Thứ Sáu, 6 tháng 9, 2019

Những bài học thuộc lòng một thuở

Dân miền Nam, ở lứa tuổi xấp xỉ hàng sáu như chúng tôi, cứ mỗi lần bạn bè tụ họp trà dư tửu hậu thì thường trao đổi với nhau về đủ thứ chuyện trên đời. Nếu có ôn lại quãng đời đi học xa xưa, thì lại thường hay nhắc đến thầy, bạn cũ…, với những kỷ niệm khó quên của tuổi học trò. Chúng tôi còn nhắc lại đến cả những bài tập đọc, học thuộc lòng đã được học cách nay chừng bốn, năm mươi năm về trước...
Thậm chí, có người còn thuộc hết cả một bài học thuộc lòng dài, đọc ron rót từ đầu đến cuối, như bài “Tình nhân loại”, được học vào khoảng những năm cuối thập niên 50 của thế kỷ trước:

Tình nhân loại

Sau một trận giao tranh ác liệt,
Giữa sa trường xác chết ngổn ngang.
Có hai chiến sĩ bị thương,
Hai người hai nước hiện đương nghịch thù.
Họ đau đớn khừ khừ rên siết,
Vận sức tàn cố lết gần nhau.
Phều phào gắng nói vài câu,
Lời tuy không hiểu, hiểu nhau nỗi lòng:
Họ hai kẻ không cùng Tổ quốc,
Nhưng đã cùng vì nước hy sinh.
Cả hai ôm ấp mối tình,
Yêu thương đất nước, gia đình, quê hương.
Đêm dần xuống, chiến trường sương phủ,
Một thương binh hơi thở yếu dần.
Trước khi nhắm mắt từ trần,
Xót thương người bạn tấm thân lạnh lùng.
Anh cởi áo đắp trùm lên bạn,
Rồi tắt hơi! thê thảm làm sao!
Cho hay khác nghĩa đồng bào,
Nhưng tình nhân loại còn cao hơn nhiều!
   
Đặng Duy Chiểu

    (Quốc văn mới)

Nghe xong bài này ai cũng kính nể trí nhớ tốt của người bạn, và đều tấm tắc khen hay. Tuy nhiên, hỏi tác giả của những bài học thuộc lòng cảm động và lý thú như trên thì không ai còn nhớ, chỉ biết lờ mờ nó nằm đâu đó trong những sách Quốc văn mà mình đã từng học qua hồi tiểu học.

Qua câu chuyện trà dư tửu hậu, tôi sực nghĩ những bài học thuộc lòng như thế, nằm rải rác trong các sách Quốc văn tiểu học giai đoạn 60-70 của thế kỷ trước, thuộc thế hệ tiếp sau Quốc văn giáo khoa thư của nhóm Trần Trọng Kim-Đỗ Thận... biên soạn (dạy trong những năm 40-50 mà gần đây Nxb Trẻ và vài nhà xuất bản khác có in lại), dường như là một kho tàng quý báu đang bị bỏ quên, chứ không đơn giản như người ta thường có thể tưởng. Nếu nay thu thập lại, chắc sẽ tìm thấy trong đó nhiều điều vẫn còn hứng thú và bổ ích, nhất là về phương pháp sư phạm, gắn với việc đào tạo con người toàn diện cả về đức lẫn tài.

