Thứ Tư, 8 tháng 3, 2017

8/3 không phải là dịp để phụ nữ nhận hoa, quà, những lời chúc mừng mà họ hướng đến những điều lớn hơn...

"Ngày 8/3, thấy tôi chúc mừng và tặng hoa, chị đồng nghiệp Mỹ ngạc nhiên, lắc đầu và nói xứ họ không như vậy", nhà báo Phạm Hồng Phước kể.  

Nhớ về kỷ niệm vài năm trước, nhà báo, chuyên gia công nghệ thông tin Phạm Hồng Phước, TP HCM, cho biết, lúc ấy, ông mới hay lâu nay mình đã hiểu sai về ngày 8/3. Khi từ chối hoa của ông, các nữ đồng nghiệp Mỹ giải thích, họ quan niệm chỉ có những nước nào phụ nữ còn chịu nhiều thiệt thòi mới phải tổ chức ngày này.
"Ở Mỹ, phụ nữ đứng top 4 trong xã hội (phụ nữ, trẻ em, chó và đàn ông) nên họ thấy không có lý do gì cần phải dành riêng một ngày để 'vinh danh'", ông Phước chia sẻ. 
vi-sao-dan-ong-tay-khong-tang-qua-8-3
Nhà báo, chuyên gia công nghệ thông tin Phạm Hồng Phước. Ảnh: NVCC.
Theo Telegraph, chưa rõ thời điểm bắt đầu chính xác ngày Quốc tế phụ nữ, nhưng sự kiện chính thức ghi nhận là vào năm 1908, khi 15.000 phụ nữ diễu hành ở thành phố New York đòi quyền được bầu cử, được trả lương tốt hơn và làm việc ít giờ hơn. Một năm sau đó, ngày phụ nữ quốc gia đầu tiên được tổ chức ở Mỹ.  
Ngày quốc tế phụ nữ được chính thức công nhận năm 1911 bằng một sự kiện được tổ chức ở 4 nước Áo, Đan Mạch, Đức và Thụy Sĩ với hơn một triệu người tham dự. Năm 2011, cựu tổng thống Mỹ Barack Obama tuyên bố tháng 3 trở thành "Tháng lịch sử của phụ nữ".
Tại sao ngày nay chúng ta vẫn kỷ niệm ngày này? Mục đích ban đầu - đạt được sự bình đẳng giới cho phụ nữ trên toàn cầu - vẫn chưa được nhận thức rõ. Chênh lệch về trả lương giữa hai giới vẫn tồn tại khắp hành tinh và phụ nữ vẫn chưa có vị trí cân bằng trên thương trường hay trong chính trị. Các con số thống kê vẫn cho thấy, chị em vẫn chịu thiệt thòi hơn về giáo dục, chăm sóc sức khỏe và vẫn phải chịu nhiều bạo hành.
Lịch sử không ngờ tới của ngày 8/3
Theo Diễn đàn kinh tế thế giới, khoảng cách giữa hai giới chưa thể xóa bỏ cho tới năm 2186. Chính vì thế, ngày 8/3, phụ nữ khắp thế giới cùng nhau nỗ lực để cả thế giới công nhận những sự bất bình đẳng này, đồng thời ăn mừng những thành tựu đạt được khi vượt qua các rào cản họ vấp phải.
Cũng chính vì lý do đó, ở các nước văn minh, 8/3 không phải là dịp để phụ nữ nhận hoa, quà, những lời chúc mừng mà họ hướng đến những điều lớn hơn, thuộc về quyền của phụ nữ cũng như quyền của con người.
Nhà báo Trương Anh Ngọc, Thông tấn xã Việt Nam cho biết, khi anh làm phóng viên thường trú tại Italy, anh khá ngạc nhiên khi thấy vào ngày này, nếu được tặng hoa hay quà, phụ nữ Phương Tây từ chối nhận vì họ cho rằng hành vi đó chỉ mang tính hình thức và thể hiện sự bất bình đẳng, đi ngược với tiêu chí ngày lễ. 
Còn với nam giới, 365 ngày đều là 8/3 vì ngày nào những người chồng cũng chia sẻ mọi trách nhiệm gia đình với vợ, vào bếp nấu nướng, phụ trách việc nhà. Họ coi đó là một điều hiển nhiên. 
vi-sao-dan-ong-tay-khong-tang-qua-8-3-1
Nhà báo Trương Anh Ngọc tại Italya. Ảnh: NVCC.
"Một người bạn 70 tuổi người Italy bảo với tôi rằng 'Nếu không sống vì gia đình thì đừng lấy vợ và có con nữa'. Và ở đây, đàn ông thực sự rất 'gia đình'", anh chia sẻ. Từng sống lâu năm ở nước ngoài, anh cho rằng, đàn ông phương Tây ga lăng và biết chăm sóc phụ nữ không phải vì để lấy lòng, mà bởi từ bé họ đã được dạy phải tôn trọng người khác giới.
Bản thân anh Ngọc cũng cho rằng, ở Việt Nam, chẳng có lý do gì để ăn mừng khi rất nhiều người hiểu sai về ngày 8/3. Ngày này không phải để tặng quà, hoa mà là để đấu tranh cho các quyền của phụ nữ.
"Hãy nghĩ đến bao nhiêu bé gái bị xâm hại tình dục, những thiếu nữ bị bắt làm vợ ở miền núi, những phụ nữ Việt lang thang xứ người làm gái mại dâm và rất nhiều chị em phải hy sinh ước mơ vì hôn nhân hoặc không được học lên cao bởi bị gia đình ngăn cản, những bà mẹ đơn thân bị khinh rẻ... Họ không cần quà hay lời chúc tụng", anh nói.
Nói về phong trào, tặng hoa, quà cho vợ, bạn gái, nữ đồng nghiệp... của nam giới ngày 8/3 tại Việt Nam, ông Pereric Högberg, Đại sứ Thụy Điển tại Việt Nam cho rằng đó là một hành động đẹp, thể hiện sự tôn trọng những người phụ nữ mình yêu quý nhưng theo ông, nên tặng hoa chị em hằng tuần, hằng ngày chứ không chỉ vào một dịp.
 
vi-sao-dan-ong-tay-khong-tang-qua-8-3-2
Ông Pereric Högberg, Đại sứ Thụy Điển. Ảnh: NVCC.
Ông Pereric Högberg cho hay, tại Thụy Điển, vấn đề giới và bình đẳng giới là trung tâm của các chương trình phát triển 50 năm qua. Chính phủ tạo ra nhiều thay đổi về hành lang pháp lý để đảm bảo môi trường bình đẳng hơn cho phụ nữ, nổi bật nhất là chính sách "Ngày nghỉ của cha mẹ" có từ năm 1974, cho phép các ông bố "nghỉ đẻ" để chăm sóc vợ và em bé. Ngày nay, việc người cha không "nghỉ đẻ" thậm chí còn được coi là điều lạ.
Bản thân ông Högberg cũng nghỉ làm 5 tháng khi vợ sinh lần đầu và 3 tháng khi vợ sinh lần hai. "Trong nhà, tôi là đầu bếp chính. Nấu ăn, hút bụi, là ủi quần áo cho vợ con cũng là công việc thường xuyên của tôi", ông chia sẻ.
Ông cho biết, ngày 8/3, Thụy Điển không có lễ hội, ăn mừng. Mọi người coi đó là ngày để cùng nhau kỷ niệm và nhận ra vẫn còn nhiều việc cần phải làm để đạt tới sự bình đẳng giới và cố gắng làm việc đó cả 365 ngày.
vi-sao-dan-ong-tay-khong-tang-qua-8-3-3
Nhà văn Tâm Phan và chồng. Ảnh: NVCC.
Lấy chồng Tây và định cư nhiều năm tại Thụy Sĩ, nhà văn Tâm Phan cho biết, ngày 8/3 với chị cũng giống mọi ngày khác, nghĩa là trong nhà đã có sẵn những bông hồng do tự tay chồng chị chăm bón, đi làm về anh chăm con và giúp vợ làm việc nhà như 364 ngày còn lại.
"Tôi thấy khá buồn cười vì Việt Nam là một trong số rất ít các quốc gia tổ chức mừng ngày Quốc tế phụ nữ 8/3 trong khi phụ nữ Việt phần lớn bị đối xử bất bình đẳng so với nam giới. Phải chăng nó như là một phần thưởng mỗi năm chỉ có một lần cho chị em được 'mở mày mở mặt' để rồi ngày hôm sau và bao nhiêu ngày khác lại quay về với cái 'máng lợn' vừa đi làm vừa chăm con vừa lo toan tất tật việc nhà?", chị Tâm Phan bày tỏ.
Để có hạnh phúc đích thực, theo chị, phụ nữ cần bỏ hết các nhãn mác người đời gán cho mà chú ý tới những gì mình được đối xử hằng ngày. "Hãy tự mang lại niềm vui và tiếng cười cho bản thân. Hạnh phúc tại tâm chứ nó không nằm trong tay ai khác", nhà văn chia sẻ.
Đàn ông Việt mong muốn gì ở vợ dịp 8/3?
Một số nước trên thế giới tổ chức lễ 8/3 như thế nào?
Pakistan: Những cuộc diễu hành và kháng nghị diễn ra ở nhiều thành phố lớn. Phụ nữ và các bé gái đưa các biểu ngữ về những vấn đề nổi bật, cần giải quyết mà phụ nữ phải đối mặt khi đã ở thế kỷ 21.
Philippines: Năm 2016, các cuộc mít tinh xảy ra ở khắp đất nước. Cả nam giới và phụ nữ đều tham gia các lễ kỷ niệm. Đàn ông đi giày phụ nữ trong quá trình diễu hành ủng hộ phong trào chống lại sự phân biệt đối xử với nữ giới. 
Mozambique: Năm ngoái, phụ nữ nước này tổ chức một buổi hòa nhạc, các chiến dịch vận động vì quyền của phụ nữ. 
Ba Lan: Các công ty sẽ tặng quà cho nữ nhân viên. Học sinh cũng tặng quà và hoa cho cô giáo (đặc biệt là hoa cẩm chướng, violet hay hoa ly).
Trung Quốc: Ở Trung Quốc và một số nước như Madagascar, Macedonia và Nepal, ngày 8/3 là ngày lễ cho phụ nữ và trẻ em gái. 
Vương Linh

