Thứ Tư, 23 tháng 11, 2016

Tâm thư Thủ tướng Võ Văn Kiệt gửi Bộ Chính trị 20 năm trước

Ngày 9/8/1995, trước Đại hội Đảng lần thứ VIII, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã gửi một bức tâm huyết cho Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam nêu quan điểm, tư tưởng, khuyến nghị và cảnh báo về một số vấn đề có tầm chiến lược đối với đất nước vào thời điểm lịch sử đó.
Giờ đây, 20 năm trôi qua, đất nước đã có những bước phát triển đáng kể, nhưng nhìn chung vẫn còn nhiều mặt khó khăn trước mắt, bao gồm cả những chướng ngại trên con đường đi lên. Vì vậy những đề xuất của Thủ tướng Võ Văn Kiệt vẫn giữ nguyên giá trị và tính thời sự.
Việc đọc lại, tìm hiểu, rút ra những đánh giá và đề xuất chính yếu từ bức thư của vị lãnh đạo nổi tiếng thời “Đổi mới” Võ Văn Kiệt là rất cần thiết. Quan trọng và thiết thực hơn nữa là chúng ta đọc để đối chiếu những mặt khó khăn tồn tại lớn làm chậm bước đi lên của đất nước bây giờ so với những tiên liệu và đề xuất 20 năm trước đây của ông.
Trân trọng giới thiệu cùng độc giả toàn văn bức thư.
*     *     *
Hà Nội, ngày 9 tháng 8 năm 1995
Kính gửi BỘ CHÍNH TRỊ
Sau đợt thảo luận tháng 6 vừa qua trong Bộ Chính trị xây dựng các văn kiện chuẩn bị Đại hội VIII, đồng chí Tổng bí thư đã kết luận còn một số vấn đề và quan điểm lớn cần tổ chức nghiên cứu và thảo luận sâu hơn nữa. Tôi tán thành kết luận này và xin trình bày một số ý kiến về 4 vấn đề.
1. Đánh giá tình hình, cục diện thế giới ngày nay
Nhận thức của chúng ta về tình hình, cục diện thế giới này nay quyết định đánh giá của chúng ta về thời cơ và thách thức.
Đặc điểm cần nhấn mạnh là: Trong thế giới ngày nay, không phải mâu thuẫn đối kháng giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa đế quốc, mà trước hết là tính chất đa dạng đa cực trở thành nhân tố nổi trội nhất chi phối những mâu thuẫn và sự vận động của các mối quan hệ giữa mọi quốc gia trên thế giới. Và cũng khác với trước, ngày nay lợi ích quốc gia, lợi ích khu vực, những lợi ích toàn cầu khác (ví dụ hoà bình, vấn đề môi trường, vấn đề phát triển, tính chất toàn cầu hoá ngày càng sâu sắc của sự phát triển lực lượng sản xuất...) đóng vai trò ngày càng quan trọng hơn trong việc phát triển những mâu thuẫn cũng như trong việc tạo ra những tập hợp lực lượng mới ngày nay trên thế giới. Nhiều mâu thuẫn khác đã từng tồn tại trong thời kỳ thế giới còn chia thành hai phe – kể cả mâu thuẫn giữa chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa xã hội – có thể tiếp tục còn tồn tại, song chịu sự chi phối ngày càng lớn hơn bởi những mâu thuẫn khác và do đó không còn có thể giữ vai trò như cũ.
Không thấy hết đặc điểm quan trọng nói trên, không thể cắt nghĩa được việc Việt Nam trở thành thành viên ASEAN, ký kết hiệp định khung với EU (Liên hiệp châu Âu, chú thích của DĐ), tạo lập ra được quan hệ quốc tế ngày càng rộng rãi và giành lấy vị trí quốc tế ngày càng thuận lợi hơn trước giữa lúc hệ thống thế giới xã hội chủ nghĩa không còn tồn tại được nữa. Cần nhấn mạnh đây là chiến công có ý nghĩa chiến lược và xoay chuyển hẳn tình thế của đường lối đối ngoại Đại hội VII – xuất phát từ những nhận thức mới và chính xác về cục diện thế giới ngày nay. Bây giờ, lợi ích của Việt Nam là phát huy hơn nữa đường lối ấy. Đồng thời cũng phải tỉnh táo đánh giá những thách thức và sức ép mới do ta gia nhập ASEAN, hợp tác với EU, bình thường hoá quan hệ với Mỹ...
Ngày nay, Mỹ và các thế lực phản động khác không thể giương ngọn cờ chống cộng để tranh thủ dư luận và tập hợp lực lượng chống lại nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam như trước được nữa. Vì ngọn cờ này đã hết phép mê hoặc, chúng phải chuyển sang ngọn cờ dân chủ và nhân quyền. Song ngay cả ý đồ muốn thủ tiêu nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam của các thế lực đế quốc và phản động cũng phải được đánh giá dưới ánh sáng của cục diện quốc tế mới – đặc biệt là trong mối tương quan giữa các nước lớn, các “trung tâm”, các “cực” đang hình thành ngày càng rõ nét.
Để có cơ sở phân tích mối tương quan vừa nói tới bên trên, chúng ta có hàng loạt những sự kiện quan trọng kể từ khi cục diện quốc tế bắt đầu chuyển sang thời kỳ mới, đó là: chiến tranh Iraq, sự tập hợp lực lượng và thái độ các nước lớn chung quanh việc chống Việt Nam trong vấn đề Campuchia, giải pháp hoà bình giữa Palestine và Israel, hoà giải ở Nam Phi, nội chiến ở Nam Tư cũ (Bosnia, Herzegovina), sự tranh chấp ở Trường Sa và thái độ các loại nước khác nhau chung quanh vấn đề này, sự phát triển các mối quan hệ quốc tế của Việt Nam trong 10 năm qua, triển vọng bình thường hoá quan hệ Việt - Mỹ, vai trò ngày càng quan trọng của ASEAN, tiếng nói của các nước nhỏ ngày càng có nhiều trọng lượng hơn trước, xu thế tập hợp các tổ chức kinh tế khu vực, vai trò ngày càng tăng của Liên hiệp quốc song song với hiện tượng những siêu cường ngày càng khó thao túng Liên hiệp quốc như thời kỳ chiến tranh lạnh, vân vân...
Chúng ta cũng cần phân tích sâu những mâu thuẫn mới và sự tập hợp lực lượng mới đang diễn ra trong quan hệ giữa các quốc gia trên thế giới, tạo ra cho mỗi nước những cơ hội và thách thức mới khó lường hết được.
Trước hết đó là những mâu thuẫn và lợi ích của các quốc gia – bao gồm cả sự cạnh tranh gay gắt, xung đột lợi ích quốc gia, yêu cầu hợp tác, những thách thức tác động vào mọi quốc gia do sự phát triển của lực lượng sản xuất và những biến động trong kinh tế thế giới, sự hình thành những liên kết kinh tế khu vực, những thách thức mới trên các lĩnh vực chính trị, văn hoá, xã hội do quá trình hoà nhập và giao lưu kinh tế ngày càng sâu rộng giữa các quốc gia, những chính sách và thủ đoạn của các quốc gia và các thế lực thù nghịch nhau sử dụng những yếu tố mới này để chi phối, đối phó hoặc loại bỏ nhau... Không xử lý được tình hình mới này, không một quốc gia nào có thể đứng vững được.
Cũng cần đánh giá thực chất quan hệ giữa các nước xã hội chủ nghĩa còn lại. Sự thật hiện nay là 4 nước xã hội chủ nghĩa tuy có những mối quan hệ với nhau ở mức độ nhất định, song không thể hành động và không có giá trị trên trường quốc tế như một lực lượng kinh tế và chính trị thống nhất. Nói riêng về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc, Việt Nam - Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên thì tính chất quốc gia lấn át (nếu chưa muốn nói là loại bỏ) tính chất xã hội chủ nghĩa trong những mối quan hệ giữa những nước này. Thậm chí trong quan hệ Việt Nam - Trung Quốc tồn tại không ít điểm nóng. Thuần tuý nói về chủ nghĩa xã hội thì cả 4 nước xã hội chủ nghĩa còn lại đều nói còn đang phải tiếp tục nghiên cứu, tìm tòi con đường riêng phù hợp của từng nước.
Cũng không thể xem xét sự phục hồi ở mức độ nào đấy của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế – kể cả ở những nước Liên Xô Đông Âu cũ, có cùng một chất lượng và cũng một giá trị cộng sản chủ nghĩa như trước kia. Chủ nghĩa xã hội dân chủ và nhiều quan điểm pha trộn khác đang tác động mạnh mẽ vào trào lưu này. Nghĩa là sự phục hồi này chưa mang lại cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế sức nặng chính trị vốn có trước đây.
Song có một thực tế khách quan khác rất quan trọng cần được mổ xẻ nghiên cứu. Đó là, bất chấp những biến động nghiêm trọng của hệ thống thế giới xã hội chủ nghĩa, nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo ngày càng được củng cố và đứng trước những triển vọng to lớn. Cục diện quốc tế ngày nay có những đặc điểm gì, cho phép vận dụng đường lối nào và có thể khai thác những yếu tố gì đã giúp cho Đảng ta xoay chuyển được tình hình; tìm ra được hướng đi mới và tạo khả năng giành thời cơ để đi lên như vậy?
Điều hiển nhiên là trên thế giới tiếng nói ủng hộ hay đồng tình với yêu cầu ổn định chính trị của Việt Nam ngày càng mạnh, sự chấp nhận trên thế giới đối với chế độ chính trị một đảng của Việt Nam cũng đang tăng lên – mặc dầu lúc này lúc khác vấn đề dân chủ và nhân quyền được sử dụng như một phương tiện chính trị đối phó với chúng ta. Hơn thế nữa, đang có một xu thế ngày càng mạnh trên thế giới hoan nghênh, cổ vũ sự phát triển năng động và vai trò tích cực của Việt Nam trên trường quốc tế. Nếu như trong tương lai gần đây, chúng ta thực hiện được dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh, nước Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo sẽ lại một lần nữa giành được trái tim của các lực lượng tiến bộ trên toàn thế giới – một sự tập hợp lực lượng mới, như Đảng ta và nhân dân ta đã từng thực hiện được trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước. Bởi vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh là khát vọng của nhân dân ta, đồng thời cũng là mong muốn của nhiều nước đang phát triển và các lực lượng tiến bộ trên toàn thế giới. Những lý luận hoặc mô hình này mô hình khác về xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa vừa qua có thể thất bại, nhưng xây dựng một xã hội xã hội chủ nghĩa chân chính vẫn là khát vọng của nhân dân lao động toàn thế giới. Xem xét thế giới như vậy, mặt trận của Việt Nam tập hợp lực lượng trên thế giới ngày nay vẫn có triển vọng ngày càng mở rộng. Điều này hoàn toàn phụ thuộc vào đường lối của Đảng ta và phẩm chất cách mạng của chúng ta.
Tất cả phải đưa lên bàn cân, để có thể nhận định, phán đoán tình hình một cách đúng đắn, xác định chính xác nhiệm vụ phải thực hiện, để lo thu xếp huy động thực lực bên trong, tập hợp lực lượng bên ngoài và bài binh bố trận như thế nào để thắng bằng được trong keo vật mới này ?
