Các nhóm công đoàn không phải gia nhập công đoàn của chính phủ Việt Nam, mà có thể hợp tác với nhau, tìm giúp đỡ của bất kỳ “tổ chức lao động quốc tế” như Liên đoàn lao động và hiệp hội của các tổ chức công nghiệp Hoa Kỳ (AFL-CIO).
Ông Tom Malinowski, Thứ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Đặc trách Dân chủ,Nhân quyền, và Lao động nói với New York Times:
Image copyrightdinh cong
“Đây là cơ hội tốt nhất từ nhiều năm để khuyến khích cải tổ thể chế sâu sắc ở Việt Nam mà sẽ thúc đẩy nhân quyền, và nó sẽ chỉ xảy ra nếu TPP được thông qua.”
Quốc hội Mỹ sẽ có nhiều tháng xem xét văn bản và tranh luận.
Dự kiến việc bỏ phiếu ở hạ viện và thượng viện Mỹ sẽ diễn ra trong năm sau, trong bối cảnh Mỹ có bầu cử tổng thống.
Hoa Kỳ sẽ theo dõi việc tuân thủ của Việt Nam theo một thỏa thuận riêng.
Ngoài ra, một ủy ban gồm ba chuyên gia của Mỹ, Việt Nam và ILO, cũng sẽ có báo cáo.
Năm năm sau khi TPP có hiệu lực, Mỹ có thể ngừng lợi ích giao thương nếu cho rằng Việt Nam không tuân thủ yêu cầu.
Nhưng John Sifton, từ tổ chức nhân quyền Human Rights Watch, cho rằng hiệp định sẽ không thể thực thi “trên thực tế”.
Ông này nói lịch sử của Văn phòng Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR) không chứng tỏ họ sẽ bắt buộc thực thi các điều khoản.
"Khó khăn lớn nhất chính là bệnh thành tích, thích theo chủ nghĩa dân túy, mà không nhìn vào bản chất sự việc", Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Nguyễn Đức Kiên nhìn nhận quá trình điều hành nền kinh tế 2011- 2015. Ông Kiên cũng cho rằng, trong các phiên thảo luận toàn thể về kinh tế, xã hội và ngân sách của ngày 2 và 3/11 tới, Quốc hội cần phải đánh giá được mức độ hoàn thành nhiệm vụ của Chính phủ trong nhiệm kỳ này.
Mô hình tăng trưởng gần như không đổi Điểm khác của kỳ họp này là Chính phủ không chỉ trình Quốc hội báo cáo về tình hình kinh tế - xã hội năm nay, năm sau, 5 năm qua mà còn cả quá trình ba năm tái cơ cấu nền kinh tế (2012 - 2015). Là một người nhiều năm nghiên cứu về kinh tế vĩ mô, ông quan tâm nhiều đến nội dung nào trong các báo cáo này? Tôi vẫn đặc biệt quan tâm đến kết quả tái cơ cấu nền kinh tế. Nhưng quả thực không thấy có nhiều điểm sáng.
Tái cơ cấu đầu tư công có thể nói là không thành công, thể hiện rõ ở việc bội chi ngân sách vẫn cao, cùng với đó là việc phát hành trái phiếu ngày càng khó khăn.
Chỉ số ICOR không cải thiện nhiều, nếu 2012 chỉ số chung của cả nước là 5,3 thì 2015 là 5,18. Như vậy 4 năm thực hiện tái cơ cấu mới chỉ giảm được 0,12, như vậy là tái cơ cấu đầu tư công có vấn đề.
Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước cũng chưa thể coi là thành công khi mà thời điểm cần bán vốn Nhà nước ra thị trường làm cho thị trường vốn phát triển (2013) thì chúng ta không làm, mà bây giờ mới làm.
Như thế có thể vẫn thu được tiền nhưng tác dụng lan tỏa và tác dụng hỗ trợ cho thị trường tiền tệ là mất đi, nên tính phối hợp và đồng bộ của nền kinh tế là không có.
Điều đó khiến cho chính sách tài khóa một đằng và chính sách tiền tệ một nẻo. Từ đó tốc độ nợ công tăng nợ cao hơn GDP. Tốc độ tăng nợ bình quân đến 18% bình quân còn GDP tăng chỉ có 5,88%. như vậy thì rất nguy hiểm.
Chúng ta có 432 tập đoàn, tổng công ty Nhà nước phải cổ phần hóa theo kế hoạch Chính phủ trình Quốc hội, nhưng đến nay còn hơn 100 chưa làm được. Trong lúc doanh nghiệp Nhà nước đang nắm giữ 1,5 triệu tỷ đồng và tổng tài sản là gần 5 triệu tỷ đồng không những không có tác động tích cực với nền kinh tế mà còn đang bon chen với doanh nghiệp dân doanh kiếm lợi nhuận từ nền kinh tế.
Vai trò của Nhà nước ở đây không phải thế. Cương lĩnh 2011 và Hiến pháp 2013 nói rõ Chính phủ là cơ quan quản lý hành chính Nhà nước cao nhất, chứ không nói Chính phủ là cơ quan kinh doanh cao nhất của đất nước.
Trong ba trọng tâm tái cơ cấu thì tái cơ cấu ngân hàng làm bài bản nhất, có đề án và thực hiện đúng tiến độ, giảm được số lượng yếu kém và giữ được ổn định thị trường tiền tệ. Tuy nhiên cũng chưa phải đã hết những vấn đề đáng lo ngại.