Thứ Hai, 6 tháng 3, 2017

Diện mạo các dự án của 'chúa đảo Tuần Châu' ở Sài Gòn

Với tổng mức đầu tư khoảng 65.000 tỷ đồng cho 4 dự án ở TP.HCM, “chúa đảo Tuần Châu" Đào Hồng Tuyển dự kiến sẽ tạo nên diện mạo nào cho Sài Gòn?
Dien mao cac du an cua 'chua dao Tuan Chau' o Sai Gon hinh anh 1
Tập đoàn Tuần Châu - Công ty TNHH Âu Lạc Quảng Ninh đang có đề xuất đầu tư dự án khu đô thị tại Củ Chi với các dự án lớn:dự án Thành phố mới New City tại huyện Củ Chi; đại lộ ven sông Sài Gòn (nối huyện Củ Chi về đến Quận 1); dự án Hồ cảnh quan trung tâm thành phố mới tại Củ Chi; dự án Sài Gòn Marina City và hải cảng hải sản Cần Giờ; dự án di chuyển chợ hóa chất Kim Biên quận 5.
Dien mao cac du an cua 'chua dao Tuan Chau' o Sai Gon hinh anh 2
Dự án Sài Gòn New City Củ Chi: Có diện tích 15.000 ha nằm ở phía đông bắc trung tâm Củ Chi, dự án thể hiện tham vọng của "chúa đảo Tuần Châu" biến Củ Chi thành siêu đô thị vệ tinh, một nơi bao gồm khu dân cư hiện đại, thung lũng silicon, trung tâm y tế siêu hiện đại. Trong ảnh là phối cảnh dự án.
Dien mao cac du an cua 'chua dao Tuan Chau' o Sai Gon hinh anh 3
Chủ đầu tư cam kết sẽ cơ bản xong phần thô đường ven sông từ Củ Chi về cầu Phạm Văn Đồng; hoàn thành một số đoạn khoảng 40% cầu cạn; san lấp và đào xong phần thô của hồ điều hòa nước, san lấp và đầu tư các đường xương cá cho khu đô thị thông minh nối Đại lộ ven sông Sài Gòn - dự án Sài Gòn New City trong 18 tháng kể từ khi phê duyệt.
Dien mao cac du an cua 'chua dao Tuan Chau' o Sai Gon hinh anh 4
Dự án Đại lộ ven sông: Theo đánh giá của nhiều chuyên gia dự án Đại lộ ven sông Sài Gòn chính là điều tiện tiên quyết để đánh giá được sự thành công của dự án khu đô thị ở Củ Chi.
Dien mao cac du an cua 'chua dao Tuan Chau' o Sai Gon hinh anh 5
Theo báo cáo chi tiết của Tập đoàn Tuần Châu, kết cấu đại lộ sử dụng một phần hạ tầng quốc lộ 22 và tuyến đường của tỉnh Bình Dương. Chiều dài của đại lộ này khoảng 59km, có vận tốc chạy xe 100km/giờ và người dân Củ Chi đến quận 1 chỉ từ 20-30 phút. 
Dien mao cac du an cua 'chua dao Tuan Chau' o Sai Gon hinh anh 6
Với 500 ha diện tích mặt nước, hồ cảnh quan là nơi điều tiết và cung cấp nước sinh hoạt cho khu đô thị Sài Gòn New City.
Đại lộ ven sông Sài Gòn Nằm trong tổ hợp các dự án lớn của chúa đảo Tuần Châu ở Sài Gòn, dự án đại lộ ven sông được các chuyên gia đánh giá là điều kiện tiên quyết để thành công.
Dien mao cac du an cua 'chua dao Tuan Chau' o Sai Gon hinh anh 7
Dự án Sài Gòn Marina City Cần Giờ:Dự án này nằm tại bãi biển Cần Giờ, có tổng diện tích 1.430 ha, giáp ranh với dự án của Tập đoàn Vingroup. 18 tháng sau khi được phê duyệt, chủ đầu tư sẽ cơ bản hoàn tất việc san lấp tạo mặt bằng và mở cửa giai đoạn 1 đối với dự án Sài Gòn Marina. 
Dien mao cac du an cua 'chua dao Tuan Chau' o Sai Gon hinh anh 8
Theo chủ đầu tư, tổ hợp này bao gồm 9 phân khu đáp ứng đầy đủ nhu cầu sinh sống và du lịch của du khách, đó là khu khách sạn 5 sao, khu dịch vụ vui chơi giải trí, khu dã ngoại, khu văn hoá tâm lịch, đô thị hải sản.. Trong ảnh là phối cảnh dự án.
Ngọn hải đăng là công trình tự hào của "chúa đảo" Tuần Châu ở đây.
Dien mao cac du an cua 'chua dao Tuan Chau' o Sai Gon hinh anh 10
Dự án di dời chợ Kim Biên: Với dự án di dời “chợ tử thần” Kim Biên, Tập đoàn Tuần Châu xin phép đầu tư xây dựng trung tâm kinh doanh hương liệu, hóa chất mới đạt quy mô tầm cỡ khu vực trên khu đất có diện tích khoảng 20 ha tại xã Tân Kiên, huyện Bình Chánh, TP.HCM. Trong ảnh là mô tả về quy mô của trung tâm kinh doanh hương liệu, hóa chất mới. 
Dien mao cac du an cua 'chua dao Tuan Chau' o Sai Gon hinh anh 11
Nếu được chấp thuận, Tập đoàn Tuần Châu cam kết thời gian hoàn thành dự án là 4 năm kể từ khi hoàn tất thủ tục pháp lý và mặt bằng sạch được bàn giao. Trong ảnh là khu triển lãm hội nghị và nghiên cứu hóa chất, thuộc dự án di dời chợ Kim Biên.
Bình Nguyên (Theo Zing)
» Cần Giờ sẽ thành 'khu đô thị du lịch nghỉ dưỡng và giải trí'?
» TP.HCM sẽ có khu đô thị mới rộng gấp 15 lần Phú Mỹ Hưng và Thủ Thiêm?

Thứ Năm, 2 tháng 3, 2017

Vị Tổng trưởng quyết không rời quê hương

(TNO) Sau gần 30 năm, di cốt của Giáo sư (GS) Nguyễn Duy Xuân - Tổng trưởng Bộ Văn hóa, Giáo dục và Thanh Niên cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa - đã được người con gái đưa từ nghĩa địa trại cải tạo Ba Sao (Nam Định) về gửi trong một ngôi chùa ở Sài Gòn.
GS Nguyễn Duy Xuân
GS Nguyễn Duy Xuân - Ảnh: chụp lại tư liệu gia đình GS Xuân
Ba ngày làm bộ trưởng
Trước thời điểm 30.4.1975 hai ngày, GS Nguyễn Duy Xuân từ vị trí Viện trưởng Viện Đại học Cần Thơ lên giữ chức Tổng trưởng Bộ Văn hóa, Giáo dục và Thanh Niên của chính phủ mới do Tổng thổng Dương Văn Minh lập.
Ngày 30.4.1975, Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng trên đài phát thanh trước đại diện quân giải phóng miền Nam. Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa chính thức sụp đổ.


Giữ huyết mạch cho Hòn ngọc Viễn Đông – Kỳ 6: Vị Tổng trưởng quyết không rời quê hương - ảnh 2
Tại sao lúc đó ba không ở bên má để lo cho chúng tôi mà đi lo cho người khác. Những ngày Sài Gòn hỗn loạn, gia tài mà má và hai em tôi di tản chỉ là một cái va li nhỏ đựng áo quần dù trước đó ba đã nhờ cậy Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn giúp đỡ. Sự hờn trách ba cứ đeo đuổi tôi nhiều năm sau này
Giữ huyết mạch cho Hòn ngọc Viễn Đông – Kỳ 6: Vị Tổng trưởng quyết không rời quê hương - ảnh 3