Với đánh giá tình hình theo cách nhìn mới, có thể nói, sau một nửa thế kỷ phấn đấu đầy hy sinh gian khổ kể từ Cách mạng tháng Tám, bây giờ chúng ta mới cùng một lúc có được điều kiện bên trong tốt nhất và bối cảnh quốc tế bên ngoài thuận lợi nhất cho phép đặt ra được và thực hiện được dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh, đáp ứng được đòi hỏi phải vươn ra thế giới bên ngoài để tồn tại và phát triển, để lấy lại thời gian đã mất và đuổi kịp các nước chung quanh. Có thể nói, đất nước đang đứng trước cơ hội chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta !
Đảng ta lãnh sứ mệnh lịch sử trước dân tộc là không được bỏ lỡ cơ hội này. Đây chính là nhiệm vụ của Đại hội VIII. Cũng có thể nói rằng, rụt rè bỏ lỡ cơ hội này, sẽ là thảm hoạ cho đất nước, Đảng ta sẽ đứng trước nguy cơ bị tước quyền lãnh đạo – chỉ vì không đáp ứng được đòi hỏi phát triển của đất nước. Xin nhấn mạnh rằng sau gần 200 năm kể từ khi kinh tế thế giới đi vào thời đại công nghiệp hoá, dân tộc Việt Nam ta bây giờ mới có lại một cơ hội như vậy. Chúng ta không được và không có quyền để bất kỳ một vướng mắc nào ngăn cản nhân dân ta nắm lấy cơ hội này. Sự tồn vong của đất nước phải được xem xét trên tất cả.
2. Vấn đề 'chệch hướng' hay không 'chệch hướng'?
Đề tài này đang được thảo luận rất sôi nổi trong Đảng và trong cả nước, chắc chắn còn phải mất nhiều công sức để đi tới những kết luận có sức thuyết phục hơn.
Về lý luận sẽ bàn sau.
Về thực tiễn, phải chăng có thể căn cứ vào những tiêu chí cơ bản nhất sau đây để làm rõ định hướng xã hội chủ nghĩa, đó là :
– Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh,
– Phát triển gắn liền với giữ gìn độc lập, chủ quyền và bản sắc văn hoá của dân tộc,
– Phát triển gắn liền với phúc lợi xã hội và bảo vệ môi trường,
– Xây dựng nhà nước của dân, do dân và vì dân có hiệu lực,
– Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo toàn bộ quá trình phát triển nói trên của đất nước.
Một vấn đề rất khó ở đây là sự tách bạch đúng đắn giữa mục tiêu và phương tiện thực hiện mục tiêu. Có làm tốt được việc này, mới xác định rõ được chệch hướng hay không chệch hướng.
Ví dụ, nếu chúng ta cho rằng kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo là một tiêu chí của định hướng xã hội chủ nghĩa, nhấn mạnh rằng đó là mục tiêu phấn đấu của chúng ta, của dân tộc ta, thì điều này hoàn toàn không đúng. Thực ra vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh chỉ là một trong nhiều điều kiện quan trọng, đồng thời cũng là một trong nhiều phương tiện quan trọng cần phải có để thực hiện định hướng xã hội chủ nghĩa. Nghệ thuật lãnh đạo đất nước ở đây là phải xử lý hài hoà mối quan hệ giữa việc phát huy vai trò kinh tế quốc doanh và việc thúc đẩy các thành phần kinh tế khác phát triển, với đích cuối cùng là bảo đảm thực hiện được 5 tiêu chí nói trên.
Chúng ta nhất trí rằng con đường xây dựng xã hội đi theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta chưa có tiền lệ chính vì lẽ này: phải luôn tránh công thức hoá, phải bám lấy kết quả tổng thể trong việc thực hiện những tiêu chí lớn để soi rọi lại xem có chệch hướng hay không chệch hướng.
Ví dụ có đồng chí nói biểu hiện của chệch hướng là quốc doanh không làm chủ được lưu thông phân phối, tư thương hầu như chi phối thương nghiệp. Một biểu hiện khác của chệch hướng – cũng theo cách nhìn nhận như vậy – là trong giao thông vận tải, tỷ lệ xe tư nhân chiếm quá cao...
Cũng những sự việc nói trên đúng ra phải được đánh giá hoàn toàn ngược lại.
Sự thật là đường lối đổi mới đã tạo ta được một cơ chế kinh tế cho phép huy động mọi tiềm năng trong xã hội nhờ đó đã xử lý có thể nói khá thành công vấn đề lưu thông hàng hoá và giao thông vận tải. Về phương diện này, chúng ta đã thành công rất xa so với thời kỳ còn cơ chế kinh tế bao cấp. Bây giờ hàng hoá đi và về hầu như mọi miền đất nước, nhân dân trong cả nước đi lại dễ dàng hơn trước nhiều lần. Cũng nhờ đó, đời sống được cải thiện rõ rệt, nền sản xuất hàng hoá tăng trưởng nhanh. Chúng ta thử hình dung sự phát triển này đã huy động được biết bao nguồn lực nhàn rỗi trong xã hội, đã tạo ra biết bao công ăn việc làm mới cho người dân trong cả nước mà khu vực kinh tế nhà nước không thể lo xuể. Những năm trước khi thực hiện đổi mới, chúng ta đã có kinh nghiệm nếu không có sự phát triển này thì kinh tế tiêu điều và ách tắc như thế nào! Nếu coi sự phát triển này là chệch hướng, có nghĩa là chúng ta phải đem kinh tế quốc doanh ra đối lập lại với sự phát triển này, đối lập với tất cả những người lao động đang bỏ của và công sức để tạo ra sự phát triển như hiện nay.
Đương nhiên tình hình lưu thông phân phối và giao thông vận tải hiện nay chưa phải thật hoàn hảo. Song, không thể giải quyết những vấn đề ta gọi là “tranh mua tranh bán”, vấn đề đầu cơ, tai nạn giao thông... bằng cách mở rộng mạng lưới quốc doanh trong những lãnh vực này. Đấy không phải là giải pháp. Trong những năm của cơ chế kinh tế cũ, quốc doanh đã hầu như nắm toàn bộ các lãnh vực này và chúng ta đã biết kết quả. Ngày nay không ít xí nghiệp, đơn vị quốc doanh làm ăn trái với pháp luật, số lượng phương tiện giao thông vận tải của quốc doanh – trong đó có xe của đơn vị quân đội – tham gia buôn lậu khá lớn... Vì vậy, giải pháp cho những vấn đề này là phải tiếp tục hoàn thiện thị trường, tăng cường chất lượng bộ máy nhà nước trong quản lý kinh tế, kiện toàn và tiếp tục phát triển các hệ thống tài chính, luật pháp, những chính sách ưu đãi, hỗ trợ đúng hướng..., chứ không phải giao cho quốc doanh “nắm” tất cả.
Cũng có ý kiến nói chệch hướng trong vấn đề hợp tác xã.
Cần phải nói thẳng thắn mô hình hợp tác xã cũ không còn thích ứng với sự phát triển của kinh tế hộ và những đòi hỏi trong quá trình phát triển kinh tế hiện nay của đất nước. Kết thúc sự tồn tại của mô hình này trong lĩnh vực nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp là tất yếu. Thật ra kinh tế hộ trong nông lâm nghiệp, thuỷ sản, những người sản xuất tiểu thủ công nghiệp và không ít những người buôn bán nhỏ, sản xuất nhỏ đang rất cần một loại hình hợp tác xã mới có thể hỗ trợ thiết thực cho họ. Khuyết điểm của chúng ta là chưa đáp ứng được đòi hỏi mới này. Trong khi đó, các hộ kinh tế này đang tự phải tổ chức với nhau những hình thức hợp tác thiên hình vạn trạng và ở những mức độ rất khác nhau, nơi thành công, nơi thất bại và không ít những kinh nghiệm đáng được nghiên cứu cho việc xây dựng mô hình hợp tác xã kiểu mới thích hợp. Khư khư giữ mô hình hợp tác xã cũ sẽ lại thất bại. (Vừa qua, tôi đến thăm nông trường Sông Hậu. Thực chất đó không còn là một nông trường theo nghĩa xưa nay chúng ta vẫn hiểu. Đó chính là một mô hình hợp tác xã kiểu mới như chúng ta vẫn thường thấy ở các nước công nghiệp. Đây chính là mô hình cần được nghiên cứu).
Song nguy cơ chệch hướng đang ẩn náu trong nhiều hiện tượng kinh tế xã hội khác cần được chú ý xử lý thoả đáng. Đó là tình trạng làm ăn trái pháp luật, tham nhũng, tiêu cực đang trở thành “quốc nạn”, bao gồm cả những thói xấu như cục bộ, cửa quyền, tính vô chính phủ, cát cứ, tiêu xài lãng phí và ăn cắp của công... Những hiện tượng này đang làm giảm hiệu lực pháp luật và các hệ thống quản lý kinh tế (vĩ mô và vi mô) của nhà nước, gây nhiều thiệt hại kinh tế nghiêm trọng, kể cả trong liên doanh với nước ngoài; kích thích kinh tế ngầm và các mafia, tăng thêm những căng thẳng trên các vấn đề như khoảng cách thu nhập, sự phân hoá và tệ nạn xã hội (đặc biệt là những tệ nạn nghiện hút, cờ bạc, mãi dâm), vấn đề công bằng và công lý, v.v... Sẽ là sai lầm, nếu đem tất cả những phát triển không lành mạnh này đổ lỗi cho cơ chế thị trường. Kết luận như vậy sẽ chỉ còn có cách là xoá bỏ cơ chế kinh tế thị trường, một điều ai cũng thấy là vô lý, và những hiện tượng xấu ấy sẽ không vì thế tự nhiên biến mất (đành rằng cơ chế thị trường và nền kinh tế nhiều thành phần tự nó cũng đặt ra nhiều vấn đề mới phải xử lý).
Để những hiện tượng xấu này tiếp tục phát triển, sẽ có nghĩa nhà nước mất dần khả năng kiểm soát, sự trong sạch và vững mạnh của chế độ chính trị giảm sút, lòng dân phân tán, định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ chỉ còn là khẩu hiệu trống rỗng. Chệch hướng và diễn biến hoà bình sẽ có thêm mảnh đất màu mỡ để bung ra. Trên phương diện này, rõ ràng hậu quả của những yếu kém trong năng lực quản lý nhà nước chưa được đánh giá đúng mức. Chỗ nào chúng ta cũng có đảng viên, cán bộ, song tình trạng tiêu cực vẫn có xu hướng phát triển. Đảng và các tổ chức cơ sở Đảng, chính quyền các cấp, các đoàn thể, các ngành phải làm gì?
Một vấn đề không thể tránh né là chúng ta thừa nhận sự phát triển của thành phần kinh tế ngoài quốc doanh đến mức độ nào để khỏi chệch hướng?
Đề nghị cần trao đổi kỹ vấn đề này.
Chúng ta đang đứng trước đòi hỏi khách quan là nước ta phải giàu lên càng nhanh càng tốt, để có sức cạnh tranh và có lực thu hút mọi nguồn vào từ bên ngoài để giữ được độc lập tự chủ trong mở rộng, hợp tác và phát triển. Chúng ta phải ráo riết tăng mạnh cường độ tích tụ vốn để có thể rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã từng kéo dài hàng trăm năm trong lịch sử các nước công nghiệp xuống còn vài ba thập kỷ như một số “con rồng” ở châu Á đã thực hiện. Không làm được như vậy sẽ mất thời cơ và mất tất cả. Chính đấy là những đòi hỏi ràng buộc chúng ta trong khi xử lý vấn đề phát triển các thành phần kinh tế.