Nhưng bảo là tác động của thành công của tái cơ cấu đến đến nền kinh tế thực như thế nào thì ý kiến còn khác nhau. Ví dụ như nhiều chỉ tiêu như ICOR, xuất siêu, nhập siêu cũng không phản ánh được bản chất thành công của tái cơ cấu.
Kết quả tái cơ cấu như vậy cũng có nghĩa là Việt Nam chưa thể có mô hình tăng trưởng bền vững, thưa ông?
Mô hình tăng trưởng gần như là không thay đổi, ví dụ sự nhảy múa của các con số về nhập siêu qua các năm cho thấy chúng ta đã không cầm cương được nền kinh tế. Nếu tình hình xấu thì bảo là do thế giới tác động mà không thấy khuyết điểm do điều hành.
Tư duy, mong muốn với hành động thành một tam giác chứ không hợp nhất thành một điểm. Mong muốn là vươn lên kéo gần khoảng cách và lọt vào trong top đầu của ASEAN nhưng tư duy vẫn của nền kinh tế kế hoạch hóa.
Nhà nước vẫn can thiệp và vẫn muốn chỉ đạo thị trường bằng mệnh lệnh hành chính và chỉ trong trường hợp cùng bất đắc dĩ mới quay lại hành động theo nguyên tắc của kinh tế thị trường nên luôn luôn chậm so với diễn biến của thị trường.
Khi đã chậm thì chi phí xử lý cao mà không quy được trách nhiệm cá nhân, những vấn đề như thế tiềm ẩn không phải là nguy cơ mà chính là lực cản của nền kinh tế.
Theo tôi, khó khăn lớn nhất chính là bệnh thành tích, thích theo chủ nghĩa dân túy mà không nhìn vào bản chất sự việc. Chúng ta cứ đề ra nhiều chính sách giảm nghèo, nhiều chính sách an sinh xã hội nhưng nguồn lực lại không có nên chỉ riêng nhiệm kỳ qua số công chức và viên chức cấp cơ sở tăng hơn 1 triệu người, trong bối cảnh nền kinh tế đang gặp khó khăn.
Nhưng báo cáo của Chính phủ trình Quốc hội kỳ nào cũng đánh giá mặt tích cực là cơ bản, và các vị đại biểu Quốc hội cũng đều “cơ bản đồng tình”?
Nếu chỉ nhìn năm này sang năm kia từ 2012 đến 2015 thì GDP năm sau cao hơn năm trước, nhưng nếu nhìn cả quá trình thì từ 2008 đến nay Việt Nam có xu hướng phát triển ngược thế giới.
Tổng mức đầu tư toàn xã hội tăng, giải ngân ODA cũng tăng, FDI cũng tăng, số lượng doanh nghiệp tăng, nợ công tăng rất nhanh nhưng tốc độ tăng GDP lại giảm.
Để đạt được mục tiêu công nghiệp hóa thì Trung Quốc có 28 năm tăng trưởng trên 10%, Hàn Quốc là 22 năm, Đài Loan là 27 năm tăng từ 9% trở lên. Trong khi đó Việt Nam chỉ có 7 năm thì chúng ta không thể nói là chúng ta điều hành nền kinh tế thành công.
Chính sách rất đúng, nhưng...
Vậy nguyên nhân chủ quan của sự không thành công là gì, theo ông?
Giải pháp đều có cả nhưng có triển khai hay không mới là quan trọng. Chính sách của ta đề ra rất đúng, lộ trình đề ra rất đúng, song thực hiện thì có vấn đề.
Với tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước chẳng hạn, yêu cầu đến 2014 phải thực hiện xong, đến 2015 tạo ra bước chuyển biến để thực hiện tiêu chí nước công nghiệp nhưng chúng ta không làm được.
Quốc hội phải làm rõ được nguyên nhân, phải đánh giá chính xác trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa 13 ưu điểm là gì, hạn chế ở đâu, do thể chế hay do con người.
Vậy theo đánh giá của cá nhân ông thì sao? Theo quan điểm của tôi thì nhiệm kỳ 2011 - 2015 là chưa hoàn thành nhiệm vụ cơ bản đã đề ra và đến 2020 cũng chưa thực hiện được lời hứa của Đảng trước dân là đưa nước Việt Nam trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Về kinh tế vĩ mô, một ví dụ là chúng ta phải phát hành 3 tỷ đô trái phiếu Chính phủ ra quốc tế để tái cơ cấu lại nợ trong nước. Trong khi lẽ ra thì phải là phát hành để đầu tư một số công trình trọng điểm thiết yếu quốc gia.
Nếu có đủ cơ sở để khẳng định Chính phủ không hoàn thành nhiệm vụ thì Quốc hội nên/cần làm gì, thưa ông?
Nhiệm kỳ của cả Chính phủ và Quốc hội đều sắp hết, chúng ta phải có đánh giá rất khách quan, rất khoa học về từng ngành, lĩnh vực, địa phương với góc độ vĩ mô để góp tiếng nói quyết định - tôi nhấn mạnh là tiếng nói quyết định chứ không phải tiếng nói bình thường - cho việc lựa chọn nhân sự cho nhiệm kỳ tới.
Một trong những yêu cầu lựa chọn cán bộ theo lời Chủ tịch Hồ Chí Minh là phải vừa hồng, vừa chuyên, chứ không chỉ có hồng. Hiện nay, khả năng tập hợp và khả năng quyết đoán của cán bộ chủ chốt còn yếu nên không lôi cuốn được mọi người. Có những người có khả năng thì không được chọn nên chảy máu chất xám ngay trong nội bộ Đảng.