Nghĩ vậy rồi, tôi nhắn nhe tìm tòi khắp nơi, gọi điện cho những bạn cùng trang lứa hoặc già hơn mà có quan tâm chuyện sách vở, để tìm lại cho được những cuốn Quốc văn tiểu học của một thời, nhưng kết quả gần như là một sự thất vọng. Thử tra tìm trên thư mục (phần lớn đã được số hóa đưa lên mạng internet) của một số thư viện lớn (như Thư viện Quốc gia Hà Nội, Thư viện Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, Thư viện Khoa học xã hội TP Hồ Chí Minh, Thư viện Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn TP Hồ Chí Minh, Thư viện Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh...), cũng không thấy. Cuối cùng, nhờ kiên nhẫn lục tìm lai rai trong các hiệu sách cũ ở Sài Gòn, trong tay tôi hiện chỉ vỏn vẹn có được chừng 10 quyển lớn nhỏ đủ cỡ, từ lớp Năm (tương đương lớp 1 bây giờ) đến lớp Nhất (tức lớp 5), của một số soạn giả quen thuộc như Hà Mai Anh, Nguyễn Hữu Bảng, Bùi Văn Bảo, Đặng Duy Chiểu, Thềm Văn Đắt, Cao Văn Thái..., nhưng hầu hết đều đã rách bìa, mất từ vài trang đến vài chục trang ở đầu hoặc ở cuối sách. Chỉ còn được 3 quyển nguyên vẹn nhưng chưa được vừa ý lắm, vì lẻ mẻ không đủ bộ. May sao, trong Thư viện Khoa học xã hội TP Hồ Chí Minh (tiền thân là thư viện của Viện Khảo cổ Sài Gòn) hiện vẫn còn lưu trữ tương đối đủ bộ Tiểu học nguyệt san (từ năm 1957 đến năm 1963) do Bộ Quốc gia Giáo dục Sài Gòn chủ biên để cung cấp tài liệu giảng dạy cho giáo viên bậc tiểu học, mà trong đó có sưu tập và chép lại khá đầy đủ những bài tập đọc, học thuộc lòng..., tương tự như những bài đã có trong các sách Quốc văn tiểu học của thời đó.     
Như chúng ta đều biết, sau Hiệp định Genève năm 1954, đất nước tạm thời chia đôi ở vĩ tuyến 17, thành hai miền Nam, Bắc. Miền Bắc, qua 2 lần cải cách giáo dục vào các năm 1950 và 1956, đã xây dựng một nền giáo dục kết hợp chuyên môn với chính trị (vừa hồng vừa chuyên), lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng, định hướng giáo dục vào hai mục tiêu: chuẩn bị tiến lên CNXH và xây dựng miền Bắc thành hậu phương vững mạnh chi viện cho công cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam. Trong khi đó, miền Nam, trong giai đoạn 1955-1963, chỉ thực hiện cải cách giáo dục theo hướng cải lương chủ nghĩa, bằng cách kế thừa và phát huy những truyền thống, lề lối và nội dung đã có trong chương trình giáo dục Việt Nam cũ ban hành năm 1945 mà ta quen gọi là chương trình Hoàng Xuân Hãn (vì do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Mỹ thuật Hoàng Xuân Hãn chủ trì biên soạn).

Năm 1958, dưới thời Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Trần Hữu Thế, Đại hội Giáo dục Quốc gia (lần I) nhóm họp tại Sài Gòn, đã định hướng triết lý giáo dục dựa trên ba nguyên tắc căn bản: nhân bản, dân tộc và khai phóng. Ba nguyên tắc này đã trở thành nền tảng cho triết lý giáo dục, được ghi cụ thể trong tập tài liệu Những nguyên tắc căn bản do Bộ Quốc gia Giáo dục Sài Gòn ấn hành năm 1959 và sau đó trong Hiến pháp 1967. Chương trình môn Quốc văn cấp tiểu học vì thế có thể nói vẫn lấy những nội dung giáo dục thiên về đạo đức chứa đựng trong bộ sách Quốc văn giáo khoa thư và Luân lý giáo khoa thư của nhóm Trần Trọng Kim biên soạn làm cơ sở rồi cải cách, thêm bớt một số nội dung mới cho phù hợp với hoàn cảnh và thời đại lúc đó.

Tinh thần chung của nền học vấn miền Nam lúc bấy giờ là phải học lễ trước rồi mới học văn sau, tức coi việc rèn luyện đức-trí là quan trọng như nhau, nhưng đức phải đi trước một bước, nên trường học nào vào thời đó cũng có câu khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn” treo ở những vị trí quan trọng dễ thấy nhất và trong mỗi phòng học. Tinh thần trọng lễ nhờ thế không chỉ bàng bạc, quán xuyến trong tâm tưởng, đầu óc của mọi giáo chức từ tiểu học đến đại học, mà còn lan tỏa rộng khắp vào trong mọi giai tầng xã hội, tạo thành một phong khí học tập-ứng xử chú trọng rèn luyện cả đức lẫn tài để chuẩn bị điều kiện đầy đủ cho thế hệ tương lai trở thành những con người hữu dụng đối với bản thân, gia đình và xã hội.

Cho nên có thể nói, nội dung đạo đức hàm chứa trong các sách Quốc văn tiểu học thời kỳ này ở miền Nam là vẫn duy trì nhưng có phát huy thêm và cải biên từ những bộ sách giáo khoa cũ thế hệ 1940, khá đúng với tinh thần đã được ghi trong câu nói của Khổng Tử mà cụ Trần Trọng Kim đã trích dẫn để in lên đầu quyển Sơ học luân lý (1914, có tài liệu nói 1919), vốn là cơ sở chỉ đạo tư tưởng của nền giáo dục cũ và sách giáo khoa môn Văn thời trước: “Người học trò ở trong nhà thì hiếu với cha mẹ, ra ngoài thì kính nhường kẻ bề trên, làm việc gì thì cẩn thận, nói điều gì thì tín, rộng lòng thương người mà lại thân với kẻ có nhân. Hễ làm được những điều ấy rồi, mà còn thừa sức thì hãy học văn chương xảo kỹ” [Luận ngữ, thiên “Học nhi” đệ nhất], (xem Sơ học luân lý, Nxb Tân Việt, in lần thứ 2, 1950).
***                     
                                                                                                        