Bà Nguyễn Thị Nguyệt Nga thổ lộ

Sau 1975, qua một thời gian cải tạo ở Thủ Đức, GS Xuân được đưa đi học tập, cải tạo ở trại Ba Sao thuộc tỉnh Hà Nam Ninh (nay thuộc tỉnh Nam Định) lúc đó.
Năm 1983, trong một lần ra Hà Nội dự họp, GS Võ Tòng Xuân khi đó là đại biểu Quốc hội có ý định vô trại Ba Sao để thăm lại vị viện trưởng của mình khi còn ở Viện Đại học Cần Thơ.
GS Xuân liên hệ với ông Hoàng Xuân Sơn, lúc đó là Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nam Ninh, nhờ ông Sơn giới thiệu với ban quản lý trại Ba Sao để vào thăm GS Nguyễn Duy Xuân.
GS Võ Tòng Xuân nhớ lại: Gặp lại đồng nghiệp, GS Nguyễn Duy Xuân rất mừng. Khi đó do giỏi tiếng Anh nên ngoài thời gian lao động, ông Xuân được trại giao dịch lại một số tài liệu của Mỹ cho chính quyền. Ở trong trại, hai ông GS đều tên Xuân luận bàn về chỉ thị khoán 100 đang sôi nổi trong ngành nông nghiệp lúc đó. GS Nguyễn Duy Xuân tỏ ra vui mừng khi hay tin Đại học Cần Thơ tham gia góp phần hỗ trợ nông dân sản xuất lương thực, ít nhiều tác động đến chỉ thị khoán 100.
GS Nguyễn Duy Xuân cũng là người ít nhiều tác động GS Võ Tòng Xuân về nước làm việc. Năm 1972, khi đang công tác ở Viện Nghiên cứu lúa gạo quốc tế (Philippines), GS Xuân nhận được thư của GS Nguyễn Duy Xuân gợi ý về nước làm việc.
“Anh Xuân nói đồng bằng sông Cửu Long là cái vựa của lúa gạo nên rất cần những nhà khoa học về nông nghiệp như tôi. Chiến tranh rồi có ngày hòa bình, đất nước sẽ cần những người như tôi. Đó là một trong những lý do tôi về công tác ở Đại học Cần Thơ”, GS Xuân kể lại.
Lần gặp gỡ ở trại Ba Sao là lần đầu tiên cũng là lần cuối cùng sau năm 1975 mà GS Võ Tòng Xuân gặp lại GS Nguyễn Duy Xuân. Do tuổi già và mắc bệnh hiểm nghèo, GS Nguyễn Duy Xuân đã qua đời vào năm 1986 khi đang ở trại Ba Sao.
Bà Nguyễn Thị Nguyệt Nga ôm di cốt ba mình gửi lên chùa Thiên Hưng ở đường Vạn Kiếp, Bình Thạnh (TP.HCM)
Bà Nguyễn Thị Nguyệt Nga ôm di cốt ba mình gửi lên chùa Thiên Hưng ở đường Vạn Kiếp, Bình Thạnh (TP.HCM) - Ảnh: chụp lại tư liệu gia đình GS Xuân
Giận ba ghê gớm
Bà Nguyễn Thị Nguyệt Nga – con gái đầu của GS Nguyễn Duy Xuân – cho hay trước khi chính quyền Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ, mẹ bà đã dẫn hai người em kế là Nguyễn Thị Minh Tâm và Nguyễn Như Đức di tản khỏi Sài Gòn. Ban đầu ba mẹ con sống ở đảo Guam khoảng 8-9 tháng rồi mới sang Pháp. Riêng bà Nga khi bảy tuổi đã được bà ngoại đưa sang Pháp từ năm 1968.
Sống xa gia đình từ nhỏ, lại không rành tiếng Việt nên với bà Nga, kí ức về người ba khá mờ nhạt. Số lần mà bà Nga gặp ba mình chỉ đếm trên đầu ngón tay. Đó là những lần GS Xuân sang Pháp công tác hay lần cô bé Nga tròn 13 tuổi lần đầu tiên về thăm Việt Nam vào năm 1974.
“Về Việt Nam lần đó, tôi có xuống Cần Thơ thăm ba. Ba dẫn tôi đi thăm đồng ruộng, thăm Viện Đại học Cần Thơ đang xây dựng. Ba giới thiệu với tôi chỗ này chỗ kia. Nhớ về ba đó là người rất ham học. Ông thường giúp đỡ những sinh viên nghèo, giúp học bổng cho họ”, bà Nga nói.
Bà Nga cho biết thời gian GS Xuân cải tạo ở trại thi thoảng gia đình vẫn gửi thư và nhờ người thân ở Việt Nam vào thăm, gửi lương thực vào cho ba mình. Ngược lại, GS Xuân cũng viết thư cho vợ con.
“Trong thư ba động viên má đừng buồn, cố gắng giữ sức khỏe để lo cho con cái. Với ba chị em tôi, ba khuyên phải cố gắng học tập, đặc biệt là phải đọc nhiều sách và giúp đỡ người khác”, bà Nga xúc động kể.
Dù ba viết thư động viên như vây nhưng những năm sau 1975, có lúc cô bé Nga giận ba mình ghê gớm. Cô hờn trách và thấy tủi thân khi nghĩ về ba. Cô không thể lý giải và không ai lý giải cho cô biết là tại sao trước và sau ngày 30.4.1975, ba cô có cơ hội ra nước ngoài đoàn tụ với gia đình nhưng ông vẫn ở lại Việt Nam, để mẹ con cô bơ vơ ở đất khách quê người.
Bà Nga cố kìm xúc động thổ lộ: “Tại sao lúc đó ba không ở bên má để lo cho chúng tôi mà đi lo cho người khác. Những ngày Sài Gòn hỗn loạn, gia tài mà má và hai em tôi di tản chỉ là một cái va li nhỏ đựng áo quần dù trước đó ba đã nhờ cậy Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn giúp đỡ. Sự hờn trách ba cứ đeo đuổi tôi nhiều năm sau này”.
Theo GS Võ Tòng Xuân, trước ngày 30.4.1975, những người nào có chức sắc ở Viện Đại học Cần Thơ đều được cấp một tấm giấy coi như giấy thông hành để ra nước ngoài khi có biến cố. Với chức vụ tương đương bộ trưởng, GS Nguyễn Duy Xuân có thể ra nước ngoài bất cứ lúc nào nếu muốn nhưng ông vẫn ở lại Việt Nam.
“Ba muốn ở lại quê hương”
Bà Nga lý giải việc tìm mộ của ba hơi muộn là do khi sang Pháp, cả gia đình phải lo ổn định cuộc sống. Và những năm ở Pháp, gia đình không hiểu chính sách Việt Nam có cho phép bốc mộ với những người từng tham gia chính phủ Việt Nam Cộng Hòa và bị đưa đi cải tạo hay không.
Thêm lý do nữa, khi di tản, gia đình bà mất hết liên lạc với những người đồng nghiệp của ba ở Viện Đại học Cần Thơ trước đây.
Những năm gần đây, mỗi năm bà Nga dành ra một tháng để về Việt Nam làm từ thiện, chủ yếu giúp đỡ trẻ dị tật, có hoàn cảnh khó khăn. Khi đó bà mới chủ động hỏi thông tin để tìm mộ ba mình. Năm 2014, bà Nga liên hệ với trường Đại học Cần Thơ và được giới thiệu tới gặp GS Võ Tòng Xuân. Rất tiếc là dịp bà về năm ngoái trùng với đợt GS Xuân công tác dài ngày ở Ấn Độ nên ước nguyện không thành.
Về phía GS Xuân, sau khi nghe được tâm nguyện của bà Nga, ông âm thầm nhờ một người quen là ông Lê Quang Mẫn, nhà ở Long Xuyên (An Giang) nhưng quê ở Nam Định tìm giúp. Trong một lần về quê, ông Mẫn đã lên trại cải tạo Ba Sao hỏi. Từ những thông tin mà ông Mẫn cung cấp, quản lý trại đã chỉ ông Mẫn ra nghĩa địa của trại. Ngôi mộ của GS Nguyễn Duy Xuân được đánh số thứ tự 93.
Nhận được tin, GS Xuân gửi thư điện tử báo để bà Nga về Việt Nam. Cuối tháng 3.2015, bà Nga về tới Việt Nam. Ngày 29.3, GS Xuân và bà Nga ra Nam Định, lên trại Ba Sao để làm thủ tục xin bốc mộ. Sau khi bốc lên, phần xương được hỏa táng, lấy tro bỏ trong tiểu nhỏ. Sau đó, gia đình đã đưa làm lễ cầu siêu tại một ngôi chùa ở Ninh Bình.
Bà Nguyễn Thị Nguyệt Nga nhớ về những kỉ niệm với GS Nguyễn Duy Xuân
Bà Nguyễn Thị Nguyệt Nga nhớ về những kỉ niệm với GS Nguyễn Duy Xuân - Ảnh: Trung Hiếu
“Cái hay là khi chôn cất, để làm dấu tránh thất lạc, những người chôn cất đã đặt mấy đồng tiền trong tay anh Xuân. Khi bốc mộ, mấy đồng tiền vẫn còn nguyên”, GS Võ Tòng Xuân nói.
Ngày 5.4, phần tiểu chứa tro cốt GS Nguyễn Duy Xuân đã được người con gái đưa về Sài Gòn bằng đường tàu lửa, sau đó đem gửi ở chùa Thiên Hưng trên đường Vạn Kiếp, quận Bình Thạnh (TP.HCM).
Bà Nga kể nỗi giận hờn ba kéo dài đến năm bà 44 tuổi. Sau này em trai mất, rồi tới mẹ mất, bà tìm đọc sách Phật, đọc lại tư liệu về ba mình, tìm đọc về những đất nước có hoàn cảnh chiến tranh, chia cắt như Việt Nam, bà mới lý giải một phần lý do khi đó ba mình muốn ở lại quê hương. Vốn là người yêu nước, tính tình hay giúp đỡ người khác lại xuất phát từ giáo dục nên GS Nguyễn Duy Xuân mong muốn ở lại để góp một tay xây dựng quê hương sau chiến tranh.
Khi đã hiểu được tâm nguyên của ba, nỗi giận hờn, buồn tủi khi nghĩ về ba trong bà Nga dường như tan biến. Từ đó, hàng năm bà đều dành một tháng về Việt Nam giúp đỡ trẻ em nghèo khó như thực hiện một phần tâm nguyện của ba mình. Khi hiểu ý nguyện của ba, bà Nga rất đỗi tự hào về người ba của mình.
“Sau khi tìm được mộ của ba, bà sẽ đưa di cốt ba mình sang Pháp để tiện bề chăm sóc, thờ cúng?”, người viết hỏi. “Tôi sẽ để tro cốt ba ở lại Việt Nam. Bởi cả cuộc đời ba luôn muốn ở lại quê hương mình. Ba sẽ không chịu nếu tôi đưa ổng sang Pháp đâu”, bà Nga xúc động nói.
GS Nguyễn Duy Xuân sinh năm 1925 tại Ô Môn, tỉnh Cần Thơ, cựu học sinh Collège de Cần Thơ. Sau khi đậu bằng Diplôma (văn bằng thành chung). GS sang Pháp du học tốt nghiệp cử nhân kinh Tế. Ông tiếp tục theo học chương trình sau đại học ở Anh, lấy bằng Thạc sĩ về kinh tế học; tiếp đến sang Mỹ theo học ở đại học Vanderbilt, và lấy học vị Tiến sĩ kinh tế học rồi trở về Việt Nam năm 1963.
Trong thời gian giữ chức Viện trưởng Viện Đại học Cần Thơ, GS Xuân đã nỗ lực phát triển viện đại học trên mọi lãnh vực từ chương trình giảng dạy, đào tạo cán bộ giảng huấn,ngân sách, tài trợ, xây cất thêm giảng đường, phòng thí nghiệm đến tổ chức hành chánh, y tế sinh viên và thiết lập ký túc xá dành cho sinh viên đến từ các tỉnh miền Tây.
GS Xuân đã đẩy mạnh phát triển hai ngành sư phạm và nông nghiệp với viễn kiến nhằm đạo tạo những giáo chức trung cấp để mở rộng mạng lưới giáo dục, nâng cao trình độ dân trí và những cán bộ chuyên môn với những kiến thức về khoa học và kỹ thuật nông nghiệp để gia tăng tiềm năng sản xuất của đồng bằng sông Cửu Long.
Trung Hiếu


Nguyễn Duy Xuân

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
GS Nguyễn Duy Xuân (sinh năm 1925 tại Ô Môn, tỉnh Cần Thơ, mất 1986 tại trại Ba Sao thuộc tỉnh Hà Nam Ninh (nay thuộc tỉnh Nam Định)) từng là Viện trưởng Viện Đại học Cần Thơ, giữ chức Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Giáo dục và Thanh Niên trong chính phủ 3 ngày của Tổng thổng Dương Văn Minh.[1]

Mục lục

Tiểu sử

GS Nguyễn Duy Xuân là cựu học sinh Collège de Cần Thơ. Sau khi đậu bằng Diplôma (văn bằng thành chung). Ông sang Pháp du học tốt nghiệp cử nhân kinh Tế. Ông tiếp tục theo học chương trình sau đại học ở Anh, lấy bằng Thạc sĩ về kinh tế học; tiếp đến sang Mỹ theo học ở đại học Vanderbilt, và lấy học vị Tiến sĩ kinh tế học rồi trở về Việt Nam năm 1963.
Sau khi về nước ông được bổ nhiệm làm tổng ủy trưởng tổng ủy nông nghiệp, tổng trưởng kinh tế và cố vấn kinh tế của tổng thống Nguyễn văn Thiệu, bên cạnh đó, ông còn dạy tại các trường đại học kinh tế và trường quốc gia hành chính. Đầu năm 1970, ông được giáo sư Phạm Hoàng Hộ mời về làm viện trưởng Viện Đại học Cần Thơ.[2]

Biến cố 30 tháng 4 1975

Trước ngày thống nhất vợ ông dẫn hai người con di tản khỏi Sài Gòn. Ban đầu ba mẹ con sống ở đảo Guam khoảng 8-9 tháng rồi mới sang Pháp. Riêng bà Nguyễn Thị Nguyệt Nga, con gái đầu khi bảy tuổi đã được bà ngoại đưa sang Pháp từ năm 1968. Theo GS Võ Tòng Xuân, trước ngày 30.4.1975, những người nào có chức sắc ở Viện Đại học Cần Thơ đều được cấp một tấm giấy coi như giấy thông hành để ra nước ngoài khi có biến cố. Với chức vụ tương đương bộ trưởng, GS Nguyễn Duy Xuân có thể ra nước ngoài bất cứ lúc nào nếu muốn nhưng ông vẫn ở lại Việt Nam.
Sau 1975, qua một thời gian cải tạo ở Thủ Đức, GS Xuân được đưa đi học tập, cải tạo ở trại Ba Sao thuộc tỉnh Hà Nam Ninh (nay thuộc tỉnh Nam Định) lúc đó.
Năm 1983, trong một lần ra Hà Nội dự họp, GS Võ Tòng Xuân khi đó là đại biểu Quốc hội liên hệ với ông Hoàng Xuân Sơn, lúc đó là Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nam Ninh, nhờ ông Sơn giới thiệu với ban quản lý trại Ba Sao để vào thăm lại vị viện trưởng của mình khi còn ở Viện Đại học Cần Thơ. GS Nguyễn Duy Xuân cũng là người mời GS Võ Tòng Xuân về nước giảng dạy tại trường ông vào năm 1972, khi ông Xuân đang công tác ở Viện Nghiên cứu lúa gạo quốc tế (Philippines).
Do tuổi già và mắc bệnh hiểm nghèo, GS Nguyễn Duy Xuân đã qua đời vào năm 1986 khi đang ở trại Ba Sao.
Sau gần 30 năm, ngày 5.4. 2015, phần tiểu chứa tro cốt của Giáo sư (GS) Nguyễn Duy Xuân được người con gái, bà Nguyễn Thị Nguyệt Nga, đưa từ nghĩa địa trại cải tạo Ba Sao (Nam Định) bằng đường tàu lửa về gửi lên chùa Thiên Hưng ở đường Vạn Kiếp, Bình Thạnh (TP.HCM).

Thành tích

Trong thời gian giữ chức Viện trưởng Viện Đại học Cần Thơ, GS Xuân đã nỗ lực phát triển viện đại học trên mọi lãnh vực từ chương trình giảng dạy, đào tạo cán bộ giảng huấn,ngân sách, tài trợ, xây cất thêm giảng đường, phòng thí nghiệm đến tổ chức hành chánh, y tế sinh viên và thiết lập ký túc xá dành cho sinh viên đến từ các tỉnh miền Tây.
Ông là người tiên phong thực hiện giáo dục đại học theo tín chỉ/ credits (thay vì chứng chỉ, certificat như trước đây); giống như mô hình hệ thống Đại học Hoa Kỳ. Ông còn gửi cả một đội ngũ giảng viên trẻ đi du học, điển hình như anh Trần Phước Đường đi Mỹ tốt nghiệp tiến sĩ tại Đại học Michigan, sau đó họ trở về trường phục vụ ngành Sinh học, Giáo sư Trần Phước Đường sau này trở thành Viện trưởng Đại học Cần Thơ từ 1989 tới 1997. Năm 1972, ông cũng đích thân mời nhà nông học trẻ Võ Tòng Xuân khi ấy đang công tác ở Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế Los Banos Philippines về trường giảng dạy.[3]
GS Xuân đã đẩy mạnh phát triển hai ngành sư phạm và nông nghiệp với viễn kiến nhằm đạo tạo những giáo chức trung cấp để mở rộng mạng lưới giáo dục, nâng cao trình độ dân trí và những cán bộ chuyên môn với những kiến thức về khoa học và kỹ thuật nông nghiệp để gia tăng tiềm năng sản xuất của đồng bằng sông Cửu Long.