Tức là những người có khả năng xử lý công việc thì họ lại không có điều kiện để tham gia, mà việc đó lại được giao cho những người có nhiệt tình nhưng không đủ chuyên môn. Tình hình này cứ làm tôi nhớ đến câu nói nổi tiếng của Lenin về sự nhiệt tình và kém hiểu biết…
Muốn góp tiếng nói quyết định thì có nghĩa là ngay ở kỳ họp này Quốc hội phải có tiếng nói đủ sức nặng?
Đúng. Các phiên thảo luận ở kỳ họp này phải là thảo luận của Quốc hội với Quốc hội để thống nhất nhận định thực trạng nền kinh tế rồi sau đó quay ra chất vấn các thành viên Chính phủ.
Trên cơ sở thống nhất nhận thức mới có thể nhận định chính xác về việc hoàn thành nhiệm vụ của từng thành viên và cả tập thể Chính phủ. Từ đó thảo luận những giải pháp quyết liệt nhằm thực hiện thắng lợi nghị quyết Đại hội Đảng, nghị quyết của Quốc hội ngay từ năm đầu tiên của kế hoạch 2016-2020.
Giả sử Chính phủ được đánh giá không hoàn thành nhiệm vụ thì Quốc hội có cần nhìn nhận sự liên can của chính mình không?
Có chứ, Quốc hội đã biểu quyết về nghị quyết phát triển kinh tế xã hội 5 năm và hàng năm mà cái hàng năm đó không thực sự gắn với 5 năm nhưng chúng ta vẫn đồng ý và vẫn coi đó là thành công.
Lẽ ra phải nhìn nhận đúng là hàng năm có cải thiện về tốc độ tăng trưởng nhưng các yếu tố cân đối vĩ mô khác vẫn có xu hướng xấu đi, phải mạnh dạn tổng kết quá trình thực hiện kế hoạch 5 năm là không đạt yêu cầu đặt ra.
Trách nhiệm của Quốc hội là không tổ chức giám sát một cách quyết liệt mà vẫn giám sát một cách dàn trải.
Tôi chỉ lấy một ví dụ thôi. Tại sao vẫn hành lang pháp lý đó, trong năm 2013 chỉ sau một năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 về tái cơ cấu nền kinh tế thì riêng Bộ Giao thông Vận tải đã chiếm 90% số doanh nghiệp được cổ phần hóa của cả nước.
Điều đó nói lên rằng, cũng môi trường pháp lý như thế nếu con người quyết tâm thì công việc chạy, còn con người chần chừ thì công việc trì trệ.
Như vậy yếu tố ban đầu không phải thể chế, không phải văn bản pháp quy không làm được, mà có muốn làm hay không mà thôi.
Tiếp theo Nhạc sĩ Đỗ Lễ, mình giới thiệu đến các bạn các ca khúc “Bông Hồng Cài Áo”, “Tóc Mây”, “Thương Quá Việt Nam”, “Thuyền Hoa” của Nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ hôm nay.
Nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ (15 tháng 11 năm 1930 [có tài liệu là 1932] – 16 tháng 1 năm 2009) sinh quán tại Đập Đá, An Nhơn, Bình Định, là con thứ 11 của một gia đình trung lưu. Hai anh của ông là nhà văn Phạm Văn Ký và nhà văn Phạm Hổ. Từ năm 1947 đến năm 1949, ông học và hoạt động văn nghệ trong trường Thiếu sinh quân ở Liên khu V. Nhạc phẩm đầu tay của ông là “Nắng Lên Xóm Nghèo”.
Sau hiệp định Geneve, ông ở lại miền Nam. Năm 1959, ông học trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn. Từ 1959 đến 1970 ông dạy Việt văn và Âm nhạc tại các trường trung học tư thục Bồ Đề, Tây Hồ, Sao Mai, Bán Công, Nguyễn Công Trứ, Tân Thanh… ở Đà Nẵng.
Nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ thời trẻ.
Trong những năm 1965-1966, ông bị chính quyền Việt Nam Cộng Hòa bắt giam vì đấu tranh trong phong trào Phật giáo. Ông sáng tác bài nhạc bất hủ “Bông Hồng Cài Áo” trong thời gian này, lấy ý từ thơ của Thiền sư Thích Nhất Hạnh. Ra tù, ông sáng tác thêm các bài khác như “Hoa Vẫn Nở Trên Đường Quê Hương”, “Người Về Thành Phố”,… được phổ biến trong phong trào học sinh – sinh viên Sài Gòn.
Từ năm1970 đến 1975, ông là trưởng phòng Văn-Mỹ-Nghệ của Viện Đại Học Vạn Hạnh. Sau khi nghỉ hưu, ông sống âm thầm, thiếu thốn tại Quận 4, Sài Gòn. Ông mất vào lúc 3 giờ sáng ngày 16 tháng 1 năm 2009, sau một thời gian dài bị bệnh, ở tuổi 79.
Cùng với 12 clips tổng hợp các ca khúc “Bông Hồng Cài Áo”, “Tóc Mây”, “Thương Quá Việt Nam”, “Thuyền Hoa” do các ca sĩ xưa và nay diễn xướng để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.
NSGN 1: Được biết, sau khi tác phẩm ra đời, Thiền sư đã phát động phong trào cài hoa hồng để tưởng niệm về công ơn mẹ. Xin Thiền sư cho biết lần đầu tiên phong trào này được phát động là vào mùa Vu Lan năm nào, tại đâu; Thiền sư có gặp sự trở ngại nào chăng khi đưa ra một nét văn hóa tuy đẹp đẽ song cũng rất mới lạ này?