Hơn thế nữa, chúng ta còn phải đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, sao cho trong vòng mươi, mười lăm năm tới chỉ còn trên 1/3 lao động cả nước làm nông nghiệp, tỷ trọng nông nghiệp trong GDP phải giảm xuống mức thấp trong quá trình tăng trưởng kinh tế. Không đạt được yêu cầu này, sẽ tăng thêm nguy cơ bần cùng hoá (bởi vì trong lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp, tài nguyên đất đai, rừng núi và ven biển đã được khai thác hầu như ở mức độ quá tải bằng công nghệ thủ công và lạc hậu), hoàn toàn không thể nói tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Trong mở rộng liên doanh với nước ngoài, phần góp vốn của phía ta hiện nay thường chỉ đạt 20 - 30 % giá trị công trình, vì làm chưa tốt việc huy động các nguồn lực trong nước, phía ta rất thiệt thòi v.v...
Như vậy phải chăng câu trả lời sẽ là: Để đáp ứng những đòi hỏi vô cùng bức xúc của phát triển, chúng ta chủ trương trong khi đối xử bình đẳng với tất cả các thành phần kinh tế, chúng ta chấp nhận không đặt ra cho các thành phần kinh tế bất kỳ giới hạn phát triển nào, miễn là sự phát triển ấy cân đối hài hoà, ổn định, nằm trong khuôn khổ của luật pháp, nhà nước kiểm soát được và đáp ứng tối đa những tiêu chí lớn chúng ta đã xác định cho định hướng xã hội chủ nghĩa?
Nếu chấp nhận đạo lý vừa trình bày trên, sẽ có nhiều vấn đề hệ trọng phải xem xét lại trong việc hoạch định đường lối và chính sách. Có thể chính đạo lý này sẽ thống nhất ý chí toàn dân tộc trước vận mệnh mới của đất nước, tạo ra động lực không gì khuất phục được cho một nước Việt Nam dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh, độc lập và bất khả xâm phạm với bất kỳ sức ép bên ngoài nào. Song nhằm đạt được mục tiêu này, năng lực quản lý nhà nước, quản lý kinh tế xã hội trở thành một trong những tiền đề quyết định – và đây lại chính là điều chúng ta thiếu nhất. Xử lý thành công yêu cầu này là nhiệm vụ chính trị rất quan trọng của Đảng ta hiện nay.
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có phải ưu tiên phát triển thành phần kinh tế quốc doanh hay không?
Như đã trình bày, Đảng ta lựa chọn quan điểm đối xử bình đẳng các thành phần kinh tế. Lợi ích lâu dài của đất nước đòi hỏi phải quán triệt và kiên trì quan điểm này. Trừ một số lĩnh vực liên quan đến an ninh quốc phòng và phát triển cơ sở hạ tầng (bao gồm cả về mặt xã hội), không nên và không thể đặt vấn đề “ưu tiên” KTQD, hay giao cho KTQD nhiệm vụ “nắm” một thứ gì đó như chúng ta thường làm trong cơ chế quản lý cũ.
Nhưng kinh tế quốc doanh thật sự đang có nhiều vấn đề quan trọng khác chưa được quan tâm đúng mức.
Điều đáng lưu ý nhất là kinh tế quốc doanh nhìn chung chưa đem lại hiệu quả mong muốn lớn nhất cho nền kinh tế quốc dân xứng đáng với vai trò, vị trí và vốn liếng nó nắm trong tay. Đối với chế độ chính trị của nước ta, kinh tế quốc doanh là lực lượng kinh tế quan trọng nhất trong việc thực hiện đường lối, chủ trương kinh tế và phát triển đất nước của Đảng. Chúng ta còn phải làm nhiều việc để cho KTQD trở thành đội quân chủ lực mở đường cho kinh tế nước ta đi lên, hỗ trợ cho các thành phần kinh tế khác phát triển, làm chỗ dựa và có khả năng hạn chế bớt rủi ro cho kinh tế cả nước, tạo ra những tập đoàn mạnh trong cạnh tranh với bên ngoài. Cũng phải từ quan điểm vừa trình bày mà xem xét, bố trí KTQD vào đâu, làm việc gì, với phương thức nào là có lợi nhất. Ngoài ra cần làm cho KTQD trở thành yếu tố năng động trong hệ thống điều hành kinh tế vĩ mô của nhà nước.
Sự thực là năng suất lao động và hiệu quả của từng đồng vốn trong KTQD (ở đây không kể những đơn vị kinh tế phải làm công ích xã hội hoặc phát triển cơ sở hạ tầng) nhìn chung còn thấp so với vốn của các thành phần kinh tế khác trong xã hội. Tình trạng thất thoát và lợi dụng vốn quốc doanh còn ở mức nghiêm trọng. Hơn nữa, việc sắp xếp và cơ cấu lại KTQD, cổ phần hoá, xây dựng các liên kết liên doanh còn rất chật vật, có nhiều sức tiêu cực chống lại. Ngoài ra chúng ta hiện nay mới chỉ quan tâm đến xử lý tính hiệu quả của các xí nghiệp, song chưa có sự quan tâm thoả đáng đến vấn đề chuyển đổi các xí nghiệp để huy động vốn quốc doanh tập trung vào những ngành nghề có thể chi phối sự phát triển kinh tế của cả nước, việc sắp xếp lại và giải thể những xí nghiệp không có hiệu quả kinh tế đáng kể, thực hiện chưa tốt nên chưa tạo ra chuyển biến mới.
Tóm lại, để góp phần giữ được định hướng xã hội chủ nghĩa, đòi hỏi bức xúc là phải nâng cao tính hiệu quả của kinh tế quốc doanh, nhằm làm cho nó chiếm một vai trò chủ đạo trong thị trường nước ta chứ không phải là giành cho nó quyền “nắm” thứ này thứ khác.
3. Nâng cao năng lực quản lý nhà nước
Đã có nhiều cuộc trao đổi về nhà nước pháp quyền. Tôi không đi vào lý luận của vấn đề này, mà muốn nhấn mạnh yêu cầu bức xúc phải nâng cao năng lực quản lý nhà nước, với nhận thức cho rằng yếu kém hiện nay của chúng ta trong nhiệm vụ quản lý nhà nước đang thách thức rất nghiêm trọng khả năng vươn lên của nước ta.
Trước hết, sống và làm việc theo pháp luật trở thành đòi hỏi ngày càng bức thiết của cuộc sống và sự nghiệp phát triển đất nước ta.
Đòi hỏi tất yếu và không thể tranh cãi được này đang làm cho chúng ta lo lắng. Bởi vì một mặt, sự phát triển luật pháp và năng lực thi hành luật pháp chưa theo kịp đà phát triển của đất nước và xã hội ta hiện nay. Mặt khác, tình trạng sống và làm ăn trái phép với pháp luật chưa có xu thế giảm.
Có thể nói chúng ta đã làm rất nhiều việc để tiếp tục phát triển hệ thống luật pháp, kết hợp với tăng cường các tổ chức thi hành luật pháp, nhưng kết quả chưa như mong đợi. Ngay bây giờ, tình trạng bất cập của bộ máy nhà nước và những vấn đề nóng bỏng trong đời sống kinh tế xã hội đã ở mức báo động.
An ninh kinh tế, an ninh chính trị và an ninh xã hội đều có nhiều vấn đề đáng lo ngại do buông lỏng quản lý nhà nước. Chưa có thể nói chúng ta đã tạo ra được một môi trường kinh tế xã hội thông suốt, minh bạch rõ ràng cho từng người dân có thể an tâm làm ăn và được bảo hộ chu toàn trong làm ăn. Chúng ta chưa có một môi trường như vậy cho sự quản lý có hiệu quả của nhà nước.
Giới đầu tư và kinh doanh nước ngoài, mặc dù đánh giá rất cao sự ổn định chính trị và tiềm năng kinh tế của nước ta, nhưng còn e ngại rất nhiều về môi trường làm ăn ở nước ta. Không thay đổi căn bản tình hình này, ngay sự kiểm soát của nhà nước ta đối với mọi quá trình diễn biến trong xã hội nước ta sẽ ngày càng có nhiều hiện tượng “tuột tay”, “chệch hướng”.
Hãy thử mổ xẻ tình trạng tham nhũng, tình trạng buôn lậu, trốn thuế, tình trạng móc ngoặc ở trong nước, hoặc với nước ngoài trong kinh tế, tình trạng chồng chéo ách tắc trong điều hành và quản lý đất nước, rừng núi tài nguyên bị tàn phá trong thời bình, môi trường tự nhiên đang bị xâm phạm nghiêm trọng, cơ sở hạ tầng nhiều nơi không được gìn giữ, tình trạng dân kêu oan khiếu nại..., chúng ta sẽ có được những thước đo khá chính xác về mức độ báo động này. Một trong những nguyên nhân chính là những yếu kém trong nhiệm vụ quản lý nhà nước.
Phải chăng cho đến nay mọi cố gắng của chúng ta trên mặt trận này còn rất chắp vá, thiếu đồng bộ và chưa đụng chạm vào những khâu cơ bản nhất – nghĩa là chưa trúng vào những “nút” cần bấm để thay đổi hẳn tình thế? Xin nhắc lại rằng trong những năm trước Đại hội VI và sau đó một ít, chúng ta loay hoay mãi trong việc ổn định giá cả và chống lạm phát nhưng không kết quả, phải chờ cho đến khi thiết lập được cơ chế kinh tế trên cơ sở thừa nhận giá thị trường, chúng ta mới xoay chuyển được tình hình và đạt kết quả. Như vậy có việc phải đi tìm những cái “nút” để xử lý?
Nói một cách khái quát, để tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước, chúng ta phải làm cùng một lúc và trong cùng một tổng thể những chủ trương chính sách hài hoà cả 3 việc lớn: kiện toàn bộ máy nhà nước, kiện toàn hệ thống điều hành và kiểm soát kinh tế vĩ mô, hoàn thiện và phát triển thị trường. Nghĩa là việc tăng cường cơ sở quyền lực của luật pháp phải gắn liền với việc nâng cao khả năng điều hành và việc tạo môi trường kinh tế xã hội thuận lợi cho sự hoạt động hữu hiệu của bộ máy nhà nước.
Về kiện toàn bộ máy nhà nước
Có thể nói rằng hệ thống luật pháp và bộ máy nhà nước của chúng ta được chú ý củng cố và phát triển, song hiệu lực của hệ thống bộ máy nhà nước và năng lực của cán bộ viên chức còn nhiều mặt không đáp ứng đòi hỏi của nhiệm vụ. Một hiện tượng rất nghiêm trọng khác là nhiều cơ quan thuộc bộ máy quản lý nhà nước sa đà vào các công việc kinh doanh và những sự vụ của cơ chế “chủ quản”, sao nhãng chức năng chủ yếu là quản lý nhà nước trong lĩnh vực của mình.
Nói về hệ thống, điều quan trọng nhất là phải làm cho bộ máy nhà nước vận hành hoàn toàn trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật với những chức năng và kỹ năng ngày càng hoàn thiện, có quyền lực thực chất và hiệu lực mạnh trong toàn bộ lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội. Đi vào thời bình xây dựng đất nước và khuyến khích sự năng động của các thành phần kinh tế cũng như của từng thành viên trong xã hội, càng đòi hỏi phải có một hệ thống nhà nước như vậy, với yêu cầu phát huy được mọi tiềm năng nhưng nhà nước vẫn kiểm soát đầy đủ. Đã đến lúc bộ máy quản lý nhà nước các ngành các cấp phải đoạn tuyệt với cơ chế “chủ quản” và với bất kỳ hoạt động kinh doanh nào, phải được cải cách để làm đúng chức năng quản lý nhà nước. Phải xem đó là nội dung chủ yếu của nhiệm vụ cải cách hành chính.
Chúng ta cần sớm khắc phục những ảnh hưởng còn lại của phương thức điều hành đất nước trong thời chiến với những đặc điểm như: cơ chế chính uỷ, quyền lực quyết định tại chỗ, tính chất địa phương, cơ cấu bộ máy sắp xếp cán bộ theo yêu cầu chính trị, bộ máy của Đảng song trùng và trên thực tế là có những việc đứng trên hoặc làm thay bộ máy chính quyền, cơ chế trách nhiệm không rõ ràng và sự yếu kém về nghiệp vụ do vận dụng nguyên tắc tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách v.v...