Chú thích

Tổng thống Donald Trump có bài phát biểu đầu tiên trước Quốc hội Mỹ.

 Trump lần đầu phát biểu trước Quốc hội: Mỹ đã mất 60.000 nhà máy từ khi Trung Quốc vào WTO

Thưa Quốc Hội Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ:
Thưa Ngài Chủ Tịch Hạ Viện, Ngài Phó Tổng Thống, các Dân Biểu, Nghị Sĩ, Đệ Nhất Phu Nhân Hoa Kỳ, và người dân Hoa Kỳ:

Tối nay, khi chúng ta đánh dấu sự kết thúc chương trình kỷ niệm Tháng Lịch Sử Người Da Đen, chúng ta được nhắc nhở về hành trình Quốc Gia đi đến dân quyền, và những công việc vẫn còn dang dở. Những đe dọa gần đây nhắm vào các Trung Tâm Cộng Đồng Do Thái và sự phá hoại các nghĩa trang của người Do Thái, cùng vụ bắn người tại Kansas City tuần rồi, nhắc nhở chúng ta rằng, trong khi Quốc Gia này có thể bị chia rẽ về mặt chính sách, chúng ta vẫn là một đất nước đoàn kết trong việc lên án sự thù ghét và độc ác ở bất cứ hình thức nào.
Từng thế hệ người Mỹ chuyển giao ngọn đuốc của sự thật, tự do và công lý – trong một hành trình liên tục, đến cho thế hệ hôm nay.
Ngọn đuốc ấy nay trong tay chúng ta. Chúng ta sẽ dùng ngọn đuốc này để thắp sáng thế giới. Tôi có mặt tại đây hôm nay để gửi đến thông điệp của thống nhất và sức mạnh, và thông điệp ấy đến từ nơi sâu thẳm trong trái tim tôi.
Một chương mới về Sự Vĩ Đại Hoa Kỳ đang bắt đầu từ giây phút này.
Một niềm hãnh diện quốc gia mới đang lan tỏa khắp nơi trên đất nước này.
Và sự trỗi dậy của niềm lạc quan đang đặt những giấc mơ bất khả thi nằm gọn trong tầm với của chúng ta.
Những gì chúng ta đang làm nhân chứng hôm nay chính là Sự Tái Tạo của Tinh Thần Hoa Kỳ.
Các đồng minh của chúng ta sẽ thấy, rằng Hoa Kỳ, một lần nữa, sẵn sàng trong vai trò lãnh đạo.
Mọi quốc gia trên thế giới này – bạn hay thù – sẽ nhìn nhận rằng Hoa Kỳ nghĩa là sức mạnh, Hoa Kỳ nghĩa là sự tự hào, và Hoa Kỳ chính là tự do.
Chín năm nữa, Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ sẽ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc – 250 năm từ ngày chúng ta tuyên bố độc lập.
Thời điểm ấy sẽ là một trong những khoảnh khắc vĩ đại trong lịch sử thế giới.
Thế nhưng, Hoa Kỳ sẽ trông như thế nào khi chúng ta bước vào năm thứ 250 ấy?
Chúng ta sẽ để lại một đất nước như thế nào cho con, cháu chúng ta?
Tôi sẽ không cho phép những sai lầm trong vài thập niên qua lại trở thành sự dẫn hướng con đường chúng ta đi trong tương lai.
Đã lâu quá rồi, chúng ta nhìn thấy sự co cụm của tầng lớp trung lưu trong khi chúng ta xuất khẩu công ăn việc làm và sự thịnh vượng ra nước ngoài.
Chúng ta bỏ tiền ra và xây dựng hết dự án toàn cầu này đến dự án toàn cầu nọ, trong khi đó lại làm ngơ về số phận của trẻ em chúng ta trong các thành phố nội đô, như Chicago, Baltimore, Detroit – và rất nhiều nơi chốn khác trên khắp đất nước chúng ta.
Chúng ta ra sức bảo vệ biên giới các quốc gia khác, trong khi bỏ ngỏ biên giới của chính mình, để ai muốn băng qua cũng được – kéo theo ma túy ào ạt đổ vào, hiện ở mức cao chưa từng có.
Và chúng ta đã chi tiêu hàng ngàn tỷ USD ở hải ngoại, trong khi hạ tầng cơ sở ngay ở quốc nội xuống cấp trầm trọng.
Thế rồi, đến năm 2016, thế giới thay đổi dưới chân chúng ta. Sự nổi loạn bắt đầu dưới hình thức biểu tình thầm lặng, được các gia đình mọi chủng tộc, mọi tín ngưỡng, đề cập đến. Những gia đình này chỉ mong muốn sự công bằng cho con cái họ, cùng sự lắng nghe thật tình trước những quan ngại của họ.
Nhưng rồi những tiếng nói thầm lặng trở thành dàn đồng ca đầy thanh âm – khi hàng ngàn công dân bắt đầu cùng nhau lên tiếng, từ các thành phố lớn, nhỏ, trên khắp đất nước.
Cuối cùng, dàn đồng ca ấy trở thành cơn địa chấn – với số người lên đến hàng chục triệu, và họ đoàn kết với nhau ở một yêu cầu, rất đơn giản nhưng rất quan trọng: Hoa Kỳ phải đặt công dân của mình lên hàng ưu tiên số một … bởi vì, chỉ đến khi ấy chúng ta mới thật sự LÀM NƯỚC MỸ VĨ ĐẠI TRỞ LẠI.
Những ngành công nghiệp đang chết dần chết mòn sẽ lên tiếng, hồi sinh. Các cựu chiến binh anh hùng sẽ được cung cấp sự chăm sóc mà họ cần trong tuyệt vọng từ trước đến nay.
Quân đội chúng ta sẽ được trang bị tài nguyên xứng đáng cho các chiến binh dũng cảm.
Cơ sở hạ tầng nát bét sẽ được thay thế bằng các đại lộ mới, những chiếc cầu mới, các đường hầm mới, các sân bay và đường xe lửa mới, soi rọi đất nước xinh đẹp của chúng ta.
Căn bệnh ma túy trầm kha của chúng ta sẽ chậm lại, và chấm dứt, tối hậu.
Các các thành phố nội đô bị lơ là bao lâu nay sẽ chứng kiến sự hồi sinh của hy vọng, của sự an toàn, và của cơ hội.
Trên tất cả, chúng ta sẽ giữ lời hứa của chúng ta với người dân Hoa Kỳ.
Tôi nhậm chức chỉ mới hơn một tháng, và tôi muốn dùng thời khắc này để cập nhật với quốc gia về sự tiến triển mà tôi đã đạt được để giữ lời hứa của mình.
Từ ngày đắc cử đến nay, Ford, Fiat-Chrysler, General Motors, Sprint, Softbank, Lockheed, Intel, Walmart, và nhiều công ty khác, đã tuyên bố sẽ đầu tư hàng tỷ USD ngay trong nước Mỹ và sẽ tạo thêm hàng chục ngàn công ăn việc làm mới cho nước Mỹ.
Thị trường chứng khoán gia tăng giá trị gần ba ngàn tỷ USD kể từ ngày bầu cử 8 Tháng 11, một kỷ lục. Chúng ta đã tiết kiệm được hàng trăm triệu USD bằng cách hạ giá phản lực cơ F-35 mới, và sẽ tiết kiệm thêm hàng tỷ USD từ các hợp đồng trong toàn bộ hệ thống công quyền. Chúng ta đã ra lệnh không thuê mướn thêm bất cứ ai không trong lĩnh vực quân sự và không thực sự cần thiết cho Liên Bang.
Chúng ta đã bắt đầu quét dọn vũng lầy tham nhũng của chính phủ bằng cách ra lệnh cấm các quan chức ngành Hành Pháp không được vận động hành lang trong 5 năm; và cấm vĩnh viễn không được làm người vận động hành lang cho chính phủ nước ngoài.
Chúng ta cũng có một nỗ lực lịch sử, giảm bớt rất nhiều rào cản luật lệ khiến không thể tạo ra công ăn việc làm, đồng thời lập ra các nhóm đặc nhiệm nới lỏng luật lệ ngay trong mọi cơ quan chính phủ; ra luật mới rằng hễ cứ tạo ra thêm một nguyên tắc mới thì phải bỏ đi hai nguyên tắc cũ; và chấm dứt một nguyên tắc vốn mang tính đe dọa tương lai và đời sống của các công nhân khai thác mỏ than của chúng ta.
Chúng ta cũng đã mở đường cho sự xây dựng đường ống Keystone và Dakota – vậy là tạo ra thêm hàng chục ngàn việc làm – và tôi sẽ chỉ thị là các đường ống dẫn dầu mới trong nước Mỹ sẽ phải dùng thép của Mỹ.
Chúng ta cũng đã rút nước Mỹ ra khỏi hiệp định hủy hoại việc làm – TPP.
Với sự hỗ trợ của thủ tướng Justin Trudeau, chúng ta đã thiết lập một Ủy Hội tại Canada với các nước láng giềng, bảo đảm trợ giúp các nữ doanh gia được truy cập vào hệ thống, thị trường và vốn mà họ cần để bắt đầu một doanh nghiệp mới và thực hiện giấc mơ tài chính của mình.
Để bảo vệ công dân mình, tôi đã chỉ thị Bộ Tư Pháp thành lập Đội Đặc Nhiệm Giảm Thiểu Tội Ác Bạo Lực.
Chưa hết, tôi cũng đã ra lệnh Bộ Nội vụ, Bộ Tư Pháp, cùng Bộ Ngoại Giao và Giám Đốc Tình Báo Quốc Gia, phối hợp trong một chiến lược lớn, phá vỡ các nhóm tội phạm trên đất nước chúng ta.
Chúng ta sẽ chấm dứt ma túy chảy vào đất nước mình, đầu độc tuổi trẻ mình – và chúng ta sẽ mở rộng chương trình cai nghiện cho những người đã đi vào con đường nghiện ngập.
Cùng lúc, Chính Phủ tôi sẽ trả lời những yêu cầu của người dân Mỹ đối với việc thi hành di trú và an ninh biên giới. Với việc thực thi luật di trú, chúng ta sẽ tăng lương, giúp người thất nghiệp, tiết kiệm hàng tỷ Mỹ kim, biến các cộng đồng của chúng ta trở nên an toàn hơn cho mọi người. Chúng ta muốn mọi người Mỹ thành công – nhưng điều ấy là bất khả thi trong một môi trường điên đảo không luật pháp. Chúng ta phải tái tạo sự thống nhất và nguyên tắc luật pháp tại biên giới của chúng ta.
Vì lý do đó, chúng ta sẽ sớm bắt đầu xây dựng một bức tường dài dọc biên giới với quốc gia láng giềng ở phía Nam. Chúng ta sẽ bắt đầu sớm, và một khi hoàn tất, đây sẽ là vũ khí vô cùng hữu hiệu chống lại ma túy và tội ác.
Trong khi chúng ta đang nói đây, chúng ta cũng đang xóa sổ các tay du đãng, các tay buôn bán ma túy và tội phạm, vốn là giới đã đe dọa các cộng đồng chúng ta và săn mồi trên các công dân chúng ta.
Bất cứ vị nào trong Quốc Hội không tin rằng chúng ta nên thi hành luật pháp của chúng ta, tôi xin hỏi câu hỏi này: Quý vị sẽ nói gì với gia đình Mỹ mất công ăn việc làm, mất thu nhập, hoặc mất một người thân, chỉ vì nước Mỹ từ chối thi hành luật pháp và bảo vệ biên giới?
Trách nhiệm của chúng ta là phục vụ, bảo bọc, và bảo vệ công dân Hoa Kỳ. Chúng ta cũng sẽ tiến hành các biện pháp mạnh để bảo vệ Quốc Gia trước Chủ Nghĩa Khủng Bố của Hồi Giáo Quá Khích.
Theo tài liệu của Bộ Tư Pháp, phần lớn các cá nhân bị kết tội liên quan đến khủng bố từ vụ 9/11 đến nay đến từ bên ngoài nước Mỹ. Chúng ta đã thấy đất nước bị tấn công – từ Boston đến San Bernadino đến Lầu năm góc, và vâng, ngay cả World Trade Center.
Chúng ta đã nhìn thấy những vụ tấn công tại Pháp, tại Bỉ, tại Đức, và tại khắp nơi trên thế giới.
Không phải sự thương cảm, mà là sự tắc trách, đã để xảy ra sự xâm nhập không thể kiểm soát, từ những nơi mà sự rà soát kỹ lưỡng không thể thực hiện được. Những ai được vinh dự để đi vào nước Mỹ cần hỗ trợ đất nước này và yêu mến con người cùng giá trị của đất nước này.
Chúng ta không thể cho phép chủ nghĩa khủng bố làm thành một bàn đạp bên trong nước Mỹ - chúng ta không thể cho phép quốc gia của mình trở thành nơi trú ẩn cho những kẻ cực đoan.
Đó là lý do tại sao chính quyền của tôi đã và đang làm việc để cải thiện thủ tục rà soát, và chúng tôi sẽ sớm có những bước đi mới để giữ an toàn cho quốc gia chúng ta - và chặn đứng những kẻ có thể làm hại chúng ta.
Như đã hứa, tôi đã chỉ đạo Bộ Quốc Phòng xây dựng kế hoạch đánh gục và tiêu diệt ISIS - một mạng lưới những kẻ man rợ vô pháp đã tàn sát người Hồi giáo và Kitô giáo, cũng như những đàn ông, phụ nữ và trẻ em thuộc mọi tôn giáo và tín ngưỡng. Chúng tôi sẽ làm việc với các đồng minh của mình, bao gồm cả bạn bè và đồng minh của chúng ta trong thế giới Hồi giáo, để xóa sổ kẻ thù thấp hèn này khỏi hành tinh chúng ta.
Tôi cũng đã áp đặt các biện pháp trừng phạt mới đối với các tổ chức, cá nhân trợ giúp cho chương trình tên lửa đạn đạo của Iran, và tái khẳng định quan hệ đồng minh không thể phá vỡ của chúng ta với nhà nước Israel.
Cuối cùng, tôi đã giữ lời hứa bổ nhiệm một thẩm phán Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ - từ danh sách của tôi gồm 20 thẩm phán - là người sẽ bảo vệ Hiến Pháp của chúng ta. Tôi lấy làm vinh hạnh là bà Maureen Scalia có mặt cùng chúng ta trong phòng họp này tối nay. Phu quân quá cố tuyệt vời của bà, ông Antonin Scalia, mãi mãi sẽ là một biểu tượng của nền tư pháp Mỹ. Để có người ngồi vào vị trí của ông, chúng tôi đã chọn Thẩm phán Neil Gorsuch, một người có những kỹ năng tuyệt vời, và tôn kính pháp luật sâu sắc. Ông đã được Toà Phúc Thẩm nhất trí thông qua, và tôi đề nghị Thượng Viện nhanh chóng phê chuẩn ông.