Ts TNH:Tôi không hề có ý định phát động phong trào Cài Hoa Hồng để tưởng niệm về công ơn mẹ. Phong trào ấy tự động phát khởi một cách tự nhiên mà thôi. Điều đó cũng làm cho tôi ngạc nhiên. Hồi đó, năm 1962, sau chín tháng nghiên cứu về khoa Tỷ Giáo Tôn Giáo tại Princeton University, tôi về nghỉ hè tại Camp Ockanickon ở Medford thuộc tiểu bang New Jersey Hoa Kỳ. Ban ngày tôi chơi và nói chuyện với thanh thiếu niên về Văn Hóa Việt Nam và đi chèo thuyền trên hồ, ban đêm tôi viết văn. Tôi đã viết đoản văn Bông Hồng Cài Áo trong một căn lều gỗ người trẻ dành cho tôi. Viết xong tôi gửi cho các vị đệ tử của tôi trong đoàn Sinh Viên Phật Tử Sàigon do tôi hướng dẫn. Bài này gửi qua chị Trương thị Nhiên. Chị Nhiên và đoàn Sinh Viên Phật Tử đọc xong rất cảm động nên quyết định đem chia sẻ cho mọi người. Họ bàn nhau chép tay ba trăm bản làm quà tặng cho những bạn bè của họ trong các phân khoa Đại Học Sài Gòn. Mỗi bản chép tay đều có gắn thêm một chiếc hoa màu hồng cho người còn mẹ hay màu trắng cho người mất mẹ, hay mất mẹ. Rằm tháng bảy năm ấy họ họp nhau lại tại Chùa Xá Lợi, làm Lễ Bông Hồng Cài Áo lần đầu tiên. Anh Tôn Thất Chiểu, một thành viên của đoàn Sinh Viên Phật Tử đã gửi cho Hòa Thượng Thích Đức Tâm, hồi đó đang làm chủ bút cho nguyệt san Liên Hoa của Giáo Hội Tăng Già Trung Phần. Tập San Liên Hoa đã đăng nguyên bài dưới tựa đề là Nhìn Kỹ Mẹ. Hòa Thượng Trí Thủ, bổn sư của Hòa Thượng Đức Tâm, đọc được đoản văn trên nguyệt san Liên Hoa đã khóc vì cảm động. Sau đó Bông Hồng Cài Áo được in ra nhiều lần, một số các chùa bắt đầu tổ chức Lễ Bông Hồng Cào Áo. Từ đó, Lễ Bông Hồng Cài Áo đã trở thành một truyền thống. Tôi không nghĩ là đã có những trở ngại trong khi phong trào được lan rộng. Năm 1964, nhà xuất bản Lá Bối ra mắt độc giả bằng quyển Bông Hồng Cài Áo, in khổ ốm dài để có thể bỏ vào bì thư gửi tặng bạn bè trong ngày Vu Lan. Quyển sách nhỏ này đã phải tái bản nhiều lần. Năm 1965 đoàn Cải Lương Thanh Nga đã dựng và trình diễn vở tuồng Bông Hồng Cài Áo và có mời tôi tham dự.
Tại trong nước cũng như tại ngoại quốc, đoản văn Bông Hồng Cài Áo đã được dịch và in ra nhiều thứ tiếng trong đó có tiếng Anh, Pháp, Đức, Hà Lan, Trung Hoa, Nga, Thái Lan và tiếng Lào.
NSGN 2: Theo Thiền sư, giữa Ngày lễ của Mẹ trong văn hóa Nhật và ngày Vu Lan Báo hiếu trong văn hóa Việt Nam có những nét tương đồng và khác biệt nào?
Ts TNH:Lễ Bông Hồng Cài Áo tổ chức tại Làng Mai mỗi mùa Hè kể từ năm 1983 đã làm theo tinh thần Việt Nam, khác truyền thống Nhật. Lễ này không những để vinh danh người Mẹ mà cũng để tưởng nhớ và vinh danh người Cha nữa. Mỗi người được cài hai chiếc hoa hồng, một dành cho Mẹ và một dành cho Cha. Chiếc hoa dành cho Cha nằm hơi cao lên một chút để phân biệt với hoa cho Mẹ. Và anh sẽ cài một hoa hồng cho Cha khi Cha còn sống, một hoa hồng cho Mẹ khi Mẹ còn sống.
NSGN 3: Không ít người thắc mắc tại sao Thiền sư lại chọn hoa hồng mà không phải là loài hoa nào khác? Phải chăng đơn thuần chỉ vì hoa hồng là loài hoa biểu trưng cho tình yêu?
Ts TNH:Mình nên hiểu chữ hồng trong bông hồng là đỏ. Cài hoa hồng thì cài hoa hồng đỏ. Cài hoa khác như hoa cẩm chướng thì cẩm chướng màu cũng đỏ, không nhất thiết là phải có hoa hồng (rose).Và khi Mẹ không còn, Cha không còn thì được cài hoa trắng . Các đệ tử người Hoa của tôi khi làm lễ Bông Hồng Cài Áo đầu tiên tại Đài Loan năm 1995 thì họ dùng hoa cẩm chướng màu đỏ và trắng cho buổi Lễ Cài Hoa tưởng nhớ Mẹ Cha. Mẹ Cha còn thì cài hoa cẩm chướng màu hồng. Mẹ Cha mất thì cài hoa cẩm chướng màu trắng. Bất cứ hoa gì cũng được kể cả hoa lan.