Cũng có thể nói một cách khái quát: phải đẩy mạnh xây dựng nhà nước pháp quyền với mục đích nâng cao hơn nữa năng lực quản lý nhà nước của toàn bộ hệ thống bộ máy quyền lực, đồng thời tạo mọi điều kiện cần thiết cho việc bảo đảm thực hiện Hiến pháp, pháp luật và các chủ trương chính sách của Đảng. Yêu cầu này đòi hỏi phải nâng cao khả năng nghiệp vụ và phẩm chất chính trị của các cơ quan, đơn vị và đội ngũ cán bộ viên chức trong bộ máy quyền lực nhà nước ở trong tất cả các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp. Hơn bao giờ hết phải nâng cao hơn nữa chất lượng thể chế hoá, chính quy hoá đối với bộ máy chính quyền, cơ chế làm việc và đội ngũ cán bộ viên chức nhà nước. Đây là đòi hỏi tất yếu bảo đảm thực hiện mọi chủ trương chính sách của Đảng trong quá trình phát triển ngày càng cao của đất nước. Tình trạng hiện nay là không ít những chủ trương chính sách đúng đắn của Đảng và luật lệ của nhà nước không thi hành được, nguyên nhân chính là thiếu yếu tố quyết định vừa nói trên.
Một hướng khác trong đẩy mạnh cải cách hành chính là nên sớm từng bước thực hiện chế độ đào tạo, bổ nhiệm, bãi chức đối với cán bộ viên chức trong hệ thống hành pháp bao gồm cả những chức vụ chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, quận, huyện, phường xã. Đồng thời cần tăng cường quyền lực và khả năng hoạt động hữu hiệu của các cơ quan dân cử bao gồm Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp với nội dung: chú trọng tăng cường khả năng và quyền lực lập pháp của Quốc hội; tăng cường quyền lực và khả năng giám sát của hội đồng nhân dân. Không nên nhầm lẫn coi hội đồng nhân dân là những cấp “lập pháp” địa phương dưới Quốc hội. Cả nước chỉ có một cơ quan duy nhất có tính năng và quyền lực lập pháp là quốc hội.
Nêu lên một sơ đồ về tổ chức của Đảng hiện nay đan xen vào hệ thống bộ máy nhà nước, chúng ta sẽ thấy nhiều tầng, nhiều cấp chồng chéo – trên thực tế là làm giảm bớt sự lãnh đạo của Đảng và hiệu lực của bộ máy nhà nước.
Cần xác định rõ các tổ chức cơ sở Đảng trong các bộ máy nhà nước nói trên (Quốc hội, hội đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân các cấp) có nhiệm vụ chính trị hàng đầu là làm cho cơ quan của Đảng bộ mình làm tròn chức năng quyền hạn Nhà nước được giao. Các tổ chức cơ sở Đảng không làm thay, không quyết định thay. Các tổ chức cơ sở Đảng vì vậy cần được đổi mới và tổ chức lại một cách khoa học, cần được kiện toàn phù hợp với nhiệm vụ chính trị mới này. Công tác Đảng cần làm tốt hơn nữa nhiệm vụ giáo dục, đào tạo đội ngũ cán bộ viên chức để đưa vào những cương vị thích hợp qua quy chế đào tạo, tuyển chọn, bổ nhiệm, bãi miễn và sa thải rất nghiêm ngặt của hệ thống chính quyền.
Quan điểm cần thông suốt là hệ thống bộ máy quản lý nhà nước mạnh, chủ trương chính sách của Đảng mới được thực thi đầy đủ, và như vậy Đảng mới mạnh. Đây còn là phương thức khắc phục tình trạng lộng quyền, coi thường pháp luật, mất dân chủ, mất đoàn kết, bản vị, cục bộ... khá phổ biến ở một số đảng bộ cơ sở hoặc một số cấp uỷ.
Về kiện toàn hệ thống điều hành và kiểm soát kinh tế vĩ mô
Điểm mới ở đây là coi nhiệm vụ này là một vế không thể thiếu được trong nâng cao năng lực quản lý nhà nước. Bởi vì quyền lực của nhà nước chúng ta sẽ không còn hiệu lực nếu như nhà nước đó không có trong tay hệ thống điều hành và kiểm soát kinh tế vĩ mô có hiệu quả. Có lẽ vì thiếu điều kiện này, việc quản lý nhà nước của chúng ta còn nhiều sơ hở, vừa tăng thêm tính quan liêu, đồng thời vừa kém hiệu quả.
Trong tình hình phải vận dụng cơ chế kinh tế thị trường, phát huy mọi thành phần kinh tế trong xã hội và mở rộng kinh tế đối ngoại, luật pháp và các quy chế thường không đủ linh hoạt, không phát triển kịp hoặc không bao trùm hết được mọi vấn đề, lại càng đòi hỏi phải kiện toàn hệ thống điều hành và kiểm soát kinh tế vĩ mô.
Yêu cầu nói trên đòi hỏi :
– Phải tích cực phát triển hệ thống các luật pháp trong đó gấp rút nhất là Luật dân sự (đang soạn thảo) và Luật thương mại.
– Phát triển và hoàn thiện hệ thống tài chính tiền tệ – bao gồm cải tổ lại hệ thống thuế và các sắc thuế, hệ thống kiểm toán, kế toán, mở mang thị trường tài chính tiền tệ (hệ thống ngân hàng thương mại, các thị trường cổ phần, tín phiếu, chứng khoán...).
– Hoàn thiện thị trường để tăng thêm khả năng làm chủ cơ chế thị trường.
Điều đáng lưu ý ở đây là Đảng ta ít nhiều còn coi những nhiệm vụ nói trên như một loại công tác sự nghiệp đơn thuần, nghĩa là chưa coi đó là một nhiệm vụ chính trị phải quyết tâm thực hiện. Thậm chí còn có ý kiến coi đó là những vấn đề thuộc về kinh tế tư bản chủ nghĩa! Đồng thời cũng phải thẳng thắn nhận xét rằng một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên trong các ngành luật pháp, tài chính, tiền tệ và trong hàng ngũ quản lý kinh tế, quản lý xí nghiệp có những nhận thức và hành động không đúng trong cơ chế thị trường do nhà nước ta quản lý.
Cần nhấn mạnh rằng muốn thực hiện phát triển kinh tế có định hướng, bắt buộc phải có hệ thống điều hành và kiểm soát này, nền kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa càng đòi hỏi như vậy! Nếu không, tính chất tự phát, vô chính phủ và những hệ quả xấu khác của kinh tế thị trường là không thể kiểm soát được.
Về hoàn thiện và phát triển thị trường
Đây cũng là một vấn đề cần nhấn mạnh và cần được thực hiện gắn liền với quá trình tăng cường quản lý nhà nước, nhằm tạo thêm một tiền đề kinh tế có ý nghĩa hết sức quan trọng để thực thi mọi luật pháp và thể chế của nhà nước.
Yêu cầu tối thượng của vấn đề này là cuối cùng, mọi hoạt động kinh tế của bất kỳ ai trong xã hội nước ta đều chịu sự cọ xát, sàng lọc của một thị trường rõ ràng, lành mạnh, được nhà nước kiểm soát, dẫn dắt bằng luật pháp, bằng các chế tài và bằng các biện pháp khuyến khích. Một nền kinh tế mạnh đòi hỏi phải có một thị trường hạn chế được xuống mức thấp nhất các hiện tượng đầu cơ, cửa quyền, độc quyền, kinh tế ngầm, các mafia, sàng lọc các hoạt động kinh tế kém hiệu quả, cung cấp những tín nhiệm hữu ích cho mọi quyết định của từng thành viên kinh tế trong xã hội, có khả năng huy động mạnh mẽ nguồn lực cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Với ý nghĩa nói trên, càng kiên trì định hướng xã hội chủ nghĩa càng phải hoàn thiện và phát triển thị trường, càng phải đẩy mọi hoạt động kinh tế của toàn xã hội ra thị trường, không thể có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào (trừ một số hoạt động kinh tế phục vụ sự nghiệp, hạ tầng cơ sở, an ninh quốc phòng). Cũng vì lẽ này cần sớm xoá bỏ sự phân biệt hoặc sự hình thành các loại hình như: kinh tế dân sự, kinh tế đoàn thể, kinh tế Đảng, kinh tế các lực lượng vũ trang v.v...
Không có một thị trường và một chính sách về thị trường như vậy, sự kiểm soát của nhà nước sẽ kém hiệu quả, nguy cơ chệch hướng sẽ tăng lên, và kinh tế sẽ sớm đi vào trì trệ, ách tắc.
Đương nhiên yêu cầu về thị trường nêu trên đòi hỏi phải có bộ máy hành chính có năng lực, hệ thống luật pháp ngày càng hoàn thiện và hệ thống các chính sách điều hoà điều tiết đủ sức duy trì sự phát triển cân bằng ổn định, bảo đảm phát triển phúc lợi xã hội. Mang danh là nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhà nước ta càng phải thực hiện tốt những đòi hỏi này.
Với tinh thần và nội dung vừa trình bày, chúng ta nên coi ba khâu công tác nói trên (kiện toàn bộ máy nhà nước, kiện toàn cơ chế điều hành vĩ mô, phát triển thị trường) là một tổng thể hữu cơ của nhiệm vụ tăng cường năng lực quản lý nhà nước.
4. Xây dựng Đảng
Có thể nói dự thảo báo cáo đánh giá khá đầy đủ những ưu điểm lớn trong nhiệm vụ cực kỳ hệ trọng là xây dựng Đảng. Cần nhấn mạnh bản lĩnh của Đảng ta trước hết thể hiện qua sự vững vàng trước những biến động sâu sắc trên thế giới trong hai thập kỷ vừa qua và những thành tựu giành được trong sự nghiệp đổi mới. Cần khẳng định điều này để tự tin, để nâng cao hơn nữa ý chí cách mạng và tinh thần đổi mới.
Song chúng ta đang đứng trước thực tế là tính tiền phong chiến đấu của đảng viên và của các tổ chức cơ sở của Đảng có nhiều mặt giảm sút, thậm chí yếu kém. Nhiều đảng viên không còn vai trò gương mẫu, nhiều tổ chức cơ sở Đảng chỉ hoạt động hình thức, hoặc tê liệt, thoái hoá. Quan hệ giữa Đảng và dân ngày càng có nhiều vấn đề. Chỗ nào cũng có đảng viên, song tình trạng bê bối, tiêu cực ở các ngành, các địa phương khá phổ biến.
Những hiện tượng này đang thách thức trực tiếp vai trò lãnh đạo của Đảng.
Đại hội VIII cần đem lại một động lực mới thực sự thúc đẩy sự chỉnh đốn và khả năng tự đổi mới của Đảng. Bên cạnh việc rèn luyện ý chí cách mạng, cần đặc biệt phát huy dân chủ trong Đảng, để đẩy mạnh đấu tranh chống những thoái hoá, để phát huy sức sống mới và trí tuệ mới của toàn Đảng, đặc biệt là để có cơ sở vững chắc cho sự thống nhất ý chí và hành động trong toàn Đảng và trong mọi cấp uỷ.
Dưới đây xin nêu lên một số vấn đề đáng lưu ý nhất trong nhiệm vụ xây dựng Đảng :
a) Xây dựng Đảng về đường lối
Có thể nói đây là nhiệm vụ hàng đầu. Có đường lối đúng sẽ có tất cả. Không nên tiếp tục cách suy nghĩ chỉ đơn thuần quy mọi nhiệm vụ, mọi mục tiêu không thực hiện được hoặc thực hiện không tốt cho việc thực hiện đường lối chưa tốt.