Đêm nay, vào lúc tôi phác thảo các bước tiếp theo mà chúng ta phải tiến hành với tư cách quốc gia, chúng ta phải thành thật thừa nhận về hoàn cảnh mà chúng tôi thừa kế.
Chín mươi tư (94) triệu người Mỹ rời khỏi lực lượng lao động.
Hơn 43 triệu người dân đang sống trong nghèo đói, và hơn 43 triệu người Mỹ đang sống nhờ tem phiếu cứu trợ thực phẩm.
Hơn 1/5 số người trong độ tuổi làm việc tốt nhất lại không làm việc.
Chúng ta có tình trạng phục hồi tài chính tồi tệ nhất trong 65 năm qua.
Trong 8 năm qua, chính quyền trước đã tích lũy số nợ mới lớn hơn gần như tất cả các đời tổng thống khác cộng lại.
Chúng ta đã mất hơn 1/4 số công việc ngành sản xuất từ khi NAFTA được phê chuẩn, và chúng ta đã mất 60.000 nhà máy kể từ khi Trung Quốc gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới vào năm 2001.
Thâm hụt thương mại hàng hóa của chúng ta với thế giới năm ngoái là gần 800 tỷ đôla.
Và ở nước ngoài, chúng tôi thừa kế một loạt các chính sách đối ngoại bi thảm.
Giải quyết các vấn đề này, và rất nhiều điều cấp bách khác, sẽ đòi hỏi chúng ta vượt qua những khác biệt đảng phái. Nó sẽ đòi hỏi chúng ta khai thác tinh thần Mỹ đã vượt qua mọi thách thức trong suốt lịch sử lâu dài và có bề dày của chúng ta.
Tuy nhiên, để đạt được các mục tiêu của chúng ta trong và ngoài nước, chúng ta phải khởi động lại động cơ của nền kinh tế Mỹ - làm sao cho các công ty kinh doanh dễ dàng hơn tại Hoa Kỳ, và làm cho các công ty khó ra đi hơn.
Ngay bây giờ, các công ty Mỹ phải chịu những mức thuế suất cao nhất so với bất cứ đâu trên thế giới.
Đội ngũ kinh tế của tôi thảo ra chương trình cải cách thuế lịch sử theo đó sẽ giảm thuế suất đối với các công ty của chúng ta để họ có thể cạnh tranh và phát triển ở bất cứ đâu và với bất cứ ai. Đồng thời, chúng tôi sẽ dành ưu đãi thuế rất lớn cho tầng lớp trung lưu.
Chúng ta phải tạo ra sân chơi bình đẳng cho các công ty và người lao động Mỹ.
Hiện nay, khi chúng ta vận chuyển sản phẩm ra khỏi nước Mỹ, nhiều quốc gia khác buộc chúng ta phải trả thuế rất cao - nhưng khi các công ty nước ngoài đưa sản phẩm của họ vào Mỹ, chúng ta hầu như không đánh thuế gì đối với họ.
Tôi vừa gặp các lãnh đạo và nhân viên của một công ty Mỹ tuyệt vời, Harley-Davidson. Quả thực, họ đã hãnh diện trưng bày 5 chiếc môtô tuyệt vời của họ, chế tạo tại Mỹ, trên bãi cỏ phía trước Tòa Nhà trắng.
Tại cuộc họp, tôi hỏi họ về công việc kinh doanh. Họ nói rằng công việc cũng tốt. Tôi hỏi thêm là việc kinh doanh ở các nước khác, chủ yếu là các giao dịch quốc tế, thì như thế nào. Họ nói với tôi - mà không hề phàn nàn vì họ đã bị ngược đãi quá lâu thành ra họ đã quen với điều đó - họ nói là rất khó khăn khi kinh doanh với các nước khác vì người ta đánh thuế hàng hóa của chúng ta với thuế suất rất cao. Họ cho biết có trường hợp một quốc gia khác đánh thuế xe máy của họ với thuế suất 100%.
Họ thậm chí không đòi hỏi thay đổi. Nhưng tôi thì có.
Tôi tin tưởng mạnh mẽ vào thương mại tự do, nhưng đó cũng phải là THƯƠNG MẠI CÔNG BẰNG.
Tổng thống đầu tiên đảng Cộng hòa, Abraham Lincoln, cảnh báo rằng "từ bỏ chính sách bảo hộ của Chính phủ Mỹ [sẽ] gây ra khó khăn và có hại cho người dân chúng ta."
Ông Lincoln đã đúng - và giờ là lúc chúng ta chú ý đến lời của ông. Tôi sẽ không để cho nước Mỹ và các công ty và người lao động tuyệt vời của Mỹ bị lợi dụng nữa.
Tôi sẽ mang trở về hàng triệu việc làm. Bảo vệ công nhân của chúng ta cũng đồng nghĩa với cải cách hệ thống của chúng ta về nhập cư hợp pháp. Hệ thống hiện nay đã lỗi thời, kìm hãm tiền lương của những người lao động nghèo nhất của chúng ta, và tạo áp lực rất lớn đối với người đóng thuế.
Các quốc gia trên thế giới, như Canada, Australia và nhiều nước khác - có hệ thống nhập cư dựa trên tính điểm thành tích. Có một nguyên tắc cơ bản là những người tìm cách đi vào một đất nước thì phải có khả năng tài chính để tự nuôi được bản thân. Thế nhưng, tại Mỹ, chúng ta không bắt buộc nguyên tắc này, gây căng thẳng cho các nguồn lực công cộng mà các công dân nghèo khó nhất của chúng ta dựa vào. Theo Viện Hàn Lâm Khoa Học Quốc Gia, hệ thống di trú hiện tại của chúng ta ngốn nhiều tỷ đô la một năm từ tiền của người đóng thuế Mỹ.
Thay đổi khỏi hệ thống hiện nay cho nhập cư những người có tay nghề thấp, và thay vào đó áp dụng một hệ thống dựa trên tính điểm thành tích, sẽ có rất nhiều lợi ích: nó sẽ tiết kiệm được rất nhiều tiền, tăng lương cho người lao động, và giúp đỡ các gia đình gặp khó khăn - bao gồm cả các gia đình nhập cư - để họ gia nhập tầng lớp trung lưu.
Tôi tin rằng cải cách nhập cư thực sự và tích cực là khả thi, miễn là chúng ta tập trung vào các mục tiêu sau đây: Để cải thiện việc làm và tiền lương cho người Mỹ, để tăng cường an ninh quốc gia, và để khôi phục lại sự tôn trọng luật pháp. Nếu chúng ta vì phúc lợi chung của công dân Hoa Kỳ thì tôi tin rằng đảng Cộng Hòa và đảng Dân Chủ đều có thể cùng nhau thực hiện để đạt được kết quả tốt mà trong nhiều thập kỷ qua chúng ta lẩn tránh.
Dwight D. Eisenhower, một tổng thống Cộng Hòa, đã khởi xướng chương trình cơ sở hạ tầng quốc gia thực sự vĩ đại - xây dựng hệ thống đường cao tốc liên bang. Đã đến lúc cho một chương trình mới, kiến thiết lại quốc gia.
Mỹ đã chi khoảng 6.000 tỷ USD ở Trung Đông, trong khi ở trong nước thì cơ sở hạ tầng đang đổ nát. Với 6.000 tỷ đô la Mỹ, chúng ta có thể đã xây dựng lại đất nước – gấp hai lần. Và thậm chí, gấp ba lần nếu chúng ta dùng người có khả năng tốt để thương lượng.
Để khởi động chương trình tái kiến thiết quốc gia, tôi sẽ yêu cầu Quốc Hội chấp thuận đạo luật tạo cấp một khoảng đầu tư 1.000 tỷ đôla vào cơ sở hạ tầng của Hoa Kỳ - tài trợ thông qua các quỹ quản lý vốn cả công và tư - giúp tạo ra hàng triệu việc làm mới.
Nỗ lực này sẽ được thực hiện dựa trên hai nguyên tắc cốt lõi: Mua hàng Mỹ, và Thuê người Mỹ.
Tối hôm nay, tôi cũng kêu gọi Quốc Hội bãi bỏ và thay thế Obamacare thông qua việc cải cách mở rộng sự lựa chọn, dễ tiếp cận, chi phí thấp hơn, và đồng thời, cung cấp dịch vụ y tế tốt hơn.
Việc bắt buộc mọi người dân Mỹ phải mua bảo hiểm y tế do chính phủ phê duyệt sẽ không bao giờ là giải pháp đúng cho nước Mỹ. Một cách để mang bảo hiểm y tế đến cho tất cả mọi người là giảm chi phí bảo hiểm y tế, và đó là những gì chúng tôi sẽ làm.
Phí bảo hiểm Obamacare đã gia tăng gấp đôi và tính bằng hàng trăm đôla trên toàn quốc. Ví dụ, bang Arizona tăng phí 116 % trong năm ngoái. Thống đốc bang Kentucky Matt Bevin nói Obamacare đang thất bại trong tiểu bang của ông - nó không bền vững và đang sụp đổ.
Một phần ba các quận chỉ có một công ty bảo hiểm có giao dịch - khiến nhiều người Mỹ không có sự lựa chọn nào khác.
Hãy nhớ lại lúc bạn nghe được hứa rằng bạn có thể giữ được bác sĩ, và giữ được chương trình bảo hiểm của bạn?
Bây giờ chúng ta biết rằng tất cả những lời hứa đó đã bị phá vỡ.
Obamacare đang sụp đổ - và chúng ta phải hành động dứt khoát để bảo vệ tất cả người Mỹ. Hành động không phải là một sự lựa chọn - đó là một điều cần thiết.
Vì vậy, tôi kêu gọi tất cả đảng viên Dân Chủ và Cộng Hòa trong Quốc Hội hãy cùng làm việc với chúng tôi để cứu người Mỹ không bị rơi vào thảm họa Obamacare đang nổ tung.
Dưới đây là những nguyên tắc giúp định hướng cho Quốc Hội khi chúng ta tiến hành tạo ra một hệ thống chăm sóc sức khỏe tốt hơn cho tất cả người Mỹ:
Thứ nhất, chúng ta phải bảo đảm rằng người Mỹ đã mắc bệnh từ trước phải được bảo hiểm, và chúng ta có một sự chuyển đổi ổn định cho người Mỹ hiện đang tham gia trong các chương trình giao dịch chăm sóc sức khỏe.
Thứ hai, chúng ta nên giúp người Mỹ mua bảo hiểm riêng của họ, thông qua việc sử dụng các khoản tín dụng thuế và tài khoản tiết kiệm y tế mở rộng - nhưng nó phải là chương trình bảo hiểm mà người dân muốn, chứ không phải là chương trình mà chính phủ buộc người dân phải mua.
Thứ ba, chúng ta nên cung cấp cho các thống đốc bang các nguồn lực và sự linh hoạt mà họ cần với chương trình Medicaid để bảo đảm không ai bị bỏ sót.
Thứ tư, chúng ta nên thực hiện cải cách pháp lý để bảo vệ cả bệnh nhân và các bác sĩ không bị tăng chi phí khám chữa bệnh không cần thiết - và hợp tác cùng nhau để giảm giá thuốc cao một cách nhân tạo, và giảm ngay lập tức.
Cuối cùng, đã đến lúc cho người Mỹ được tự do mua bảo hiểm y tế trên các tiểu bang - tạo ra một thị trường quốc gia thực sự cạnh tranh giúp giảm chi phí và cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế tốt hơn.
Tất cả mọi thứ bị hỏng ở nước ta đều có thể được chỉnh sửa. Mọi vấn đề có thể được giải quyết. Và mỗi gia đình bi tổn thương đều có thể được chữa lành, và hy vọng.
Các công dân của chúng ta xứng đáng được hưởng điều này, và nhiều hơn nữa - vậy tại sao không tham gia cùng các lực lượng của chúng tôi thực hiện điều này? Về vấn đề này và còn rất nhiều thứ khác nữa, đảng viên Dân Chủ và đảng viên Cộng Hòa nên hợp tác với nhau và đoàn kết vì lợi ích của đất nước chúng ta, và vì lợi ích của người dân Mỹ.
Chính quyền của tôi muốn làm việc với các thành viên lưỡng viện để làm cho chương trình chăm sóc trẻ dễ tiếp cận và giá cả phải chăng, để giúp các phụ huynh được trả lương khi chăm sóc con cái, đầu tư vào sức khỏe của phụ nữ, và tăng cường không khí sạch và nước sạch, và để xây dựng lại nền quốc phòng và cơ sở hạ tầng.
Tình yêu đích thực dành cho nhân dân đòi hỏi chúng ta phải tìm thấy điểm chung, để thúc đẩy lợi ích chung, và hợp tác vì mỗi trẻ em Mỹ, những người xứng đáng có một tương lai tươi sáng hơn.
Người thiếu nữ trẻ có mặt với chúng ta tối nay ai sẽ cho chúng ta thấy một nguồn cảm hứng cho tất cả mọi người.
Hôm nay là ngày bệnh hiếm, và tham gia với chúng tôi là bệnh nhân bị bệnh hiếm, Megan Crowley. Megan được chẩn đoán bị bệnh Pompe, một bệnh hiếm gặp và nguy hiểm, khi ấy em mới 15 tháng tuổi. Nhiều người nghĩ rằng em không thể sống quá 5 năm tuổi.
Khi biết được tin này, anh John, cha của Megan, đã chiến đấu với tất cả mọi thứ để cứu lấy cuộc sống quý giá của con gái mình. Ông thành lập một công ty để tìm phương cách chữa bệnh, và giúp phát minh ra loại thuốc sau đó cứu sống Megan. Hôm nay Megan đã tròn 20 tuổi - và là sinh viên năm thứ hai tại trường Notre Dame.
Câu chuyện của Megan là về sức mạnh tình cảm vô biên của một người cha với con gái.
Nhưng quá trình phê duyệt chậm chạp và mang nặng tính hành chính của chúng ta tại Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm đã ngâm nhiều phát minh như thế, giống như loại thuốc đã cứu sống Megan, không đến được tay bệnh nhân.
Nếu chúng ta cắt giảm những hạn chế, không chỉ ở FDA nhưng cả trong Chính phủ, rồi thì chúng ta sẽ được ban phước lành với nhiều phép lạ như Megan.
Trong thực tế, con em chúng ta sẽ lớn lên trong một quốc gia của những phép lạ.
Nhưng để đạt được điều này trong tương lai, chúng ta phải làm phong phú thêm tâm hồn của mọi trẻ em Mỹ.
Giáo dục là vấn đề quyền dân sự trong thời đại chúng ta.