Về sách giáo khoa Quốc văn tiểu học, để phục vụ cho những mục tiêu như trên, thông thường các giáo chức lớp trước ở miền Nam khi biên soạn thì soạn luôn nguyên cả bộ từ lớp Năm (lớp 1) đến lớp Nhất (lớp 5), và ở trang bìa giả sách thường có đề câu “Soạn theo chương trình hiện hành của Bộ Quốc gia Giáo dục”, hoặc thậm chí còn nêu rõ hơn: “Soạn đúng chương trình tiểu học đã sửa đổi do Nghị định số... ngày... của Bộ Quốc gia Giáo dục”. Sách của họ thường mang những tên khác nhau như Việt văn toàn thư, Quốc văn toàn thư, Quốc văn toàn tập, Tiểu học quốc văn, Quốc văn mới, Quốc văn bộ mới, Quốc văn độc bản, Việt văn khóa bản, Việt văn tân khóa bản, Tân Việt văn, Việt ngữ, Việt ngữ độc bản, Việt ngữ bộ mới... Chuyên xuất bản loại sách này, được biết có một số nhà xuất bản (hoặc nhà in) nổi tiếng như Nam Hưng ấn quán, Sống Mới, Nam Sơn, Việt Hương, Cành Hồng...

Thời đó, khi trích giảng các bài thơ để làm bài học thuộc lòng, các nhà biên soạn sách tiểu học dường như không mấy chú trọng việc ghi tên tác giả, nên họ thường chỉ ghi sơ sài tên người sáng tác, một đôi khi mới ghi thêm xuất xứ cho biết trích dẫn từ sách báo nào. Một số trường hợp chỉ ghi tượng trưng X., XXX., H.H., không rõ bút hiệu hoặc tên thật là gì. Cũng không phân biệt tác giả những bài thơ là người đang sống và phục vụ trong chế độ nào, mà hễ thấy hay, bổ ích là chọn.

Theo chỗ chúng tôi được biết, ngoài những bài trích dẫn tác phẩm của một số nhà văn-nhà thơ cổ điển hoặc hiện đại đã nổi tiếng (như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Chu Mạnh Trinh, Tản Đà, Nguyễn Văn Vĩnh, Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc, Á Nam Trần Tuấn Khải, Nguyễn Nhược Pháp, Vũ Hoàng Chương, Kiên Giang, Tế Hanh, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ, Bàng Bá Lân...), một số soạn giả sách giáo khoa đã tự mình sáng tác luôn những bài thơ theo chủ đề giảng dạy để làm bài học thuộc lòng, như trường hợp nhà giáo Bùi Văn Bảo với bút hiệu Bảo Vân thường thấy xuất hiện trong những sách giáo khoa Việt văn tiểu học do ông biên soạn. Một vài tác giả  khác, như Kình Dương, Chiêu Đăng, Như Tuyết, Thy Thy, Đề Quyên... dường như cũng gốc thầy cô giáo, chuyên sáng tác thơ cho bài học thuộc lòng. Phần còn lại là thơ của một số người làm thơ nghiệp dư, có bài đăng rải rác đâu đó trên một số báo, tạp chí đương thời, được các nhà biên soạn sách giáo khoa chọn đưa vào sách của mình.    

Chỉ cần tôn trọng chương trình và lời hướng dẫn do Bộ Giáo dục vạch ra một cách tổng quát, các tác giả sách giáo khoa được tự do chọn bài để đưa vào sách, và giáo viên đứng lớp cũng có quyền chọn quyển sách giáo khoa nào mình ưa thích để giảng dạy. Nhờ vậy, nội dung sách giáo khoa phong phú, tuy vẫn có những nét chung nhưng mỗi người một vẻ, và trong điều kiện được tự do như thế, các giáo chức soạn sách cũng cố thi đua cạnh tranh nhau một cách tự giác để soạn ra những sách giáo khoa được nhiều người vừa ý, chấp nhận. Phần thưởng xứng đáng của họ là sách được nhiều người tin dùng, chứ không phải những mảnh bằng khen của nhà nước.

Bộ Giáo dục chỉ khuyến cáo các giáo viên bằng lời chỉ dẫn chung, như về Việt ngữ thì có nêu rõ: “Trong lúc dạy Việt ngữ, giáo chức nên nhớ rằng chương trình ấy không phải đứng tách hẳn chương trình của các môn học khác như đức dục, công dân giáo dục, sử ký, địa lý v.v... mà phải cố tìm cách cho chương trình các môn học ấy và khoa Việt ngữ có liên lạc với nhau (...). Đặc biệt chú ý về Việt ngữ: nên nhẹ về phần tầm chương trích cú, nghệ thuật vị nghệ thuật, và phải chú ý đề cao vấn đề nghệ thuật vị nhân sinh (phục vụ cho đạo đức con người, cho hạnh phúc gia đình, cho an ninh xã hội, cho độc lập, tự do)”.
Chương trình Việt ngữ tiểu học thời đó, thông thường gồm các phân môn sau:

- Ngữ vựng;

- Tập đọc và Học thuộc lòng;

- Chính tả, Văn phạm (chỉ dạy ở lớp Nhì và lớp Nhất, tức lớp 4 và lớp 5), Tập viết;

- Tập làm văn (chỉ không dạy ở lớp Năm tức lớp 1).