Hơn thế nữa, cách mạng Việt Nam đang chuyển sang một giai đoạn mới, diễn ra trong một bối cảnh quốc tế hoàn toàn thay đổi so với thời kỳ còn tồn tại hệ thống xã hội chủ nghĩa, đòi hỏi Đảng ta bắt buộc phải đề ra đường lối mới thích hợp. Trước hết là dựa trên cơ sở nhận định tình hình mới, Đảng ta cần xác định chính xác những nhiệm vụ phải thực hiện, tính toán việc huy động lực lượng và tổ chức thực hiện, xác định những thách thức phải vượt qua.
Thực ra chúng ta đã bắt đầu công việc này và đề ra đường lối đổi mới. Sắp tới chúng ta phải tập trung nhiều công sức cho việc tạo ra động lực phát triển từ bên trong của đất nước.
Vì lẽ đó, đổi mới chỉ là bước đầu của quá trình xây dựng một đường lối mới phù hợp.
Trước mắt, có thể nói khái quát: mục tiêu chiến lược của chúng ta là thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh.
Chúng ta phải thực hiện nhiệm vụ chiến lược ấy trong bối cảnh quốc tế không có sự tồn tại của hệ thống thế giới xã hội chủ nghĩa, nước ta phải cọ xát, đương đầu, cạnh tranh với cả thế giới, nhưng đồng thời cũng có cơ hội mở rộng quan hệ kinh tế với cả thế giới, có điều kiện tạo ra tập hợp lực lượng mới. Bên cạnh thách thức kinh tế rất gay gắt, nước ta phải đương đầu với những thách thức quân sự và chính trị có lúc rất nhạy cảm và tế nhị.
Có thể nói, đặc điểm nổi bật là nước ta hiện nay phải một mình đương đầu với tất cả, đồng thời cũng có khả năng tạo ra tập hợp lực lượng bên ngoài hoàn toàn mới.
Để giành được thắng lợi, chúng ta phải huy động ở mức độ cao nhất sức mạnh của toàn thể dân tộc ta và phải tập hợp được lực lượng rộng rãi nhất trên trường quốc tế. Chỉ có như vậy nước ta mới tự bảo vệ được mình, tranh thủ được thời gian và khả năng sớm vươn lên thành quốc gia giàu mạnh. Chỉ có như vậy mới giữ được độc lập tự chủ, bảo vệ được toàn vẹn lãnh thổ, thoát khỏi hiểm hoạ tụt hậu, bảo vệ được thành quả cách mạng và chế độ xã hội chủ nghĩa.
Vì những lẽ trên, động lực để thực hiện nhiệm vụ chiến lược này là hun đúc tinh thần quật khởi dân tộc và thực hiện mạnh mẽ dân chủ. Điều này chẳng những không trái, mà còn là tiền đề không thể thiếu được cho thực hiện định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Đó chính là thực tiễn cách mạng Việt Nam trong bối cảnh quốc tế mới.
Bây giờ nói độc lập gắn với chủ nghĩa xã hội là nói với nội dung như vậy. Bởi vì, không tạo ra được thực lực này, sẽ không còn độc lập tự chủ và cũng không có định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trên chặng đường mới này của đất nước, hơn bao giờ hết là đảng cầm quyền, Đảng ta cần giương cao ngọn cờ dân tộc và dân chủ. Đảng ta là lực lượng chính trị có đủ tư cách nhất và uy tín cao nhất để làm tròn trọng trách này, nhất thiết không để ai nắm lấy. Đảng ta chẳng những phải phấn đấu vươn lên làm đội tiên phong của giai cấp, mà còn phải trở thành bộ phận tinh hoa nhất, tiêu biểu cho trí tuệ, nghị lực và phẩm chất cao quý của toàn thể dân tộc Việt Nam ta, bao gồm cả toàn thể cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đang hướng về Tổ quốc.
Phải chăng đấy chính là một tư tưởng lớn, là nội dung cốt lõi của nhiệm vụ xây dựng Đảng mà Đại hội VIII cần làm rõ, là kim chỉ nam xây dựng đường lối và mọi chủ trương chính sách mới của Đảng.
b) Xây dựng Đảng về tổ chức
Có thể nói nhiệm vụ cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn phát triển mới, với những đặc điểm mới như đã được trình bày trong những phân tích nêu trên. Song tổ chức của Đảng về cơ bản vẫn giữ như thời chiến! Đã đến lúc cần xét xem những gì có thể duy trì và nâng cao thêm, những gì cần cải tiến hay loại bỏ trong công tác xây dựng Đảng về tổ chức cho phù hợp với những nhiệm vụ và đòi hỏi mới.
– Ưu điểm cần phát huy là Đảng ta có một hệ thống tổ chức cách mạng, chẳng những đáp ứng yêu cầu lãnh đạo thắng lợi trong chiến tranh, mà còn đủ năng lực đưa đất nước vào thời kỳ đổi mới. Trên phương diện tổ chức, chúng ta cần nghiên cứu sâu, tìm hiểu những nguyên nhân và yêu tố gì đã giúp cho Đảng ta chuyển mình được, đổi mới tư duy, đổi mới phương thức hoạt động đem lại những thành quả chẳng những tránh cho đất nước khỏi sụp đổ trong cuộc khủng hoảng ác liệt vừa qua của hệ thống thế giới xã hội chủ nghĩa, mà còn mở ra triển vọng chưa từng có của sự nghiệp phát triển nước ta. Có thể nói, chúng ta chưa nghiêm túc làm tốt công việc nghiên cứu, đúc kết những kinh nghiệm của vấn đề có ý nghĩa sống còn này.
– Một vấn đề bức xúc khác đang đặt ra là: trong tình hình đòi hỏi phải tăng cường nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân, mở rộng dân chủ để phát huy tối đa sự năng động của các thành phần kinh tế trong cơ chế thị trường. Đảng ta cần được đổi mới và tăng cường về mặt tổ chức như thế nào? Chúng ta chưa nghiên cứu sâu vấn đề này. Có lẽ không thể đơn thuần tiếp tục duy trì tổ chức và phương thức sinh hoạt các tổ chức cơ sở Đảng như hiện nay, bởi vì đã xuất hiện tình trạng Đảng hầu như không có mặt hoặc không thâm nhập sâu được vào nhiều hoạt động kinh tế xã hội mới phát triển; hoặc tác dụng kiểm tra nắm bắt của Đảng đối với những hoạt động này rất yếu, chưa thoả đáng. Hiện nay, trong nông nghiệp kinh tế hộ giữ vai trò chủ yếu, lực lượng kinh tế các thành phần ngoài quốc doanh chiếm tới 60 % GDP, cơ chế thị trường còn nhiều mảng nằm ngoài pháp luật, các hoạt động xã hội, văn hoá lành mạnh và không lành mạnh, các hoạt động giao lưu với bên ngoài đang nở rộ. Vai trò và tác dụng thực chất của Đảng đối với những phát triển này như thế nào?
– Chúng ta khẳng định vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng cộng sản Việt Nam. Điều này đòi hỏi một mặt phải tăng cường khả năng lãnh đạo của Đảng, mặt khác phải tạo ra được cơ chế chính trị và mô trường xã hội đủ sức ngăn chặn xu thế quan liêu, độc đoán, mất dân chủ, xu thế xem thường và đứng trên pháp luật. Hơn thế nữa, vai trò lãnh đạo của Đảng cần được tăng cường trên cơ sở mở rộng dân chủ trong đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá của toàn xã hội. Như vậy tổ chức và phương thức sinh hoạt Đảng cần được cải tiến như thế nào cho phù hợp? Mối quan hệ giữa Đảng và nhà nước, giữa Đảng các đoàn thể nhân dân cần được thiết kế lại như thế nào?
Đảng ta là đảng cầm quyền với nghĩa lãnh đạo đất nước dựa trên quan điểm cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, song nhất thiết không làm thay. Một đòi hỏi rất khó phải thực hiện là: đảng viên và các tổ chức cơ sở Đảng phải đi đầu trong việc giữ gìn trật tự kỷ cương, nhưng lại phải biết phát huy sự năng động và khả năng sáng tạo của nhân dân theo định hướng của Đảng. Đảng cần đặc biệt quan tâm nâng cao dân trí, giáo dục, phát huy và bảo vệ quyền công dân để phát huy sức mạnh của cả nước. Đó là sức mạnh của chính Đảng ta, là con đường tiếp tục duy trì và tăng thêm ra sự chấp thuận tự nguyện với nhận thức sâu sắc nhất của toàn dân đối với vai trò lãnh đạo của Đảng ta mà tình hình nhiệm vụ mới đòi hỏi, đồng thời là một trong những yếu tố quan trọng bảo vệ Đảng.
Chúng ta thảo luận nhiều về nguyên tắc “dân chủ tập trung”, hoặc “tập trung dân chủ”. Tôi đề nghị bỏ cách suy nghĩ rất công thức như vậy. Nên chăng khẳng định lại một cách không thể hiểu lầm như sau: Để huy động trí tuệ của toàn Đảng và bảo vệ sự trong sáng trong Đảng, cần phải triệt để dân chủ, đồng thời để bảo đảm sức chiến đấu của Đảng, mọi đảng viên phải tuyệt đối tuân theo điều lệ và phục tùng các nghị quyết của Đảng. Tổ chức và phương thức sinh hoạt Đảng cần được đổi mới nhằm đáp ứng tốt yêu cầu này. Trong thực tiễn hiện nay, Đảng ta đứng trước yêu cầu phải đẩy mạnh đấu tranh chống các hiện tượng vô tổ chức, vô chính phủ, cục bộ bản vị (đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế), đồng thời phải nghiêm túc thực hiện những nguyên tắc dân chủ trong Đảng.
Có thể nói công tác nghiên cứu đường lối chính sách, nghiên cứu tình hình và con đường phát triển của đất nước, công tác bồi dưỡng đảng viên, công tác tuyển chọn, bố trí cán bộ... của chúng ta hiện nay chưa đáp ứng yêu cầu nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng. Hiện nay, nếu nhìn vào lịch sử quá trình hình thành sự nghiệp đổi mới, chưa thể nói Đảng ta thực sự đi tiên phong về mặt tư duy, đang đào tạo ra đủ và bố trí được lực lượng cán bộ xuất sắc theo kịp đòi hỏi của đất nước; cũng chưa thể nói trình độ tư tưởng lý luận của tuyệt đại đa số đảng viên phù hợp với những đòi hỏi mới của nhiệm vụ cách mạng. Tiếp tục công tác đào tạo và bố trí cán bộ như hiện nay còn tăng thêm nguy cơ cục bộ, địa phương chủ nghĩa và cát cứ, tăng thêm tính cơ hội, dựa dẫm hoặc nguy cơ bè phái trong Đảng, khó làm bộc lộ và đào tạo nhân tài, khó tạo ra sinh lực mới cho những đảng bộ hoặc tổ chức cơ sở đang yếu kém... Chúng ta phải nhìn thẳng vào những mặt còn thiếu sót để tự chỉnh đốn, tự vươn lên.
Có thể kết luận, trên con đường đi lên đầy gian khổ và thử thách của đất nước, phải chăng cái khó khăn nhất hiện nay là tình trạng trình độ, phẩm chất cán bộ đảng viên chưa theo kịp sự phát triển của đất nước ?
Tình trạng bất cập với đòi hỏi của nhiệm vụ là nguy cơ lớn đối với Đảng. Cần gấp rút sắp xếp, cải thiện lại các ban, viện của Đảng, đổi mới lại tổ chức và phương thức sinh hoạt Đảng. Đặc biệt cần đẩy mạnh giáo dục cho đảng viên chủ nghĩa yêu nước với nội dung sớm làm cho đất nước giàu mạnh, cần nâng cao ý chí của đảng viên, phấn đấu thực hiện các mục tiêu của Đảng, trau dồi những tri thức mới mà nhiệm vụ mới của Đảng đòi hỏi.
Hơn bao giờ hết, nâng cao năng lực lãnh đạo và phẩm chất cách mạng của Đảng, nâng cao năng lực quản lý nhà nước của chúng ta là hai nhân tố quyết định nhất để nắm lấy thời cơ đang đến với đất nước.
Xin trình bày để các anh tham khảo.
Võ Văn Kiệt
Theo VIETNAMNET