NSGN 4: Nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ đã phổ nhạc thành công ca khúc Bông Hồng Cài Áo từ bài văn của Thiền sư, góp phần đưa nghi thức cài hoa hồng vào sâu trong đời sống văn hóa dân tộc. Xin cho Thiền sư cho biết cảm nhận mình của khi nghe bài hát ấy – lần đầu tiên cũng như bây giờ?
Ts TNH:Phạm Thế Mỹ làm Bài Bông Hồng Cài Áo rất dễ dàng và tự nhiên như thở vào thở ra , tự nhiên như bước chân đi dạo, tự nhiên như khi nâng chén trà lên uống. Tôi không thấy tôi và nhạc sĩ là hai người khác nhau khi nghe ca khúc Bông Hồng Cài Áo, trước kia cũng vậy và bây giờ cũng vậy.
NSGN 5: Là một người rất quan tâm đến giới trẻ Việt Nam nói riêng và giới trẻ trên toàn thế giới nói chung, Thiền sư có nhắn nhủ điều gì với các bạn trẻ nhân mùa Vu lan PL. 2550 năm nay?
Ts TNH:Ngày Lễ Bông Hồng Cài Áo không phải là chỉ để tưởng nhớ công ơn Mẹ Cha. Các bạn phải biết thực tập nhìn sâu, tức là thực tập thiền quán trong ngày ấy. Phải thấy được những tài năng, đức hạnh và nét đẹp nào mà mình đã tiếp nhận từ Cha và từ Mẹ. Rồi thấy được Cha và Mẹ không phải là những thực tại có ngoài mình mà đang có ngay trong mình. Mình là sự tiếp nối của Cha, mình là sự tiếp nối của Mẹ. Và mình mang Mẹ mang Cha đi về tương lai. Phải biết mỉm cười cho Mẹ, thở cho Cha và bước đi cho cả hai. Sự tiếp nối đẹp đẽ của Cha Mẹ nơi mình là biểu hiện cụ thể nhất cho lòng Hiếu.
Nếu bạn lỡ có những khó khăn với Cha hay Mẹ thì đừng nghĩ cạn là Mẹ không thương, Cha không thương. Có thể những vụng về trong quá khứ về phía Cha Mẹ đã tạo ra những lớp khổ đau đè nặng và làm khuất lấp tình thương ấy. Mình biết nếu có gì xảy ra cho mình thì Cha Mẹ sẽ khóc hết nước mắt.. Và nếu có gì xảy ra cho Mẹ hay cho Cha thì mình cũng sẽ khóc hết nước mắt. Phải thấy rằng các vị đã có nhiều khổ đau và khó khăn mà chưa đủ khả năng chuyển hóa nên đã tự làm khổ mình và làm khổ lây đến các con. Mình cũng vậy. Mình đã khổ đau vì hiểu lầm, vì bực tức, và do đó đã lỡ nói những lời không dễ thương, có những phản ứng không đẹp đẽ với Cha và với Mẹ.
Bên nào cũng chịu một phần trách nhiệm. Thấy được cái khổ của Cha, của Mẹ, mình tìm cách giúp Cha và giúp Mẹ. Mình phải biết nói lời hối lỗi đã không giúp được Mẹ Cha mà còn làm cho Cha Mẹ khổ đau thêm. Sử dụng pháp lắng nghe và ái ngữ để tái lập được truyền thông, để dựng lại thâm tình, đó là điều mình có thể làm được. Tôi có nhiều vị đệ tử đã làm được việc đó, người Việt cũng như người ngoại quốc.
Có những người trẻ dại dột đã đi tự tử. Đó là một hành động tuyệt vọng, nhưng cũng là một hành động trừng phạt. Trừng phạt người đã làm mình khổ, trong trường hợp này, đó là những vị sinh thành ra mình. Ta sinh ra đời để thương yêu, không phải để trừng phạt. Chết như thế là một sự thất bại. Nếu bạn là Phật tử, bạn phải biết giáo pháp đức Thế Tôn có công năng chuyển rác thành hoa, biến phiền não thành bồ đề, dựng lại tình thâm từ xác chết hận thù. Cha Mẹ là Bụt đó, đừng đi tìm Bụt nơi nào khác. Ngày hôm nay bạn nói được câu gì, làm được cử chỉ gì để Mẹ vui, để Cha vui thì làm ngay đi, đừng để tới ngày mai, sợ rằng muộn quá. Đọc Bông Hồng Cài Áo để nhớ điều đó. Tôi chúc bạn một ngày Vu Lan thật ngọt ngào, thật hạnh phúc, thực tập thành công.
Nếu bạn được cài bông trắng, nên quán chiếu là Cha hoặc Mẹ vẫn còn còn trong bạn và có mặt trong từng tế bào của cơ thể bạn. Đưa bàn tay lên nhìn, bạn sẽ thấy bàn tay ấy của bạn mà cũng là bàn tay của Cha, của Mẹ. Trong bàn tay bạn, có bàn tay của Cha, của Mẹ. Bạn hãy đưa bàn tay ấy đặt lên trán và sẽ thấy, đó là bàn tay của Mẹ hay của Cha đang đặt trên trán bạn. Thật là nhiệm mầu.
Năm nay Thượng Tọa Đức Nghi ở tu viện Bát Nhã (Bảo Lộc, Lâm Đồng) và các vị cọng sự đang dựng một công trường Bông Hồng Cài Áo nơi khuông viên tu viện. Nơi công trường sẽ có tượng một bà mẹ Việt Nam đang đứng với hai em bé, một trai và một gái. Bé gái được cài trên áo một bông hồng, bé trai đang hý hửng cầm trên tay một bông hồng khác. Ta hãy tôn vinh Mẹ, tôn vinh Cha trong trái tim. Bụt dạy: Vào thời không có Bụt ra đời thì thờ Cha thờ Mẹ cũng là thờ Bụt. Đây là điều tôi muốn nói với các bạn trẻ ở Việt Nam cũng như trên thế giới.