Môn Quốc văn rất được coi trọng, chẳng hạn lớp Năm (đến năm 1967 đổi gọi là lớp 1, tương đương với lớp 1 bây giờ), mỗi tuần học 25 giờ, trong đó đã có tới 9 giờ rưỡi dành cho môn này. Riêng về phân môn Học thuộc lòng, mỗi tuần học sinh từ lớp Năm (lớp 1) đến lớp Nhất (lớp 5) đều có bài học.

Chủ đề (hay chủ điểm) các bài Học thuộc lòng luôn đi theo chủ đề của các bài Tập đọc. Về tiêu chuẩn lựa chọn thì tuy có sự khác nhau chút ít tùy soạn giả hoặc tùy cấp lớp nhưng đều có thể hiểu đại khái: “Về bài Tập đọc và Học thuộc lòng, bài soạn nào cũng đi sát với chương trình cùng trình độ của học sinh theo những chủ điểm có liên quan tới nhiều môn khác” (Thềm Văn Đắt-Huỳnh Hữu Thanh, Việt ngữ bộ mới lớp Nhứt, “Lời nói đầu”, Nxb Nam Sơn, in lần thứ 6). Hoặc: “Về học thuộc lòng, chúng tôi chú trọng lựa chọn những bài văn vần có tính cách kích thích lòng yêu nước và tinh thần tranh đấu của nhân dân” (Đặng Duy Chiểu và một nhóm giáo viên, Quốc văn toàn thư lớp Nhì, “Lời nói đầu”, Nxb Sống Mới, 1959). Có soạn giả còn nêu rõ hơn: “Về văn vần dùng làm các bài Học thuộc lòng, chúng tôi đã hợp tác cùng một số thi sĩ để soạn riêng những vần thơ trong sáng, dễ hiểu, giàu nhạc điệu cho thích hợp với các em hơn” (Bùi Văn Bảo, Tân Việt văn lớp Năm (lớp Nhứt cũ), “Lời nói đầu”, Nxb Sống Mới, 1971)...

Khảo sát một số sách giáo khoa cũ còn tìm được, cũng như bộ Tiểu học nguyệt san do Bộ Giáo dục thời đó ấn hành, chúng ta thấy về hình thức, hầu hết chúng đều là những bài thơ lục bát, song thất lục bát hoặc thơ mới (với mỗi câu 8 chữ, 7 chữ, hoặc số chữ trong các câu không đều nhau), ít khi có thơ luật (với niêm luật chặt chẽ kiểu Đường luật), trừ một vài bài trích dẫn từ thơ cổ của người xưa như của Tản Đà, Nguyễn Khuyến...

Dân tộc Việt Nam sính thơ, có truyền thống về khối ca dao khổng lồ và thơ lục bát, nên ngay cả trong lĩnh vực tuyên truyền, giáo dục cũng có thói quen sử dụng văn vần. Nhờ có vần điệu dễ nhớ dễ thuộc, những bài thơ như thế không chỉ được dùng để kêu gọi, thức tỉnh đồng bào về một việc gì đó mà còn thường được áp dụng trong những bài học về đạo đức, hoặc để phổ biến kiến văn đủ loại. Nếu đem so sánh những bài thơ học thuộc lòng trong các sách Quốc văn tiểu học giai đoạn 1954-1975 với Nhị thập tứ hiếu, Gia huấn ca, Đại Nam quốc sử diễn ca (giữa thế kỷ 19), với những bài thơ răn dạy đạo đức in trong bộ Thông loại khóa trình của nhóm Trương Vĩnh Ký (nửa sau thế kỷ 19), hoặc với những bài ca cổ động phong trào Duy Tân in trong tập Quốc dân tập độc (năm 1907, đầu thế kỷ 20) của nhóm Đông Kinh Nghĩa Thục (xem Thơ văn Đông Kinh Nghĩa Thục, Nxb Văn hóa, 1997), chúng ta sẽ thấy rất rõ giữa chúng với nhau là “nhất mạch tương thừa”.