Tôi kêu gọi các nghị sĩ của cả hai đảng thông qua dự luật giáo dục sẽ cấp ngân sách cho các trường học có chương trình hỗ trợ cho học sinh với hoàn cảnh khó khăn, trong đó có hàng triệu trẻ em người Mỹ gốc Phi và gốc Châu Mỹ La tinh. Các gia đình được quyền tự do chọn lựa trường học cho con em của mình -- trường công, trường tư, trường nội trú, trường điểm, trường đạo hay ngay cả giáo dục tại nhà.
Tham dự với chúng ta hôm nay tại hội trường này có một phụ nữ đáng chú ý – đó là cô Denisha Merriweather. Ở tuổi thơ ấu Denisha có hoàn cảnh rất khó khăn khi đi học và phải ở lại lớp 3 đến hai lần. Nhưng rồi Denisha đã xin vào học tại một trường tư được trợ cấp bằng học bổng của chương trình tín dụng thuế. Hôn nay, Denisha là người đầu tiên trong gia đình của cô tốt nghiệp – không những trung học mà cả đại học. Trong năm nay Denisha sẽ lấy bằng thạc sĩ ngành công tác xã hội.
Chúng tôi muốn tất cả trẻ em sẽ vượt qua được cái vòng luẩn quẩn của nghèo khổ như trường hợp của cô Denisha.
Nhưng để phá vỡ cái vòng luẩn quẩn nghèo đói đó, chúng ta phải đập tan cái vòng bạo động trước.
Tỉ lệ giết người trong năm 2015 tăng lên đến mức cao nhất trong một năm so trong gần nửa thế kỷ qua.
Tại Chicago, chỉ riêng trong năm qua có hơn 4.000 bị bắn chết, và tỉ lệ giết người tính đến thời điểm này trong năm nay thậm chí còn cao hơn.
Điều này không thể chấp nhận được trong xã hội của chúng ta.
Mỗi đứa trẻ ở Mỹ phải được lớn lên trong một môi trường cộng đồng an toàn, được học hành tại những trường học tốt, và có điều kiện tìm được việc làm lương cao.
Nhưng để xây dựng được tương lai đó cho nước Mỹ, chúng ta phải hợp sức – không phải chống lại – mà hợp sức với các nhân viên thực thi công lực của chúng ta.
Chúng ta phải bắt những nhịp cầu kết nối sự hợp tác và lòng tin – chứ không phải ra sức gây bất hòa và chia rẽ.
Cảnh sát là những người thân trong cộng đồng của chúng ta. Họ là bạn hữu là láng giềng, họ là những người cha, những người mẹ, và là con cái trong cộng đồng – mỗi ngày họ đi làm nhiệm vụ, để lại người thân của họ ở nhà trong nỗi lo lắng không biết họ có an toàn về lại nhà hay không.
Chúng ta phải ủng hộ các nhân viên thực thi công lực tuyệt vời đó.
Chúng ta phải chia sẻ với các nạn nhân của tội phạm.
Tôi đã ra lệnh cho Bộ An ninh Nội địa lập văn phòng chăm lo cho các nạn nhân. Văn phòng đó tên là VOICE – viết tắt của cụm từ Nạn nhân của tội phạm do di dân dây ra. Chúng tôi lên tiếng cho những người bị truyền thông báo chí lãng quên, và bị giới đặc quyền bóp nghẹt tiếng nói.
Tham dự với chúng ta hôm nay tại hội trường này có bốn người Mỹ thật quả cảm bị chính phủ của họ lãng quên.
Đó là bà Jamiel Shaw, Susan Olover, Jenna Olover và Jessica Davis.
Đứa con trai 17 tuổi của Jamiel đã bị một tên côn đồ là di dân bất hợp pháp theo băng đảng tội phạm giết chết một cách dã man, và tên côn đồ đó vừa ra khỏi tù. Jamiel Shaw Jr. là một thanh niên tuyệt vời, có năng lực, đang chuẩn bị bước vào đại học và cũng sẽ là một trung phong tổ chức tấn công (quaterback) xuất sắc của đội bóng bầu dục của trường. Nhưng cậu ấy chẳng bao giờ có được cơ hội ấy nữa. Cha của cậu thanh niên ấy, đang ngồi trong hội trường với chúng ta hôm nay, đã trở thành một người bạn thân của tôi.
Và bà Susan Oliver và Jessica Davis – chồng của họ là cảnh sát Danny Oliver và thám tử Michael Davis – đã bị sát hại khi đang làm nhiệm vụ ở California. Họ là những trụ cột của cộng đồng của họ. Những người can đảm đó đã bị một kẻ nhập cư bất hợp pháp bắn chết. Tên côn đồ đó đã có tiền án hình sự và trước đó đã hai lần có lệnh trục xuất.
Ngồi cạnh bà Susan là cô con gái Jenna. Này Jenna: Con phải hiểu rằng cha của con là một anh hùng, và tối nay con được cả nước Mỹ yêu quý con, ủng hộ con và cầu nguyện cho con.
Với Jamiel, Jenna, Susan và Jessica: tôi muốn quý vị hiểu rằng – chúng tôi sẽ không bao giờ ngừng tranh đấu cho công lý. Người thân yêu của quý vị sẽ không bao giờ bị lãng quên, chúng tôi luôn ghi nhớ và vinh danh họ.
Cuối cùng, để bảo vệ an toàn cho nước Mỹ, chúng ta phải cung cấp cho các quân nhân nam nữ trong quân đội Hoa Kỳ những gì mà họ cần để ngăn chặn chiến tranh – và khi cần – họ phải đánh và thắng.
Tôi sẽ gởi cho Quốc hội dự thảo ngân sách để kiện toàn quân đội, không để cho quốc phòng bị cô lập nữa, và kêu gọi tăng chi tiêu cho quốc phòng lên một mức cao nhất trong lịch sử nước Mỹ.
Dự chi ngân sách của tôi cũng sẽ tăng ngân quỹ cho các cựu chiến binh của chúng ta.
Các cựu chiến binh của chúng ta đã thực thi nghĩa vụ cho đất nước, và bây giờ chúng ta phải làm nghĩa vụ của chúng ta với họ.
Những thách thức và chúng ta đối diện rất lớn. Nhưng người dân Mỹ chúng ta lớn hơn nhiều.
Và không ai vĩ đại và can đảm hơn các quân nhân chiến đấu cho nước Mỹ.
Chúng ta thật may có sự tham dự của bà Carryn Owens, quả phụ của một Biệt kích Hải quân Mỹ, Thượng sĩ William “Ryan” Owens. Ryan đã hy sinh cũng như khi anh còn sống là một chiến sĩ, một anh hùng - anh đã chiến đấu chống khủng bố và bảo vệ tổ quốc của chúng ta.
Tôi vừa trao đổi với Tướng Mattis và được ông xác nhận rằng – tôi xin trích: “Ryan tham gia một cuộc đột kích giành được thắng lợi lớn, thu thập được một lượng lớn thông tin tình báo giúp mang lại nhiều chiến thắng nữa trong cuộc chiến chống kẻ thù của chúng ta trong tương lai.” Di sản của Ryan là bất tử. Như Kinh thánh dạy chúng ta rằng không có tình yêu thương nào lớn hơn sự hy sinh của một con người cho bạn hữu của mình. Ryan đã hy sinh mạng sống của mình cho bạn hữu, cho tổ quốc và cho sự tự do của chúng ta – chúng ta mãi mãi tri ân anh.
Với những đồng minh đang thắc mắc Mỹ sẽ là một người bạn thế nào, hãy nhìn ngay các anh hùng trong sắc phục của Mỹ.
Chính sách ngoại giao của chúng ta sẽ tham gia trực tiếp, mạnh mẽ và có ý nghĩa với thế giới. Sự lãnh đạo của nước Mỹ dựa vào lợi ích an ninh quan trọng của chúng ta và chúng ta chia sẻ lợi ích đó với các đồng minh của chúng ta trên toàn cầu.
Chúng ta mạnh mẽ hậu thuẫn NATO, liên minh gắn kết qua những giềng mối của hai cuộc Thế Chiến hạ bệ chủ nghĩa phát xít và một cuộc Chiến Tranh Lạnh đánh bại Chủ Nghĩa Cộng Sản.
Nhưng các đối tác của chúng ta phải đáp ứng các bổn phận tài chính.
Và giờ đây, từ các cuộc thảo luận rất cương quyết và thẳng thắn của chúng ta, họ đang bắt đầu thực hiện điều đó.
Chúng ta kỳ vọng các đối tác, dù trong NATO, Trung Đông, hay ở Thái Bình Dương, đảm nhiệm vai trò trực tiếp và có ý nghĩa trong các hoạt động cả chiến lược lẫn quân sự, và gánh vác trách nhiệm chi phí của mình.
Chúng ta sẽ tôn trọng các định chế lịch sử, nhưng chúng ta cũng sẽ tôn trọng quyền chủ quyền của các nước.
Các nước tự do là cỗ máy tốt nhất để thể hiện nguyện vọng của người dân - và Hoa Kỳ tôn trọng quyền của tất cả các nước tự vạch đường đi của mình. Nhiệm vụ của tôi không phải là đại diện thế giới. Nhiệm vụ của tôi là đại diện Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Nhưng chúng ta hiểu rằng sẽ tốt hơn cho nước Mỹ rất nhiều một khi xung đột giảm đi, thay vì tăng lên.
Chúng ta phải học hỏi từ sai lầm trong quá khứ - chúng ta đã nhìn thấy chiến tranh và sự tàn phá giày xéo trên khắp thế giới.
Giải pháp lâu dài duy nhất cho các thảm họa nhân đạo này là tạo ra các điều kiện để những người bị thất tán có thể trở về nhà an toàn và bắt đầu tiến trình tái thiết.
Nước Mỹ sẵn lòng tìm kiếm những người bạn mới và đón nhận các đối tác mới, nơi các lợi ích chung sẽ song hành. Chúng ta muốn yên bình và ổn định, chứ không phải là chiến tranh và xung đột.
Chúng ta muốn hòa bình, ở bất cứ nơi nào mà hòa bình có thể được tìm thấy. Nước Mỹ hôm nay đã là bạn của các cựu thù trước đây. Một số đồng minh thân cận nhất của chúng ta, nhiều thập niên trước, từng ở phe bên kia trong các cuộc Thế Chiến. Lịch sử đó mang lại cho chúng ta niềm tin về khả năng của một thế giới tốt đẹp hơn.
Hy vọng rằng khi nước Mỹ tròn 250 năm tuổi, chúng ta sẽ nhìn thấy một thế giới an bình hơn, công bằng và tự do hơn.
Trong dịp kỷ niệm sinh nhật lần thứ 100 của đất nước chúng ta, năm 1876, mọi người trên cả nước đổ về Philadelphia để kỷ niệm 1 thế kỷ nước Mỹ đã trải qua. Dịp đó, các nhà xây dựng, các nhà phát minh và các nghệ sĩ đã phô diễn những sáng tạo của mình.
Alexander Graham Bell trình làng phát minh điện thoại.
Remington giới thiệu chiếc máy đánh chữ đầu tiên.
Nỗ lực phát minh ra bóng đèn điện đã sớm được thực hiện.
Thomas Edison ra mắt chiếc máy điện tín tự động và cây bút điện tử.
Hãy tưởng tượng những điều kỳ diệu mà đất nước chúng ta sẽ biết đến vào dịp kỷ niệm sinh nhật lần thứ 250.
Hãy nghĩ về những thành tựu tuyệt vời mà chúng ta có thể đạt được nếu chúng ta để cho ước mơ của người dân được bay bổng.
Chữa trị được các chứng bệnh hoành hành nhân loại không phải là hy vọng quá đáng.
Ghi dấu chân người Mỹ trên những thế giới xa xôi không phải là mơ ước quá tầm.
Hàng triệu người rời khỏi các chương trình trợ cấp để làm việc không phải là một kỳ vọng quá lớn.
Các bà mẹ an toàn không phải sợ hãi trên các ngõ phố, các trẻ em được yên bình trên giảng đường, và các công ăn việc làm để người Mỹ thịnh vượng và phát triển không phải là những đòi hỏi quá tay.
Đạt được tất cả những điều đó là chúng ta đã làm cho nước Mỹ lại vĩ đại hơn bao giờ hết. Cho tất cả người dân Mỹ.
Đó là tầm nhìn của chúng ta. Đó là sứ mạng của chúng ta.
Nhưng chúng ta chỉ có thể đến đích cùng nhau.
Chúng ta là một dân tộc, một vận mệnh.
Chúng ta cùng chung dòng máu.
Chúng ta chào cùng một quốc kỳ.
Và tất cả chúng ta đều do cùng một Thượng Đế tạo ra.
Khi chúng ta đạt thành tầm nhìn đó; khi chúng ta kỷ niệm 250 năm tự do vinh quang, chúng ta sẽ nhìn lại đêm nay lúc một chương mới của nước Mỹ vĩ đại được bắt đầu.
Lúc này không còn chỗ cho những suy nghĩ hạn hẹp. Thời đại của những đấu đá vớ vẫn đã lùi về phía sau.
Chúng ta chỉ cần lòng can đảm để chia sẻ những ước mơ chan chứa trong tim.
Sự quả cảm để thể hiện những hy vọng cháy bỏng trong lòng.
Sự tự tin để biến những ước mơ và hy vọng đó thành hành động.
Kể từ nay, nước Mỹ sẽ được tiếp sức mạnh bởi những khát khao, chứ không phải bị đè nặng bởi những lo sợ - được khơi dậy bởi tương lai, chứ không phải bị ràng buộc bởi những thất bại trong quá khứ - và được mở lối bởi tầm nhìn của chúng ta, chứ không phải bị che khuất bởi những nghi kỵ.
Tôi kêu gọi tất cả mọi người hãy nắm bắt sự Tái Sinh của Tinh Thần Nước Mỹ. Tôi yêu cầu tất cả thành viên trong Quốc Hội cùng tôi mơ ước những điều lớn lao, mạnh mẽ, và táo bạo cho đất nước của chúng ta. Tôi kêu gọi mọi người đang theo dõi bài diễn thuyết đêm nay nắm bắt thời khắc này và -
Tin vào bản thân mình.
Tin vào tương lai mình.
Và một lần nữa, tin vào nước Mỹ.
Cảm ơn quý vị, cầu xin Thượng Đế ban phúc lành cho quý vị, và cầu xin Thượng Đế ban phúc lành cho nước Mỹ.
Nhà Trắng, 28/2/2017