Ý niệm về mẹ thường không thể tách rời với tình thương. Mà tình thương là một chất liệu ngọt ngào êm dịu và cố nhiên là ngon lành. Con trẻ thiếu tình thương thì không thể lớn lên được. Người lớn thiếu tình thương thì cũng không “lớn” lên được. Cằn cỗi, héo mòn.
Ngày mẹ tôi mất, tôi viết trong nhật ký: “Tai nạn lớn nhất đã xảy ra cho tôi rồi !” Lớn cách mấy mà mất mẹ, thì cũng như không lớn, cũng cảm thấy bơ vơ, lạc lõng, cũng không hơn gì kẻ mồ côi.
Những bài hát, những bài thơ ca tụng tình mẹ, bài nào cũng dễ thấy hay. Người viết dù không có tài ba, cũng có rung cảm chân thành; người hát ca, trừ là kẻ không có mẹ ngay từ thuở chưa có ý niệm, ai cũng cảm động khi nghe nói đến tình mẹ. Những bài hát ca ngợi tình mẹ đâu cũng có, thời nào cũng có. Bài thơ mất mẹ mà tôi thích nhất từ hồi nhỏ là một bài thơ giản dị. Mẹ đang còn sống, nhưng mỗi khi đọc bài thơ ấy thì sợ sệt, âu lo… sợ sệt lo âu cho một cái gì còn xa, chưa đến nhưng chắc chắn phải đến:
Năm xưa tôi còn nhỏ Mẹ tôi đã qua đời! Lần đầu tiên tôi hiểu Thân phận kẻ mồ côi. Quanh tôi ai cũng khóc Im lặng tôi sầu thôi Để dòng nước mắt chảy Là bớt khổ đi rồi… Hoàng hôn phủ trên mộ Chuông chùa nhẹ rơi rơi Tôi thấy tôi mất mẹ Mất cả một bầu trời
Một bầu trời thương yêu dịu ngọt, lâu quá mình đã bơi lội trong đó, sung sướng mà không hay, để hôm nay bừng tỉnh thì đã mất rồi. Người nhà quê Việt Nam không ưa nói cách cao kỳ. Nói rằng bà mẹ già là một kho tàng của yêu thương, của hạnh phúc thì cũng đã là cao kỳ rồi. Nói mẹ già là một thứ chuối, một thứ xôi, một thứ đường ngọt dịu, người dân quê đã diễn tả được tình mẹ vừa giản dị, vừa đúng mức:
Mẹ già như chuối ba hương Như xôi nếp một, như đường mía lau
Ngon biết bao nhiêu! Những lúc miệng vừa đắng vừa nhạt sau một cơn sốt, những lúc như thế thì không có món ăn gì có thể gợi được khẩu vị của ta. Chỉ khi nào mẹ đến, kéo chăn đắp lại ngực cho ta, đặt bàn tay trên trán nóng ta và than thở “Khổ chưa, con tôi,” ta mới cảm thấy đầy đủ, ấm áp, thấm nhuần chất ngọt của tình mẹ, ngọt thơm như chuối ba hương, dịu như xôi nếp một và đậm đà dịm cả cổ họng như đường mía lau.
Tình mẹ thì trường cửu, bất tuyệt; những chuối ba hương, đường mía lau, xôi nếp một ấy không bao giờ cùng tận. “Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”. Nước trong nguồn chảy ra thì bất tuyệt. Tình mẹ là gốc của mọi tình cảm thương yêu. Mẹ là giáo sư dạy về thuơng yêu, một phân khoa quan trọng nhất trong trường đại học cuộc đời.
Không có mẹ, tôi sẽ không biết thương yêu. Nhờ mẹ mà tôi biết được thế nào là tình nhân loại, tình chúng sinh; nhờ mẹ mà tôi có được chút ý niệm về đức từ bi. Vì mẹ là gốc của tình thương, nên ý niệm mẹ lấn trùm ý niệm thương yêu của tôn giáo vốn cũng dạy về tình thương. Đạo Phật có đức Quan Thế Âm, tôn sùng dưới hình thức mẹ. Em bé vừa mở miệng khóc thì mẹ đã chạy tới bên nôi. Mẹ hiện ra như một thiên thần dịu hiền làm tiêu tan khổ đau lo âu. Đạo Chúa có Đức Mẹ, thánh nữ đồng trinh Maria. Trong tín ngưỡng bình dân Việt có thánh mẫu Liễu Hạnh, cũng dưới hình thức mẹ.
Bởi vì chỉ cần nghe đến danh từ “mẹ” là ta đã thấy lòng tràn ngập yêu thương rồi. Mà từ yêu thương đi tới tín ngưỡng và hành động thì không xa mấy.
Tây phương không có ngày Vu Lan nhưng cũng có Mother’s Day, mồng 10 tháng 5. Tôi nhà quê không biết cái tục ấy. Có một ngày, tôi đi với thầy Thiên Ân tới nhà sách ở khu Ginza, Đông Kinh, nửa đường gặp mấy người sinh viên Nhật, bạn của thầy Thiên Ân. Có một cô sinh viên hỏi nhỏ thầy Thiên Ân một câu, rồi lấy trong sắc ra một bông hoa cẩm chướng màu trắng cài vào khuy áo áo tràng của tôi. Tôi lạ lùng, bỡ ngỡ, không biết cô làm gì, nhưng không dám hỏi, cố giữ vẻ tự nhiên nghĩ rằng có một tục lệ chi đó.