Thử dẫn vài đoạn thơ như sau trong Quốc dân tập độc, sẽ chứng minh được hầu hết những bài thơ học thuộc lòng sưu tập lại từ các sách Quốc văn tiểu học nói trên là có cùng một “giọng”, chung một phong cách:

Đấng làm trai sinh trong trời đất,
Phải sao cho rõ mặt non sông.
Kìa kìa mấy bậc anh hùng,
Cũng vì thủa trước học không sai đường.
Cuộc hoàn hải liệt cường tranh cạnh,
Mở trí dân giàu mạnh biết bao.
Nước ta học vấn thế nào,
Chẳng lo bỏ dại nhẽ nào được khôn.
Chữ quốc ngữ là hồn trong nước,
Phải đem ra tính trước dân ta,
Sách các nước sách Chi na,
Chữ nào nghĩa ấy dịch ra tỏ tường.
    .......
    (“Bài hát khuyên học chữ quốc ngữ”, sđd, tr. 110)
Hoặc:

Nước Nam ta từ đời Hồng Lạc,
Mấy nghìn năm khai thác đến nay,
Á Châu riêng một cõi này,
Giống vàng ta vẫn xưa nay một loài.
    .......
    (“Bài hát yêu nước”, sđd, tr. 111)
Hoặc:

Đạo vệ sinh phải nên biết trước,
Nghĩ rượu men là chất độc người.
Xin ai chớ lấy làm chơi,
Rượu ngon cấm tiệt nhớ lời Hạ vương.
    .......
    (“Bài hát răn người uống rượu”, sđd, tr. 135)
Để phổ biến kiến thức, các nhà Nho thuở trước dạy dân, cũng quen dùng cùng một thể loại văn vần, để giúp người học dễ thuộc nằm lòng:

Năm châu quanh mặt địa cầu,
Á Châu lớn nhất, Mỹ Châu thứ nhì.
Châu Âu, châu Úc, châu Phi,
Mỗi châu mỗi giống sắc chia rành rành.
       .......
          (“Bài hát kể đường đất nước ta”, sđd, tr. 115)      
     
Về nội dung, những bài học thuộc lòng trong các sách Quốc văn tiểu học không kém phần phong phú, đa dạng. Đương nhiên chúng có tính hiện đại gần gũi với thời nay hơn so với các thế hệ trước, nhưng tựu trung vẫn chú trọng rèn luyện cho học sinh về nhân cách, đạo đức, óc cầu tiến, chí tiến thủ, niềm tin ở sự tiến bộ của khoa học, và nhất là lòng nhân ái, yêu thương-tôn trọng con người... Đa số bám theo những bài học luân lý, với những nội dung cụ thể được lặp đi lặp lại từ lớp tiểu học nhỏ nhất đến lớn nhất và thường xoay quanh một số chủ đề như:

- Bổn phận đối với bản thân như giữ vệ sinh cá nhân, rèn luyện thân thể, bồi dưỡng chí khí, óc mạo hiểm và những phẩm chất tốt đẹp khác, nhất là tính trung thực, thật thà... Việc rèn luyện phẩm đức phải đi đôi với quyết tâm từ bỏ các thói hư tật xấu...

- Khuyến học. Xác định động cơ học tập đơn giản “Ngày nay học tập ngày mai giúp đời”...

- Lòng hiếu kính trước hết đối với ông bà, cha mẹ rồi đến các bậc tôn trưởng khác: anh chị, bà con cô bác, thầy cô giáo, người già cả...      

- Cổ vũ tình yêu quê hương xứ sở, từ đó ra sức góp phần xây dựng tổ quốc giàu mạnh; đề cao lòng tự hào dân tộc, ca ngợi anh hùng dân tộc, kêu gọi bảo vệ tổ quốc chống xâm lăng; ca ngợi quê hương giàu đẹp, các thuần phong mỹ tục, và đề cao giá trị tiếng mẹ đẻ...

- Tình dân tộc, nghĩa đồng bào.

- Lòng bác ái thương người yêu vật, tình đồng loại, đặc biệt tình cảm đối với tầng lớp lao động chân tay nghèo khổ và những người có hoàn cảnh khốn khó, cơ nhỡ.

- Ca ngợi giá trị-nét đẹp của lao động và lòng biết ơn những con người lao động, đặc biệt đối với dân quê cày ruộng và tầng lớp thợ thuyền, người buôn bán nhỏ và dân nghèo thành thị, từ em bé đánh giày đến người thợ hớt tóc, bác thợ mộc, thợ rèn...

- Các nghĩa vụ đối với tha nhân và với xã hội. Bổn phận và quyền lợi công dân.

- Ca ngợi nếp sống thanh bần, đạm bạc, tri túc tiện túc; đề cao tinh thần trọng nghĩa khinh tài...

- Kinh nghiệm sống (qua một số bài thơ ngụ ngôn).

- Cổ vũ dùng hàng nội hóa, phát triển nông-công-thương nghiệp.

- Phổ biến tri thức khoa học phổ thông (về vũ trụ-thiên nhiên, máy móc, các phát minh...), đề cao tinh thần khoa học, phê phán óc mê tín dị đoan.