Thứ Tư, 1 tháng 3, 2017

Vài kỷ niệm của một cựu sinh viên trường thuốc Hà Nội, B.s. Nguyễn Lưu Viên

Lời nói đầu:
Tôi bước chân vào Trường Thuốc Hà Nội cách nay đã hơn nửa thế kỷ cho nên những kỷ niệm của tôi với trường này là những " chuyện đời xưa " mà tôi muốn kể lại đây để cho :
- các bạn già nhớ lại mà cười chơi cho vui.
- và các bạn trẻ biết tới mà cười chơi cho vui.
Tôi xin nói rõ là các chuyện nầy " có thật mười mươi " mặc dù một vài chuyện có vẻ hoang đường bịa đặt, nhưng ... " parfois la réalité dépasse la fiction ".

N.L.V.
[ Phần 1 ]  -  [ Phần 2 ] -  [ Phần 3 ] -  [ Phần 4 ] 
Hồi xưa dưới thời Pháp thuộc toàn cõi Đông Dương ( gồm có Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ, Cao Miên, Ai Lao) chỉ có một trường thuốc đặt tại Hà Nội với một tên chính thức dài thòng là:" Ecole de Médecine et de Pharmacie de Plein Exercice de l'Indochine " , nói tắt là Ecole de Médecine de Hanoi (Trường thuốc Hà Nội ) có một ông giám đốc (directeur) điều khiển. Trường nầy được trường Y Khoa Đại học Paris (Faculté de Médecine de Paris) đỡ đầu nên Paris gởi qua một giáo sư để làm giám đốc trường và hằng năm gởi qua Hà Nội một giáo sư để chủ tọa cuộc thi ra trường, trình luận án và tuyên thệ Hippocrate cho các tân khoa bác sĩ Việt Nam. Vị giáo sư cuối cùng được Paris cử qua Hà Nội là giáo sư Pasteur Valéry Radot, một danh sư của Y Khoa Đại học Paris và là cháu ngoại của nhà thông thái Louis Pasteur.
Đến năm 1940, sau khi Pháp thua trong Đệ nhị Thế chiến và bị Đức Quốc Xã chiếm đóng, sự liên lạc giữa Đông Dương và " mẫu quốc " Pháp không còn dễ dàng nữa thì Trường Thuốc Hà Nội được tự trị với tên chính thức là " Faculté Mixte de Médecine et de Pharmacie de Hanoi ( Y khoa Đại học Hà Nội ) và ông giám đốc trường thuốc được đổi danh xưng là Khoa trưởng Y khoa ( Doyen de la Faculté de Médecine ).
Từ khi tôi bước chân vào trường ấy ( 1938 ) cho đến khi ra trường ấy với danh hiệu trên không còn nữa (9-3-1945), ông giám đốc trường thuốc rồi khoa trưởng y khoa cũng đều là ông Henri Gaillard, một giáo sư chuyên về môn ký sinh trùng học (parasitologie) của Paris gởi qua để điều khiển trường.
Thầy Gaillard rất là " parisien " lúc nào cũng ăn mặc diêm dúa, ăn nói văn hoa. Ngoài việc điều khiển trường về mặt hành chánh ( lúc ấy sinh viên có việc về hành chánh thì liên lạc với ông Sành ), Thầy còn dạy hai môn là Ký sinh trùng học (Parasitologie) và Vi trùng học (Bactériologie) cho sinh viên năm thứ 3 có anh Bửu Lư rồi anh Lê Khắc Quyến (sau nầy là khoa trưởng Y khoa Huế) giúp. Cạnh văn phòng hành chánh của Thầy ở trên lầu I của Trường còn có một phòng thí nghiệm ký sinh trùng (Lab. of Parasito) trong đó Thầy nuôi đủ loại muỗi truyền bệnh sốt rét (malaria). Để nuôi (cho ăn) các muỗi ấy Thầy có mướn một người lao công hằng ngày mấy lần thọc tay vào mỗi lồng muỗi để cho muỗi " đốt " cho đến khi no.
Thường thường cours của Thầy bắt đầu vào lúc 1 giờ rưỡi trưa (1:30 pm) tức là giờ ngủ trưa ở Việt Nam, mà đề tài ký sinh trùng không có gì hấp dẫn, giọng của Thầy giảng bài lại đều ru ru, rất êm tai, nên ... thỉnh thoảng nghe Thầy đập gậy lên bàn một cái và hét : " Mais réveillez-vous, voyons " , thì biết cả lớp đã ngủ gục.
Đặc biệt với Thầy là cuối năm đi thi, Thầy hỏi nhiều câu không biết đâu mà rờ. Thí dụ :
Có một năm Thầy hỏi anh Hoàng ( bác sĩ Hoàng là anh của ông Lộc, sau này là Thủ rướng VNCH hồi ĐNCH) như sau:
Hỏi: Quel est l'animal le plus dangereux que vous connaissez ? (Anh biết con thú nào là nguy hiểm nhứt ? )
Trả lời : Le tigre, monsieur. (Thưa Thầy, là con cọp)
-: Non, plus petit que ça (Không, nhỏ hơn thế)
-: La panthère, monsieur (Thưa Thầy là con beo)
-: Non, beaucoup plus petit; un tout petit animal ( Không, nhỏ hơn nhiều, một con vật nhỏ xíu hè)
-: Le serpent, monsieur (Thưa Thầy, là con rắn)
-: Mais non, je dis un animal à quatre pattes non pas un serpent (Không mà, tôi nói một con thú 4 chân chớ không phải con rắn).
Dần dần thì là ... con chuột; vì thầy muốn hỏi lối truyền nhiễm của bệnh dịch hạch (peste,plague). Mà hỏi như vậy đó.