LỜI TRI ÂN

Kính tặng Thầy
Các học trò, đàn em của Thầy 
(Nội san 7- BVĐK tỉnh Bình Dương, Quý IV, 12/2007)
Thời gian trôi, vạn vật quay vần, con người chịu nhiều thay đổi. Tràn trề sức sống, đầy nhiệt huyết, lúc mới rời ghế đại học Y Khoa. Tự hào khoác áo blouse trắng những tưởng mình là một thiên thần, làm việc cật lực với công việc khám chữa bệnh đầy stress, sức khỏe tàn tạ dần theo những đêm trực thức trắng, như những đóa hoa tươi ngày nào nay héo dần từng ngày. Mong đợi đến ngày được gác bút, thảnh thơi tuổi già và lòng thanh thản vì mình đã hoàn thành nhiệm vụ. Ai cũng vậy mà hình như Thầy không như thế. Thầy còn nhiều bức xúc, nhiều trăn trở vì có nhiều điều chưa kịp làm được cho bệnh nhân. Chúng em, các bác sĩ đàn em, các đồng nghiệp, các học trò của Thầy thực hiện bài viết này như lời tri ân gửi đến Thầy, người Thủ trưởng đáng kính đã đồng hành cùng chúng em với những tháng ngày gian khổ của nghiệp làm bác sĩ.
Trực đêm gặp một ca sốt xuất huyết nặng lại nhớ đến Thầy. Tối đó, ca sốt xuất huyết diễn biến nặng quá, mời Thầy rồi mời cả hội chẩn toàn viện. Hội chẩn xong, tưởng Thầy về luôn, bất chợt Thầy trở lại một lần nữa với nụ cười thật tươi kèm một gói to những chiếc bánh bao nóng hổi Thầy nói : “ tụi em ăn đi để lấy sức mà trực đêm, cố gắng cứu bé ”. Nhớ Thầy, nhớ bánh bao Thầy cho, chúng em cảm nhận được. Thầy thương các bác sĩ, điều dưỡng như những cô con gái của mình thức trực suốt đêm cạn mòn sức lực.Thầy thương cháu bệnh nhân bé bỏng đang từng phút chiến đấu với tử thần. Dạo này bệnh nhân bị sốt xuất huyết nặng nhiều hơn trước, các tua trực hầu như thức trắng đêm. Về khuya, có lúc vừa mệt vừa đói, thèm sao cái bánh bao Thầy cho ngày nào. Nhớ năm nào bé đầu lòng của em đã sáu tuổi mà còn bị sốt cao co giật tại nhà trẻ, được cô giáo đưa vào bệnh viện, thằng bé lúc đó đang điều trị viêm tai giữa cấp, em lo lắng phát khóc, vì sợ không phải sốt cao co giật lành tính mà là nguyên nhân khác. Các đồng nghiệp trong khoa cùng đến chia sẻ. Đưa bé vào phòng CT,  Thầy vẫn ngồi đợi cho đến khi chụp xong, có kết quả bình thường Thầy mới yên tâm trở về. Em cảm nhận được thâm tình như những người bà con ruột thịt mà Thầy dành cho nhân viên của mình.
Nhớ khi cùng Thầy và một số đồng nghiệp trong bệnh viện đi dự Hội nghị sốt xuất huỵết các tỉnh phía nam tổ chức tại tỉnh Bình Thuận, em đã thấy rõ hơn sự nghiêm túc của Thầy trong công việc. Thầy ngồi dự, nghe chăm chú, ghi chép tỉ mỉ từ đầu đến cuối chương trình trong khi có một số người chỉ dự một chút rồi vắng luôn. Thầy ghi chú vào một cuốn sổ tay riêng, ý Thầy giữ tài liệu photo mà Hội nghị phát cho người tham dự sạch đẹp để khi về nhà photo lại cho anh em không có điều kiện tham dự Hội nghị cùng đọc. Thầy luôn chia xẻ với anh em, học trò những gì Thầy có được. Thầy đã quan tâm giúp đỡ khoa Nhi rất nhiều bằng sự am hiểu sâu về kiến thức và tính chất công việc Nhi khoa vì Thầy đã từng là Trưởng khoa Nhi. Thầy đã truyền lại cho đàn em kinh nghiệm của một người Thầy, người anh đi trước với mong muốn  sẽ thay Thầy tiếp tục chăm sóc và điều trị bệnh nhân tốt hơn.
Nay Thầy đã về hưu, chúng em mong Thầy luôn có sức khỏe tốt và sống vui, Thầy nhé ! 
                                                                     BS. Trần Thị Minh Nguyệt - Khoa Nhi
                                                         

***
Nhớ buổi giao ban viện Thầy giận chúng em vì mấy viên gạch ở gầm cầu thang cạnh hồ cá bị vỡ, làm mặt tiền của bệnh viện xấu đi mà chẳng ai quan tâm, mấy cái máy ở khoa X Quang hư để bụi bám mà chưa có kế hoạch sửa chữa. Nghe Thầy la, trên đường về khoa, nhìn qua chỗ cạnh hồ nước đúng là gạch vỡ xấu thật, mà hình như nếu Thầy không nhắc nhở, chúng em chẳng nhận thấy nó làm cho bệnh viện xấu hơn một chút ! Thầy ơi, chúng em tồn tại như một cái máy, nghĩa là được lập trình sẵn, ăn và làm việc từ sáu giờ sáng đến chín giờ đêm. Ăn qua loa, vừa làm vừa ăn, tranh thủ ăn gian tí giờ hành chánh để ăn sáng vội vàng ở căn tin bệnh viện hay tại khoa, có lúc ăn trưa vào lúc một hai giờ chiều, ăn để nạp năng lượng, để có sức mà sống. Làm vì nhiệm vụ ở bệnh viện, làm thêm ở nhà để cân bằng  ngân sách gia đình, để tồn tại với đời. Hầu như không còn sức để quan tâm cái gì khác ngoài công việc. Sáng tới chiều tối, chương trình cài đặt trong đầu chỉ toàn bệnh nhân, bệnh tật thôi, thậm chí trong giấc mơ đôi lúc còn ray rức những gì mà mình chưa làm được tốt hơn cho bệnh nhân. Chính sách giảm viện phí cho trẻ em dưới sáu tuổi, kể cả trẻ em nhập cư từ các địa phương khác đến được nhân dân, nhất là những công nhân nghèo phấn khởi, khoa Nhi quá tải, phòng khám nhi quá tải. Các khu công nghiệp thi nhau mọc lên, công nhân từ mọi miền đất nước ùa về, giải quyết công ăn việc làm cho nhiều người dân, các quan chức phấn khởi, khoa Cấp cứu hồi sức quá tải vì tai nạn giao thông, tai nạn nghề nghiệp nhiều hơn. Năm heo vàng, sáu mươi năm có một, mọi người cùng mong có quí tử. Khoa Sản quá tải, Dưỡng nhi quá tải. Dân số tỉnh Bình Dương tăng, bệnh nhân cũng tăng theo, hầu như khoa nào của bệnh viện cũng quá tải. Giao ban viện Thầy nhắc nhở chúng em phải khám kỹ hơn, giải thích cho người bệnh nhiều hơn. Một bác sĩ ở phòng khám đã được lập trình vài phút trọn gói cho một bệnh nhân thì làm sao dăn dò kỹ càng hơn được nữa. Một bác sĩ khoa Nhi tâm sự : tụi em giờ chỉ bơi, lết chứ không thể đi nổi, một đêm trực có khi ngủ ngồi được vài ba chục phút. Nghe sao quá nao lòng, còn đâu sức lực để tiếp tục đi tiếp khoảng đường còn lại. Bệnh nhân quá tải, Thầy thuốc quá sức, phòng bệnh quá chật chội, bệnh nhân quá nhiều than vãn, Thầy càng nhiều bức xúc hơn những tưởng như mình chưa lo tròn trách nhiệm đối với bệnh nhân, đối với đồng nghiệp. Nghề Y, kiến thức mênh mông, phải đọc nhiều tài liệu, Thầy biết chúng em không có đủ thời gian tìm tòi, Thầy sợ chúng em tụt hậu nên Thầy gửi tài liệu về cho chúng em theo địa chỉ email. Vài ngày mở email một lần, chỉ nhận toàn bài của Thầy gởi thôi. Không đọc sợ Thầy biết chuyện thì buồn nên ráng đọc hết tựa đề và chọn một vài bài, vừa đọc vừa chống chọi với cơn mệt nhọc và buồn ngủ vì cả ngày làm việc quá vất vả. Ngần ngại không dám delete vì cảm thấy có lỗi như người con, người em làm biếng học, phụ lòng mong đợi của ba mẹ, của người thân. Bệnh nhân ngày càng quá tải, sai sót của chúng em tất yếu nhiều hơn, Thầy càng gửi bài nhiều hơn nữa.
Nay giao ban viện không có Thầy, chúng em thèm được nghe Thầy nhắc nhở : “nhớ khám kỹ hơn, dặn dò bệnh nhân kỹ hơn” để được cảm giác mình còn có được người lớn quan tâm, động viên khi sức lực ngày càng giảm sút, để tự đánh giá lại công việc của mình phải hoàn thiện, những gì mình chưa làm tốt cho bệnh nhân. Ngành Y quá vất vả, chúng em chấp nhận được điều đó một cách tự nguyện mỗi khi còn khoác trên người chiếc áo bluese trắng.
Thầy ơi, xin Thầy cứ an lòng, chúng em sẽ thực hiện tốt thiên sứ cao quí của mình để làm tốt những điều Thầy còn ray rức chưa làm được cho bệnh nhân.
                                                                   BS Hoàng Thị Kim Trâm – Khoa Dinh Dưỡng                                                          