- Ước mơ có được cuộc sống thanh bình, ấm no, hạnh phúc.

(.......)    

Ngày nay đọc lại những bài học thuộc lòng này, ngoài phần nội dung tư tưởng mang tính giáo dục hàm chứa bên trong ra, chúng còn giúp ta tái hiện được một cách sinh động hình ảnh năm, sáu mươi năm về trước của vùng đất Sài Gòn và một số tỉnh thành từ Cà Mau ra đến các tỉnh Trung Bộ, qua đó thấy rõ khung cảnh sinh hoạt muôn màu muôn vẻ của người dân từ nông thôn đến thành thị. Hình ảnh con trâu, cái cày, bác nông phu, anh công nhân, chị bán hàng xén, mái tranh vách đất đơn sơ ở nông thôn và các khu phố chợ tráng lệ ở thành thị... có lẽ được nhắc tới nhiều nhất, và thật cảm động, vì chúng phản ảnh hoàn cảnh sống thật của đa số người dân Việt miền Nam trong bối cảnh chiến tranh và sự nghèo khổ, cũng như cho thấy trình độ phát triển về các mặt kinh tế, văn hóa, xã hội một bộ phận phân ly của đất nước vừa thoát khỏi ách cai trị của chế độ thực dân cũ.

Đây là hình ảnh của người nông phu Việt Nam, thành phần dường như luôn được đề cập và đề cao nhiều nhất, trong hoàn cảnh một đất nước nông dân chiếm phần đa số và vì thế họ cũng có tư cách lẫn tính cách đại diện cho cả dân tộc ở một giai đoạn phát triển kinh tế-xã hội nhất định:

    Đôi cánh tay rắn chắc,
    Anh xới lúa vun dâu.
    Mồ hôi rơi thấm đất,
    Tình anh tràn ruộng sâu.
Tóc anh vương vấn gió chiều,
Hồn anh thấm lúa, lan vào hương quê.
    Đôi trâu bạn bè,
    Cuốc cày tri kỷ.
    Khỏe làm mệt nghỉ,
    Đời đẹp như thơ.
Lòng anh hòa với lũy tre,
Hòa trong lòng đất, đem về nguồn vui.
   
 Cao Thành Nhân
    (Tiểu học nguyệt san, tháng 1-2/1957)
Một cách diễn tả khác, giản dị và thực tế hơn:

Làm ăn từ sáng đến chiều,
Giữa trời bêu nắng như thiêu ngoài đồng.
Ruộng nương chẳng chịu bỏ không,
Hết mùa lúa thóc lại trồng bắp khoai.
Nghiệp nhà gánh vác hai vai,
Chẳng chồn gót sắt, chẳng phai dạ vàng...
    
Nam Hương
    (Trích Giáo khoa tạp chí)
    (Tiểu học nguyệt san, tháng 7/1961)
Nghề nông thời bấy giờ luôn được ca tụng không tiếc lời, như một nghề cao quý, nhưng bằng những lời lẽ chân thành, giản dị. Một hình thức khuyến nông qua văn chương với nghệ thuật sử dụng ngôn từ điêu luyện:

Non cao cũng có đường leo,
Đường dẫu khó trèo, cũng có lối đi.
Cao nguyên đất tốt lo gì,
Cày cấy kịp thì, chồng vợ ấm no.
Đất mầu giòng đậu, giòng ngô,
Đất lầy cấy lúa, đất khô làm vườn.
Nghề nông ra sức khuếch trương,
Cao nguyên phá rẫy, làm nương ven đồi...
Tưởng rằng đá rắn thì thôi,
Ai ngờ đá rắn nung vôi lại nồng.
Tưởng rằng đất núi gai, chông,
Ai ngờ đất núi cấy trồng nở hoa...
    
Dân Việt
    (Tiểu học nguyệt san, tháng 2/1958)
Mùa gặt hái đã được nhà thơ Bàng Bá Lân mô tả bằng một đoạn hoạt cảnh thật sinh động:
    Trời tang tảng, sương đao bay lớp lớp,
    Cánh đồng quê mờ ngập khói sương mờ.
    Từ cổng làng, từng bọn kéo nhau ra,
    Tiếng quang hái, đòn cân va lách cách.
    Họ vui vẻ đi nhanh trên đường đất,
    Rồi tạt ngang, tản mát khắp đồng quê.
    Họ dừng chân bên ruộng ướt sương khuya,
    Lúa rạp rạp ngã, theo gió thổi...
    