Sau khi họ nói chuyện xong, chúng tôi vào nhà sách, thầy Thiên Ân mới giảng cho tôi biết đó là ngày Mother’s Day, theo tục Tây Phương. Nếu anh còn mẹ, anh sẽ được cài hoa hồng trên áo, và anh sẽ tự hào được còn mẹ. Nếu anh mất mẹ, anh sẽ được cài trên áo một bông hoa màu trắng. Tôi nhìn lại bông hoa trắng trên áo mà cảm thấy tủi thân. Tôi cũng mồ côi như bất cứ đứa trẻ vô phúc khốn nạn nào, chúng tôi không có được cái tự hào cài trên áo một bông hoa màu hồng.
Người được hoa trắng sẽ thấy xót xa, nhớ thương không quên mẹ dù Người đã khuất. Người được hoa hồng sẽ thấy sung sướng nhớ rằng mình còn mẹ và sẽ cố gắng để làm vui lòng mẹ kẻo một mai người khuất núi có khóc than cũng không còn kịp nữa. Tôi thấy cái tục cài hoa đó đẹp và nghĩ rằng mình có thể bắt chước áp dụng trong ngày báo hiếu Vu Lan!
Mẹ là một dòng suối, một kho tàng vô tận, vậy mà lắm lúc ta không biết, để lãng phí một cách oan uổng. Mẹ là một món quà lớn nhất mà cuộc đời tặng cho ta. Những kẻ đã và đang có mẹ, đừng có đợi đến khi mẹ chết rồi mới nói: “Trời ơi, tôi sống bên mẹ suốt mấy mươi năm trời mà chưa có lúc nào nhìn kỹ được mặt mẹ”. Lúc nào cũng chỉ nhìn thoáng qua. Trao đổi vài câu ngắn ngủi. Xin tiền ăn quà. Đòi hỏi mọi chuyện. Ôm mẹ mà ngủ cho ấm. Giận dỗi. Hờn lẫy. Gây bao nhiêu chuyện rắc rối cho mẹ phải lo lắng, ốm mòn, thức khuya, dậy sớm vì con. Chết sớm cũng vì con. Để mẹ phải suốt đời bếp núc vá may, giặt rửa, dọn dẹp… Và để mình suốt đời bận rộn lên xuống ra vào lợi danh. Mẹ không có thì giờ nhìn kỹ con. Và con không có thì giờ nhìn kỹ mẹ. Để khi mẹ mất, mình có cảm nghĩ “như là mình chưa bao giờ có ý thức rằng mình có mẹ” Chiều nay khi đi học về hoặc khi đi làm việc ở sở về, em hãy vào trong phòng mẹ với một nụ cười thật trầm lặng và thật bền. Em hãy ngồi xuống bên mẹ. Sẽ bắt mẹ dừng kim chỉ, mà đừng nói năng chi. Rồi em sẽ nhìn mẹ thật lâu, thật kỹ để trông thấy mẹ và để biết rằng mẹ đang sống và đang ngồi bên em. Cầm tay mẹ, em sẽ hỏi một câu ngắn làm mẹ chú ý.
Em hỏi: “Mẹ ơị mẹ có biết không?” Mẹ sẽ hơi ngạc nhiên và sẽ hỏi em, vừa hỏi vừa cười: “Biết gì?” Vẫn nhìn vào mắt mẹ, vẫn giữ nụ cười trầm lặng và bền, em sẽ nói: “Mẹ có biết là con thương mẹ không?”
Câu hỏi sẽ không cần được trả lời. Cho dù người lớn ba bốn mươi tuổi cũng có thể hỏi một câu như thế vì người là con của mẹ. Mẹ và em sẽ sung sướng, sẽ sống trong ý thức tình thương bất diệt và ngày mai mẹ mất, em sẽ không hối hận đau lòng.
Ngày Vu Lan ta nghe giảng và đọc sách nói nhiều về ngài Mục Kiền Liên và về sự hiếu đễ. Công cha, nghĩa mẹ. Bổn phận làm con. Ta lạy Phật cầu cho mẹ sống lâu. Hoặc lạy mười phương tăng chú nguyện cho mẹ được tiêu diêu nơi cực lạc, nếu mẹ đã mất. Con mà không có hiếu là con bỏ đi. Nhưng hiếu cũng do tình thương mà có; không có tình thương, hiếu chỉ là giả tạo, khô khan, vụng về, cố gắng, mệt nhọc – mà có tình thương là có đủ hết rồi. Cần chi nói đến bổn phận. Thương mẹ như vậy là đủ.
Mà thương mẹ không chỉ là một bổn phận, thương mẹ là một cái gì rất tự nhiên, như khát thì uống nước, con thì phải có mẹ, phải thương mẹ. Chữ “phải” đây không phải là luân lý, là bổn phận. “Phải” đây là lẽ đương nhiên. Con thì đương nhiên thương mẹ, mẹ thì đương nhiên thương con. Nếu mẹ không cần con và con không cần mẹ thì đó không phải là mẹ con. Đó là lạm dụng danh từ mẹ con.
Ngày xưa, thầy giáo hỏi rằng, con mà thương mẹ thì cần phải làm như thế nào? Tôi trả lời: vâng lời cố gắng, giúp đỡ, phụng dưỡng lúc mẹ về già và thờ phụng khi mẹ khuất núi. Bây giờ thì tôi biết rằng con thương mẹ thì không phải “làm thế nào” gì hết. Cứ thương mẹ, thế là đủ lắm rồi, cần chi phải hỏi “làm như thế nào”.