***

Nhớ lại một ngày, đang ngồi phòng khám khám bệnh thì được mời đích danh xuống hội chẩn ở cấp cứu, vừa hơi ngạc nhịên, cũng vừa hồi hộp không biết có cas nào nặng mà mời Tai Mũi Họng, lại đích danh mình, liền vội vàng đi xuống cấp cứu thì gặp ngay Thầy. Thầy cũng có mặt trước nhiều bác sĩ được mời hội chẩn. Thầy Khai đưa cuốn sổ khám bệnh màu xanh của bệnh nhân thì tôi thấy đúng là chính mình đã khám và kê toa thuốc cách đó vài ngày : bệnh nhân nữ bị nhức đầu vào khám Tai Mũi Họng và cho chụp film Hirtz, Blondeau và được chẩn đoán là theo dõi viêm xoang trán. Hôm nay bệnh nhân nhập viện trong tình trạng hôn mê bất tỉnh. Nhìn lại toa thuốc tôi thấy mình cũng cho kháng sinh, kháng viêm, giảm đau, kháng histamin như một toa viêm xoang thông thường. Nhưng tại sao vậy ? Bệnh nhân không đỡ mà còn dẫn đến nặng hơn … Mọi người hội chẩn và cuối cùng Thầy quyết định đề nghị cho chụp CT Scanner vùng sọ não… Tinh thần hội chẩn được thực hiện, do công việc của bác sĩ phòng khám nên tôi lại trở về khám bệnh. Khoảng một giờ sau, hỏi lại ca hội chẩn đó thì được biết là bị một khối u rất lớn vùng sọ trán, nên che mờ cả xoang trán khi chụp XQ thông thường. Đây là một cas bệnh nặng, nếu không có kết quả chụp CT thì không thể chẩn đoán ra, nhất là khi bệnh nhân còn tỉnh táo, chỉ có triệu chứng nhức đầu. Kết quả chụp CT như là một bản án tử hình đối với bệnh nhân, tôi rất xót xa vì bệnh nhân còn trẻ quá, số phận của bệnh nhân này sao nghiệt ngã quá.
Câu chuyện này xảy ra khá lâu, nhưng vẫn đọng lại trong tôi sự tận tình đối với bệnh nhân của Thầy, người Giám đốc bận rộn với bao công việc mà khi tôi hội chẩn Thầy có mặt rất sớm và theo cả bệnh nhân vào phòng chụp CT Scanner để tìm hiểu nguyên nhân. Mặc dù bệnh nhân này không quen biết hay là người nhà, là người quen của Thầy. Thầy còn ghi lại hình ảnh chụp CT Scanner vào máy quay phim của mình. Hôm nay, Thầy đã về hưu không còn làm Giám đốc bệnh viện nữa nhưng  tấm lòng của Thầy đối với bệnh nhân, đối với đồng nghiệp, học trò đàn em thì luôn khắc ghi trong tôi cũng như tất cả mọi người. Một người Thầy thuốc như mẹ hiền, thực hiện lời dạy của Bác Hồ “ Lương y phải như từ mẫu”. Tận tình với bệnh nhân, coi nỗi đau đớn của họ như nỗi đau của chính mình. Thầy luôn là tấm gương cho thế hệ bác sĩ trẻ chúng tôi học tập và noi theo.
                                                                                 BS Huỳnh Thị Vân – Khoa Tai Mũi Họng                                                            


Đọc lại bài báo Sông Bé cách đây hơn 35 năm:
(Báo Sông Bé ngày 30 tháng 4 năm 1981)



Nhân kỷ niệm lần thứ sáu ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (30/4/1975 – 30/4/1981)

TRƯỞNG THÀNH CỦA MỘT BÁC SĨ



      …Anh đã kể cho tôi nghe những mẫu chuyện với một niềm lạc quan tin tưởng về bước đi của mình trong những năm qua. Sau khi học xong y khoa Sài Gòn tháng 1/1974, cũng như số phận bao sinh viên khác thời đó, anh bị trưng tập vào khóa quân y Việt Nam Cộng hòa rồi phục vụ tại một bệnh viện quân y thuộc Nam Trung bộ. Khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, sau trình diện và học tập; bác sĩ Đinh Văn Khai được Bộ Y tế điều động về Ban xây dựng kinh tế mới.
            Xã Tân Hưng (Bến Cát) là nơi đầu tiên anh được tới công tác. Do ý thức được tình hình nhiệm vụ, nên anh đã cùng đồng nghiệp hăng hái xây dựng và củng cố màng lưới y tế cở sở, tuyên truyền phòng bệnh, huấn luyện và cứu chữa bệnh tật cho nhân dân.
     Anh đã cùng đồng nghiệp góp phần xây dựng y tế xã Trừ Văn Thố (Bình Long) trong thuở ban đầu, phục vụ tích cực cho nhiệm vụ đón dân xây dựng vùng kinh tế mới trong tỉnh.
    Đầu năm 1977, anh được chính thức điều động về công tác tại bệnh viện đa khoa tỉnh Sông Bé. Trong phong trào phấn đấu thi đua trở thành bệnh viện tiên tiến của Bộ, anh là một trong những người thầy thuốc thể hiện được sự tận tụy chăm sóc người bệnh và phấn đấu thực hiện chế độ, chức trách, quy tắc chuyên môn. Là một bác sĩ tuổi nghề còn trẻ, nhưng anh luôn tự rèn luyện bằng sâu sát người bệnh và chịu khó học hỏi để mỗi ngày mỗi trưởng thành trong chuyên môn. Luôn gần gũi đồng nghiệp và sẵn sang nhận bất cứ công tác nào khi cơ quan cần đến; tận tình tham gia hướng dẫn những học sinh y sĩ, y tá tới thực tập tại bệnh viện là những việc làm tương đối rõ nét ở bác sĩ Khai.
      Cùng với sự thường xuyên tìm hiểu hoc hỏi chính trị, thời sự, chính sách của Nhà nước và sự nổ lực của mình, nên anh là một trong những bác sĩ sớm được gia nhập tổ chức công đoàn và nay anh đã được tín nhiệm giao chức vụ phó thư ký Công đoàn cơ sở bệnh viện. Trong những năm qua, với nhiệm vụ bác sĩ trưởng khoa, anh đã cùng đồng nghiệp đẩy mạnh và duy trì phong trào thi đua, nên Khoa Nhi là một trong những đơn vị khá của bệnh viện tỉnh qua nhiều năm liên tục.
      Bước chân anh đã cùng đồng nghiệp đi khám sức khỏe cho nhân dân tại các vùng cao của huyện Phước Long, Lộc Ninh, Đồng Phú và nhiều nhà máy, trường học, hợp tác xã … và có lần đi tham gia cứu chữa nạn nhân trong chiến tranh bảo vệ biên giới của tỉnh này.
     Anh là một trong những bác sĩ của bệnh viện tham gia nghiên cứu khoa học với nhiệt tình nghề nghiệp.
    Hơn năm năm sau ngày giải phóng, non song ta được đổi mới, nhân dân đã là người chủ vận mệnh của mình. Khó khăn còn nhiều, nhất là điều kiện vật chất và kỹ thuật tại bệnh viện, nhưng bác sĩ Khai đã đi đúng hướng, lấy việc tận tụy phục vụ ngươi bệnh làm nhiệm vụ hàng ngày. Chặng đường đi còn dài, nhưng nhìn lại năm năm qua làm sao mà không vui mừng khi thấy những người trí thức được đào tạo trong chế độ cũ, mà ngày nay đã ý thức được tình hình đất nước, cùng chung sức – chung lòng với bao đồng nghiệp để góp phần phục vụ đem lại sức khỏe cho người bệnh.

VIỆT THANH


TẬP TỰ TRUYỆN NGHỀ NGHIỆP
Thân tặng các đồng nghiệp trẻ tuổi của tôi .
Mến tặng các con tôi

Viết vài dòng tự truyện về người bạn.