Bàng Bá Lân
    (Tiểu học nguyệt san, số 5/1957)
Còn đây là giá trị của người công nhân, làm việc ngày đêm không nghỉ, không chỉ để lo cho bản thân, gia đình, mà còn vì nghĩa vụ chung phục vụ đồng loại:

    Em có biết, học sinh, em có biết,
    Các tiện nghi em thụ hưởng hằng ngày,
    Là công trình vô số những bàn tay,
    Chai dắn lại sau những ngày lam lũ?
    Trong cơ xưởng, khắp nơi trên hoàn vũ,
    Bánh xe quay, máy móc chuyển rầm rầm.
    Bao công nhân, ngày hai buổi, âm thầm,
    Lo phận sự chu toàn, không mệt mỏi.
    Công nhân hỡi! Người anh hùng không tên tuổi!
    Nhờ có anh, còi nhà máy vang rền.
    Nhờ có anh, nhân loại mãi vươn lên,
    Đến tột đỉnh nền văn minh cơ khí.
   
 Ngọc Luyện
    (Nhóm Lửa Việt, Việt ngữ, lớp Bốn)


Hoặc:

    Da mồ hôi tưới nắng đào bóng loáng,
    Gân ngoằn ngoèo, cùng năm tháng dẻo dai.
    Thớ thịt căng, mọi nét máu chạy dài,
    Pho hoạt tượng, hình của người lao động.
    Còi nhà máy rộn lên, vang sức sống!
    Khói tung bay, cuồn cuộn bốc mây xanh.
    Tay vung lên, ôm giữ mộng hiền lành,
    Tiếng kèn kẹt xoay nhanh vòng xã hội...
    Những thanh sắt vang lời ca dữ dội,
    Tia lửa bừng, hôi hổi sức công nhân.
    Đẹp hiên ngang, một sắc đẹp tuyệt trần!
    Tô non nước, thêm muôn phần rực rỡ.
    Người lao công, ngươi là người muôn thuở,
    Xây hình hài cho bờ cõi quê hương!
    Người lao công! kìa tráng lệ huy hoàng!
    Thay tạo hóa điểm trang toàn thế giới...
    Hiệp Nhân
    
(Tia sáng)
    (Hà Mai Anh, Tiểu học quốc văn, lớp Nhất)


Rồi tới tầng lớp dân nghèo thành thị. Không nghề nghiệp nào bị bỏ sót, bị coi thường, miễn nó lương thiện và phục vụ cho con người bằng lương tâm chức nghiệp, từ anh thợ cắt tóc cho tới bác thợ rèn, đều có nét đẹp riêng của người lao động chân chính:

    Trong túp lá bên đường qua xóm chợ,
    Tiếng “Băng! Băng!” từng chập dội vang rền:
    Bác thợ rèn làm việc, ở ngay bên,
    Nào đe, búa, nào than, nào sắt, bễ.
    Một đứa bé, ngồi cao trên chiếc ghế,
    Rướn thân gầy thụt bễ chẳng khi lơi.
    Lò than hồng, hừng hực đỏ, reo vui,
    Mưa bụi lửa từng cơn bay tới tấp.
    Cứ mỗi lần vươn vai giơ búa đập,
    Là một lần thanh sắt ở trên đe,
    Lại oằn đi, dưới sức mạnh tràn trề,
    Của bắp thịt người cần lao kiên nhẫn.
    
Nguyễn Ngọc
    (Nhóm Lửa Việt, Việt ngữ, lớp Bốn)


Tuy nhiên, cũng còn có những cảnh đời cơ khổ, bất hạnh, lỡ làng... của bác phu xe, em bé đánh giày, và những trẻ mồ côi..., tất cả đều được miêu tả sinh động như một cách khéo để đánh thức lương tâm và kêu gọi sự quan tâm cũng như tinh thần liên đới trách nhiệm của mọi người trong nỗ lực đấu tranh cho công bằng xã hội:

Bác phu xe:

    Trời mưa như trút nước,
    Đường nhựa bóng như gương.
    Gió rung, gào, gió thét,
    Nhìn cây cối mà thương.
    Giờ chỉ còn mấy bác,
    Phu xe cứ chạy đều.
    Chân đạp, tay bẻ lái,
    Gắng lướt gió ngược chiều.
    Dưới trời mưa ướt át,
    Dưới gió rét căm căm.
    Người phu xe cảm thấy,
    Cả thân thể như dần.
    Trong cơn mưa gió đó,
    Ai ngồi ở trong nhà.
    Có để ý nhìn qua,
    Những con người lao khổ.

    Theo Xuân Chinh

    (Tiểu học nguyệt san, tháng 4/1957)


Em bé đánh giày:

    Mai vàng đua nhau nở,
    Báo hiệu xuân về đây.
    Bao nhiêu người vui vẻ,
    Buồn riêng em đánh giày.
    Em xách chiếc thùng cây,
    Mang tấm thân ốm gầy,
    Len khắp đường phố chợ,
    Tìm đánh một đôi giày.
    Em lê tấm thân tàn,
    Vào các tiệm cao sang,
    Đánh giày ăn qua bữa,
    Thân trẻ sớm cơ hàn.
    Xuân này em lang thang,
    Đi khắp các phố phường,
    Mang quần áo tả tơi,
    Rước xuân bằng đau thương.
   