Với tôi thì Thầy hỏi : Qu'est-ce que vous sentez quand un serpent vous pique ? (Khi anh bị rắn cắn thì anh thấy cái gì ?)
Trả lời : Une douleur, monsieur (Thưa Thầy, tôi thấy đau)
Thầy đưa hai tay lên, nói một cách chán nản: Mon Dieu, vous vivez dans un pays infesté de serpents, vous ne pouvez pas faire un pas sans risquer de rencontrer un serpent et vous ne savez pas ce que vous sentez quand un serpent vous pique (Trời ơi, anh sống trong một xứ đầy là rắn; bước đi một bước là có thể gặp rắn mà anh không biết anh thấy cái gì khi bị rắn cắn sao ?)
Rốt cuộc là Thầy muốn mình phân biệt hai loại nọc rắn độc: một loại thuộc loại rắn lục (Pit viper venon) có tác dụng vào máu, và một loại thuộc rắn hổ (cobra venon) có tác dụng vào thần kinh. Mà hỏi như vậy đó. Nhưng thầy không ác, rất " fair " hỏi dần dần để đưa mình đến chỗ Thầy muốn, rồi nếu nói được thì cho đậu.

Câu chuyện bên lề một :
Lúc ấy vào niên khóa 1942-1943 thì phải, một hôm đang theo thầy Massias làm round ở Khu nội thương của Bệnh viện Bạch Mai, thì thấy khoa trưởng Gaillard đến (một chuyện lạ ít khi có). Cùng đi với Thầy có một người Việt Nam tuổi độ sáu mươi, lùn lùn, có vẻ sang trọng, ăn mặc chỉnh tề. Khi đến gần nhóm sinh viên thì Thầy Gaillard nói "Voici Dr. Thinh de Sai Gòn; il était déjà interne quand j'étais encore stagiaire " (Đây là bác sĩ Thinh ở Sài Gòn; ông nầy khi trước đã là nội trú khi tôi còn là sinh viên tập sự). Nghe như vậy bọn sinh viên nể quá, kính cẩn chào; bác sĩ Thinh không nói gì hết, cười cười, cúi đầu chào lại, có vẻ rất hiền hậu. Thầy Massias trong buồng bệnh nhân đi ra, ba người chào hỏi nhau, rồi kéo nhau lên văn phòng.
Đây là lần đầu tiên, tôi được gặp bác sĩ Thinh, một đồng nghiệp đàn anh danh tiếng ở miền Nam và cũng là bố của chị Irène Thinh, đầm lai, cao lớn hơn bố, khá đẹp, đang học Dược.
Về sau lối năm 1946, chính bác sĩ Thinh đây sẽ là Thủ tướng của Nam kỳ cuốc " Cộng hòa Cố chân chiên " (République de Cochinchine); và sau khi nhận thấy mình đã bị Pháp lừa và lợi dụng, ông đã tự tử bằng cách thắt cổ với một sợi giây điện, trên bàn viết gần đó có quyển sách thuốc còn mở ra ở trang nói về " Thắt cổ " (Pendaison). Nên để ý rằng ông là một bác sĩ mà không dùng độc dược để tự tử cho êm, mà lại dùng dây để thắt cổ như người " tay ngang " (có nhiều ý nghĩa); trước đó còn có can đảm và bình tĩnh để đọc lại sách thuốc xem cái gì sẽ xảy ra cho thân thế mình. Thương hại cho một đồng nghiệp đàn anh lỗi lạc (thời ấy Annamite-Indigène mà đậu được Interne des Hôpitaux de Paris không phải là vừa) thật thà ra làm chánh trị, bị lường gạt và lợi dụng đến nỗi phải quyên sinh. Không biết chị Irène về sau ra sao.
Câu chuyện bên lề hai:
Thầy Gaillard có một " cô mèo " Việt Nam trẻ và đẹp tên là cô Lý. Thầy thuê cho một căn nhà ở đường Duvigneau gần Nhà Diêm (Société Indochinoise des Allumettes) trong xóm có nhiều sinh viên Nam kỳ. Thì ... quả y như rằng ... cô Lý có một " cậu mèo " tên là anh Tấn, người Nam, con nhà giàu, quê ở Rạch Giá, đang học Luật. Mỗi khi thầy đến thăm " mèo " (thường cô Lý được báo tin trước để ... " chuẩn bị ") thì anh Tấn tạm " tản cư " qua nhà bên cạnh. Một hôm chắc Thầy " cao hứng lắm " nên đến bất thình lình mà không có báo trước nên ... đụng đầu. Anh Tấn kể chuyện lại như sau: " Tao đang nằm trong phòng, nghe tiếng xe hơi đậu lại; tao chồm lên nhìn qua cửa sổ thì thấy ổng đã xuống xe rồi; tao sợ quá vội vàng ôm đồ chạy; ra đến cửa thì gặp ổng bước vào. Thấy tao ổng hơi ngạc nhiên nhưng bình tĩnh nói : " Bonjour jeune homme ". Tao cũng cúi đầu chào " Bonjour monsieur " rồi chuồn luôn ". Tụi nầy nghe chuyện cười quá.
Về sau, sau khi Việt Nam độc lập thì Thầy Gaillard về Pháp được phục hồi nguyên chức vị cũ là giáo sư Y khoa Đại học Paris, và không biết Thầy mất lúc nào.
Còn cô Lý thì hình như được Quốc trưởng chiếu cố nên vẫn sống phây phây trên nhung lụa ở Đà Lạt.
Chỉ có anh Tấn thì tội nghiệp không đỗ đạt gì hết; đến năm 1961 thì tôi có gặp lần cuối cùng lang thang ở Sài Gòn, nghèo, đói, xì ke. Còn đâu thời oanh liệt của một sinh viên trường Luật mà " chim" được " mèo " của ông khoa trưởng Trường Thuốc !
Tái bút :
Tôi không rõ Trường Thuốc Hà Nội thành lập năm nào, chỉ thấy trong quyển sách " Việt Nam Pháp Thuộc Sử 1884-1945" , tác giả Phan Khoang, 1961, ở trang 441, có đoạn nguyên văn như sau: "Trường đại học ra đời thời Toàn quyền Paul Beau (1897-1902) bị Toàn quyền Klobukowski (1902-1908) bãi bỏ, được Toàn quyền Albert Sarraut (1911-1919) tổ chức lại năm 1918, thật ra chỉ gồm những trường chuyên môn đào tạo một hạng công chức phụ tá người Pháp trong các công sở. Trường Cao đẳng Y Dược mở trước hết, sau thêm trường Cao đẳng Sư phạm, Công chánh, Canh nông, Thú y, Thương mãi, Cao đẳng mỹ thuật. Và, như cụ Phan Khoang nói, lúc ban đầu Trường Thuốc Hà Nội chỉ đào tạo ra y sĩ Đông Dương (Médecins Indochinois) theo một chương trình học 4 (hay 3 ?) năm, để thành những công chức phụ tá cho các bác sĩ y khoa Pháp trong các bệnh viện ở Đông Dương.
Rồi về sau trường nầy mới đào tạo ra y khoa bác sĩ (docteur en médecine) với chương trình học 7 năm và luận án, tôi không biết kể từ năm nào, chỉ thấy trong quyển sách " Danh sách Y sĩ Việt Nam 1989 " của hội Quốc Tế Y Sĩ Việt Nam Tự Do xuất bản ở Montréal, Canada ở trang 114, có ghi hồi năm 1935 (là năm xa nhứt có được tài liệu), có 12 luận án y khoa.
Những chuyện tôi kể ở đây là những chuyện ở Trường Thuốc Hà Nội từ 1938 đến 1945.
Đến năm 1945, sau khi quân đội Nhật Bổn đảo chính Pháp ở Đông Dương đêm thứ sáu 9-3, thì Trường Y Dược khoa và Đại học đóng cửa.
Ông khoa trưởng và các giáo sư phải chịu cùng một số phận với các Pháp kiều khác là bị Nhựt bổn bắt nhốt làm tù binh.
Độ hai tháng sau (lối tháng 5-1945) dưới thời Đế quốc Việt Nam với Hoàng đế Bảo Đại và Thủ tướng Trần Trọng kim, thì Trường Y Dược khoa mở cửa lại với cụ Hồ Đắc Di làm khoa trưởng, và tiếp tục luôn như thế dưới thời Việt Minh, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Hoạt động được hơn một năm, thì đến ngày 19-19-1946, toàn dân kháng chiến chống Pháp giành độc lập, thì cụ Hồ Đắc Di và Trường cũng như mọi cơ sở khác phải di tản ra chiến khu (Việt Trì, Phú Thọ, Thái Nguyên, Bắc Kạn. (Lần sau cùng tôi gặp cụ Di là ở Bắc Kạn vào mùa thu năm 1947).
Trong lúc đó thì Pháp đã trở lại Hà Nội, và năm 1947 thì Trường Y Dược khoa Hà Nội hoạt động trở lại và được chia ra làm hai cơ sở: một ở Hà Nội (được gọi là section de Hanoi) với Thầy Huard làm khoa trưởng và một ở Sài Gòn (được gọi là section de Saigon) với Thầy Massias làm khoa trưởng.
Ở Sài Gòn, trường Y Dược khoa được đặt tại một tư thất (villa) ở đường Testard (sau đổi tên là đường Trần Quí Cáp). Tư thất nầy khi trước là của chị bác sĩ Henriette Bùi (con của cụ Bùi Quang Chiểu, một chính trị gia có tiếng ở miền Nam).
Nên để ý rằng lúc ấy trường Thuốc Sài Gòn không có tên là Faculté de Médecine de Saigon mà có tên chính thức là Faculté Mixte de Médecine et de Pharmacie de Hanoi (Section de Saigon) làm cũng như thể là các thầy Pháp có linh cảm trước (trước 28 năm) rằng Hà Nội sẽ chi phối Sài Gòn ?)
Sau đó dưới thời Đệ nhứt Cộng Hòa (vào thập niên 60) nhờ sự viện trợ của Mỹ, một trường Y khoa Đại học nguy nga được xây cất trong vùng Chợ Lớn như chúng ta đã biết ... và đã phải vĩnh biệt.
B.s. Nguyễn Lưu Viên
tháng 9-1990