Thời ở trường Đại học Y khoa Sài Gòn tôi chỉ biết anh vài lần...Thế rồi hoàn cảnh xô đẩy kẻ trước người sau: Chúng tôi đều phải vào lính chế độ cũ. Tôi thì làm việc tại các bệnh viện vùng biển miền Trung, còn anh thì công tác tại Bệnh viện tỉnh Quảng Đức (nay là tỉnh Đăk-nông). Ở đó anh chẳng có việc chuyên môn gì nhiều để làm mặc dù hồi ở trường Đại học Y khoa anh là hội viên hội giải phẩu tiểu nhi. Anh có bàn tay giải phẫu khéo léo với thân hình đồ sộ, nhìn vào cứ tưởng như vụng về.
          Thời gian anh làm việc ở bệnh iện tỉnh Quảng Đức thì Tây nguyên chiến tranh ác liệt. Bệnh viện Quảng Đức lúc đó là một vùng bị cô lập. Ra khỏi bệnh viện là cạm bẫy, là chiến tranh. Muốn nghỉ phép về Sài Gòn anh phải đi nhờ trực thăng khi thuận tiện…
          Thế rồi, đến ngày 30/4/1975…
          Anh và tôi như có một cái gì đó tình cờ gắn bó nhau hơn 30 năm nay. Chúng tôi có cùng quan điểm chính trị, nhưng khác nhau về nhận thức và hành động. Tôi thì hăng say quá mức trong công tác. Tư duy và hành động nghiệt ngã. Trong công tác và sinh hoạt thường đi quá trớn. Vì thế đôi khi lố bịch và kết quả là… thất bại trong cuộc sống…
          Còn anh có một cá tính kì lạ. Đối với anh: Mọi sự xảy ra hàng ngày đều là “tự nhiên”. Anh rốt tốt với mọi người. Anh  không bao giờ than phiền bất cứ việc gì, bất cứ ai. Tôi thân với anh hàng chục năm nay nhưng không thấy anh giận dữ ai bao giờ. Có đôi lúc tôi xúc phạm anh, anh cũng không nói gì!
          Anh làm việc tại bệnh viện không kể giờ giấc: Buổi trưa ít khi anh về nhà. Cái nhiệt tình và tấm lòng của anh ví như một con đường kẻ thẳng dài vô tận… Không ai có thể ghét hoặc than phiền về anh.
          Về gia đình, anh may mắn gặp được người vợ phù hợp với anh, trước đây là một cán sự y tế, công tác tại bệnh viện tỉnh. Chị là người đảm đang, dễ tính, thưong người và nhạy bén trong cuộc sống. Có thể nói giữ được cái gia đình hạnh phúc của anh chị phần lớn do chị. Chị ít quan tâm đến công việc của anh ngoài xã hội. Một trong nhiều câu chuyện mà tôi muốn đề cập đến là: Có một lần vợ tôi và chị vào bệnh viện thăm cậu của chị đang nằm điều trị, nhưng người y tá trực đêm không cho chị vào vì hết giờ thăm bệnh; Thế là chị ra về, mặc dầu anh là Giám đốc bệnh viện tỉnh đang ở đâu đó trong các khoa phòng?
          Tính cách của anh chị là như thế! Việc ai nấy làm.
          Tôi cố gắng hết sức nhưng không làm sao thể hiện được đầy đủ cái cảm nhận của tôi về một đoạn đời của anh.
          Tưởng như anh là một người “bình thường”? Nhưng trong cái bình thường đó có cái gì đặc biệt?... Anh có cá tính lạ kỳ: Anh là một người có đường đi đã định sẵn? Chỉ một điều không nói khác được: Anh là một Bác sĩ tốt, giữ gìn y đức: Đối với bạn bè hay bất cứ ai anh cũng đối xử bằng một tính cách nhiệt tình vừa đủ?
          Trước đây tôi có hàng trăm người bạn cùng nghề nhưng đến nay anh là một trong vài người bạn mà gia đình tôi kính mến. Có lẻ ở anh hình thành cái quan điểm: Tôn trọng “qui luật phát triển khách quan của xã hội”. Đối với từng con người thì qui luật đó cũng có giá trị?
          Trong khi viết vài dòng tự truyện mộc mạc của tôi về người bạn quí mến là anh. Tôi nghĩ đến 2 câu thơ của nhà thơ Tố Hữu “Có những phút làm nên lịch sử, có những người như chân lý sinh ra”. Anh thuộc loại người như thế.
          Tôi mong anh tiếp tục nhiệm vụ gian nan nhưng đầy vinh dự. Để được như thế chắc anh cũng thừa hiểu anh vẫn là anh như đoạn đường đã trải qua.
03/10/2006
Bác sĩ Nguyễn Văn Tờn

Thứ Bảy, 19 tháng 11, 2016

Bức thư "Xin thôi làm chiến binh" của thầy giáo thay lời ngàn học sinh


Tác giả bức thư là anh Nguyễn Tuấn Hải – người sáng lập trường Eton Grammar School, từng tốt nghiệp ĐH Princeton (Mỹ) và có 20 năm gắn bó với các hoạt động giáo dục.
Bức thư “xin thôi làm chiến binh” của anh như một lời nói thay nhiều học sinh.
“Sau mười hai năm ngồi trên ghế nhà trường, con đã đến tuổi trưởng thành và con đã có thể tự đặt cho mình câu hỏi : "Mình là ai và mình muốn gì? " nhưng con đều bất lực trước chúng, thưa thầy và thưa cô!” – anh viết.
Theo anh, học trò ngày nay đang cùng nhau đi qua “chiếc cối xay” và “tất cả đều trở thành những chiếc xúc xích như nhau”. Cha mẹ, thầy cô đã biến các em thành “những cỗ máy” để sản xuất ra “giải thưởng”.
“Chúng con rất sợ mình sẽ đánh mất đi xúc cảm khi bị bắt làm cái máy sản xuất điểm và sản xuất giải”. Bức thư với mong muốn các thầy cô để các con được là chính mình, được làm trẻ con, không phải sống cuộc đời của những chiến binh. 
Dưới đây là nguyên văn nội dung bức thư nói thay lời của “một học sinh bình thường”.
ĐƠN XIN THÔI LÀM CHIẾN BINH
Kính gửi các thầy cô giáo nhân dịp 20.11
Con là một học sinh bình thường nhất trong các học sinh bình thường ở Việt Nam.
Con viết thư này gởi các thầy cô, ngoài ý muốn được chúc mừng các thầy cô nhân dịp này con còn có ước mong được gửi tới thầy cô những mong muốn giản dị của con, của chúng con nữa.
Thưa các thầy cô,
Sau mười hai năm ngồi trên ghế nhà trường, con đã đến tuổi trưởng thành và con đã có thể tự đặt cho mình câu hỏi : " MÌNH LÀ AI VÀ MÌNH MUỐN GÌ ? " nhưng con đều bất lực trước chúng, thưa thầy và thưa cô!
Con thực sự không biết mình là ai nữa. Con đã học giỏi, đã ngoan ngoãn, nghe lời cha mẹ và thầy cô. Trong cuộc đời học sinh của mình, con chưa một lần chống lại ý muốn của cha mẹ và thầy cô. Con được dán một cái mác : CON NGOAN TRÒ GIỎI, một cái mác hay là một cái danh gì đó mà con thấy nhiều vô số và nó cần phải được dán lên người của tất cả tụi con. Đứa nào cũng phải có và phải giống nhau.
Con thấy các bạn xung quanh con cũng vậy. Chúng nó giống con và con thì giống tụi nó. Chúng con không biết mình khác nhau ở điểm nào cả. Đi qua một cái CỐI XAY của 12 năm phổ thông và đại học, chúng con tất cả đều trở thành những chiếc XÚC XÍCH như nhau : trông ngon đấy nhưng mà chán phát ớn.
Con và nhiều bạn khác chỉ là những đứa trẻ thông thường và con tin rằng số này mới đông và cần được quan tâm hơn hết so với một số ít các bạn thật sự giỏi giang, mà nhiều lúc con không có dám bén mảng làm quen với các bạn í vì các bạn í tuy dễ thương nhưng mà các bạn í bận hơn chúng con rất nhiều nên không thể có thời gian mà quan tâm tới việc kết bạn giao lưu nữa. Và có một số bạn thì con biết là các bạn í không thèm để ý tới mấy đứa bình thường như tụi con đâu...
Con đôi khi cũng thế. Chỉ vì cái mà chúng con thiếu nhất trong cuộc đời học sinh của mình là THỜI GIAN. Chúng con phải học như điên dại dưới rất nhiều áp lực của cha mẹ và sau đó là của các thầy cô, những người mong chúng con NÊN NGƯỜI nhưng lại không để chúng con LÀM NGƯỜI, mà lại biến chúng con thành những cỗ MÁY : từ học như máy, làm như máy, nghĩ như máy và ăn cũng như máy...
Con còn nhớ như in những chiều tan học, đợi ngoài cổng trường học kia không phải là bố mẹ thì là bác xe ôm chờ sẵn với bánh mỳ và sữa, không phải đưa con về nhà mà là chở con tới lớp học thêm, qua trùng trùng lớp lớp giao thông xe cộ ở trên đường.
Có đôi khi phải băng qua làn mưa và cả những con phố đã thành sông nữa. Có đứa bạn con tuy lớn mà vẫn ngồi trên xe máy để được bố mẹ dắt qua con phố ngập nước mà chả biết phải làm gì cả. Nhưng không phải tụi con không có suy nghĩ mà là con không biết phải làm gì cả!!!
Chúng con đã không được dạy cách đối mặt với thực tế cuộc sống mà chỉ được dạy làm những chiếc máy vô cảm có một nhiệm vụ duy nhất là sản xuất điểm mà thôi.
Con thấy mình đã rất tệ rồi nhưng con còn thấy các bạn học sinh giỏi hơn con, là các bạn học sinh xuất sắc í, còn khổ và đáng thương hơn chúng con rất nhiều. Tuy rằng các bạn í được quan tâm và được các thầy cô và cha mẹ tập trung toàn bộ nguồn lực cho. Nhưng mà cũng để làm cỗ máy, đương nhiên rồi, để sản xuất cái gì các thầy cô có biết không?
Để sản xuất ra GIẢI THƯỞNG ạ.
Chúng con phải đi học cả ngày và buổi tối nhưng các bạn í còn phải học tới khuya, tới đêm. Suốt trong năm học và nhất là những đợt tập trung đội tuyển kéo dài nhiều tháng. Học để thi đấu với nhau chứ không phải là để kiếm tìm niềm vui qua tri thức, qua khám phá và thỏa mãn sự tò mò tự nhiên mà tất cả bọn nhóc chúng con đều được sinh ra đã là như thế.
Khi con lớn lên như bây giờ, con mới hiểu được ý nghĩa của sự phấn đấu để đạt được một thành tích nào đó. Con bây giờ mới biết đó là sự vượt qua chính mình được ghi nhận bởi người khác xung quanh con với sự cổ vũ và tôn trọng. Con học được điều này từ cuộc sống mà con đã trải qua sau khi ra trường chứ không phải là ở trong nhà trường. Sự nhạy cảm và ý thức về giá trị cá nhân đã may mắn được cuộc sống tươi đẹp ngoài kia dạy và bù đắp cho con sau rất nhiều năm tháng hoài phí của con ở trên ghế nhà trường.
Các thầy cô có hiểu cho chúng con không?
Đó là sự HOÀI PHÍ.
Chúng con rất sợ mình sẽ đánh mất đi xúc cảm khi bị bắt làm cái máy sản xuất điểm và sản xuất giải. Chúng con cũng thương tụi con và cả các bạn học sinh xuất sắc không được là chính mình trong khi nếu được là chính mình thì mấy đứa bình thường như tụi con và cả các bạn í đã rất hạnh phúc để không phải sống cuộc đời của những chiến binh.
Để được làm trẻ con thật sự.
Thưa các thầy cô,
Thư con viết đã dài, con chỉ muốn được chia sẻ chứ không có ý chỉ trích các thầy cô.
Kính mong các thầy cô hiểu tấm lòng và cả suy nghĩ, cảm xúc của tụi con ạ.
Con cảm ơn.
Một học sinh bình thường.
  • Nguyễn Thảo