Thương mẹ không phải là một vấn đề luân lý, đạo đức. Anh mà nghĩ rằng tôi viết bài này để khuyên anh về luân lý đạo đức là anh lầm. Thương mẹ là một vấn đề hưởng thụ. Mẹ như chuối ngọt, như đường mía lau, như xôi nếp một. Anh không hưởng thụ thì uổng cho anh. Chị không hưởng thụ thì uổng cho chị. Tôi chỉ cảnh cáo cho anh chị biết mà thôi. Để mai này, anh chị đừng có than thở rằng đời ta không còn gì cả. Một món quà như mẹ mà còn không vừa ý thì họa chăng có làm Ngọc Hoàng Thượng Đế mới vừa ý, mới bằng lòng, mới sung sướng. Nhưng tôi biết được Ngọc Hoàng không sung sướng đâu, bởi Ngọc Hoàng là đấng tự sinh không bao giờ có diễm phúc có được một bà mẹ.
Tôi kể chuyện này, anh đừng nói tôi khờ dại. Đáng lẽ chị tôi không nên đi lấy chồng và tôi không nên đi tu mới phải. Chúng tôi bỏ mẹ mà đi, người thì theo cuộc đời mới bên cạnh người con trai thương yêu, người thì đi theo lý tưởng đạo đức mình say mê và tôn thờ.
Ngày chị tôi đi lấy chồng, mẹ tôi lo lắng, lăng xăng, không tỏ vẻ buồn bã chi. Nhưng đến khi chúng tôi ăn qua loa để đợi rước dâu thì mẹ tôi không nuốt được miếng nào. Mẹ nói:“Mười tám năm trời nó ngồi ăn cơm với mình, bây giờ nó ăn bữa cuối cùng rồi nó đi ăn ở một nhà khác”. Chị tôi gục đầu xuống mâm cơm, khóc. Chị nói “Thôi con không đi lấy chồng nữa”. Nhưng rốt cuộc rồi chị cũng đi lấy chồng, còn tôi thì bỏ mẹ đi tu. “Các, ái, từ, sở, thân” là lời khen ngợi người có chí xuất gia. Tôi không tự hào chi về lời khen đó cả. Tôi thương mẹ nhưng tôi có lý tưởng, vì vậy phải xa mẹ. Thiệt thòi cho tôi, có thế thôi. Ở trên đời, có nhiều khi ta phải chọn lựa mà không có sự lựa chọn nào là không khổ đau. Anh không thể bắt cá hai tay. Chỉ khổ là vì muốn làm người nên anh phải khổ đau. Tôi không hối hận vì bỏ mẹ đi tu nhưng tôi tiếc thương cho tôi vô phúc thiệt thòi nên không được hưởng thụ tất cả kho tàng quý báu đó. Mỗi buổi chiều lạy Phật, tôi cầu nguyện cho mẹ. Nhưng tôi không được ăn chuối ba hương, xôi nếp một và đường mía lau.
Anh cũng đừng tưởng tôi khuyên anh không nên đuổi theo sự nghiệp mà chỉ nên ở nhà với mẹ. Tôi đã nói là tôi không khuyên răn ai hết – tôi không giảng luân lý đạo đức. Tôi chỉ nhắc nhở anh “mẹ là chuối, là xôi, là đường, là mật ngọt ngào, là tình thương”. Để anh đừng quên. Để chị đừng quên. Để em đừng quên. Quên là một lỗi lớn. Cũng không phải là lỗi nữa mà là một sự thiệt thòi. Mà tôi không muốn anh chị thiệt thòi, vô tình mà thiệt thòi. Tôi xin cài vào túi áo anh một hoa hồng để anh sung sướng, thế thôi.
Nếu có khuyên, thì tôi sẽ khuyên như thế này. Chiều nay khi đi học về, hoặc khi đi làm việc về, anh hãy vào trong phòng mẹ với một nụ cười thật trầm lặng và thật bền. Anh sẽ ngồi xuống bên mẹ. Sẽ bắt mẹ dừng kim chỉ, mà đừng nói năng chi. Rồi anh sẽ nhìn mẹ thật lâu, thật kỹ để trông thấy mẹ và để biết rằng mẹ đang sống và đang ngồi bên anh. Cầm tay mẹ, anh sẽ hỏi một câu ngắn làm mẹ chú ý. Anh hỏi: “Mẹ ơị mẹ có biết không?”. Mẹ sẽ hơi ngạc nhiên và sẽ hỏi anh, vừa hỏi vừa cười: “Biết gì?” Vẫn nhìn vào mắt mẹ, vẫn giữ nụ cười trầm lặng và bền, anh sẽ nói: “Mẹ có biết là con thương mẹ không?”. Câu hỏi sẽ không cần được trả lời. Cho dù người lớn ba bốn mươi tuổi cũng có thể hỏi một câu như thế vì ngươi là con của mẹ. Mẹ và anh sẽ sung sướng, sẽ sống trong ý thức tình thương bất diệt và ngày mai mẹ mất anh, anh sẽ không hối hận đau lòng tiếc rằng anh không có mẹ.
Đó là điệp khúc mà tôi muốn ca hát cho anh nghe hôm nay. Và anh hãy ca, chị hãy ca, em hãy ca cho cuộc đời đừng chìm trong vô tâm, quên lãng. Đóa hoa màu hồng tôi cài trên áo anh rồi đó. Anh hãy sung sướng đi !
(Để dâng mẹ và để làm quà Vu Lan cho những người nào có diễm phúc còn mẹ).