 Độc Linh
    (Tiểu học nguyệt san, tháng 9/1961)


Và những đứa bé mồ côi:

    Có những con người đang thời hoa nở,
    Sống trong niềm đau khổ: kiếp lầm than.
    Cặp chân non ngày tháng những lang thang,
    Trên đường phố ngút đầy bao gió bụi.
    Tuổi niên thiếu dệt trong ngàn sầu tủi,
    Không gia đình, cha mẹ, khát tình yêu.
    Ôi long đong, thân trẻ nhỏ sớm chiều,
    Ngàn cực nhục cũng chỉ vì cơm áo!
    Tuổi niên thiếu lớn dần trong khổ não,
    Mặt trẻ trung đầy những nét đau thương.
    Sống lầm than, dầu dãi nắng mưa sương,
    Thân còm cõi không đủ đầy nhựa sống.
    Những trẻ ấy dưới bầu trời cao rộng,
    Đưa mắt nhìn thèm khát cảnh yên vui.
    Có chăng ai, chỉ một phút ngậm ngùi,
    Cho thân phận con người xấu số.
    
Xuân Chính
    (Tiểu học nguyệt san, tháng 3/1959)


Hoặc:

    Hai đứa trẻ
    Trên vỉa hè,
    Dòng đời đã bước lê thê,
    Chúng đi, đi mãi biết về nơi đâu?
    Chúng đã cùng chung một nỗi sầu,
    Khi mùa ly loạn rắc thương đau.
    Gặp nhau trong buổi chiều đông giá,
    Mỗi dải khăn tang, mỗi mái đầu.
    Hôm nay mưa gió lắm,
    Chúng sát lại gần nhau,
    Hòng san hơi thở ấm,
    Cho đỡ lạnh lòng đau.
    Dật dờ trong bóng tối,
    Hai trẻ dắt nhau đi.
    Đêm nay chúng sẽ về đâu nhỉ?
    Hay vẫn bơ vơ kiếp lạc loài!

    H.H.

    (Hà Mai Anh, Tiểu học quốc văn, lớp Nhất)


Ngoài mấy nội dung liên quan đến việc mô tả các thành phần dân dã trong xã hội, gần một phần ba số bài thơ dùng làm bài học thuộc lòng đã được nhắm vào chủ đề bồi dưỡng cho thế hệ trẻ những tình cảm lành mạnh đối với đất nước mến yêu. Đó là những bài thơ ca ngợi quê hương xứ sở giàu đẹp, qua hình ảnh của con trâu trên đồng lúa, mái tranh vách đất trong xóm nghèo, rồi những con kênh, giếng nước, lũy tre..., các hoạt động xã hội trong làng xã, gợi nên ước mơ về một cuộc sống an cư lạc nghiệp trong cảnh hòa hợp, thanh bình, hạnh phúc:

Quê em nhà cửa liền nhau,
Mái tranh, mái ngói chen màu xinh xinh.
Quê em có miễu, có đình,
Có con sông nhỏ uốn mình trong tre.
Có đồng có ruộng bao la,
Nông dân làm lụng hát ca bên đồng.
Lúa xanh đang trổ đòng đòng,
Một mùa mơn mởn đẹp lòng dân quê.
Nương dâu xanh ngắt bốn bề,
Bắp, mì, khoai, đỗ, lang, mè tốt xanh.
Sớm hồng trời đẹp trong lành,
Sương mai rung động trên cành chim ca.
Vàng son lơ lửng chiều tà,
Đồng quê thơ mộng bao la xanh rờn.
    Thanh Giang

    (Tiểu học nguyệt san, tháng 10/1958)
Hoặc:

Quê tôi có một con sông,
Có nương khoai thắm, có đồng lúa xanh.
Bốn mùa gió mát, trăng thanh,
Bốn mùa lúa tốt, dân lành vui tươi.
Đó đây vang tiếng nói cười,
Câu hò, giọng hát của người nông dân.
Ngày đêm chẳng quản tấm thân,
Nắng mưa dầu dãi bao lần nào than.
Mồ hôi đem tưới mùa màng,
Chân tay xới mảnh đất vàng thân yêu.
Quê tôi trong ánh nắng chiều,
Vi vu thoáng tiếng sáo diều nhặt khoan.
    Hàn Giang
    (Nhóm Lửa Việt, Việt ngữ, lớp Bốn)
Hoặc:

    Tôi đã đi,
    Từ Cà Mau ra Bến Hải.
    Tôi đã dừng lại,
    Khắp các nẻo đường.
    Nước xanh màu bát ngát đại dương,
    Hay trùng điệp núi rừng cao nguyên đất đỏ.
    Tôi đã qua,
    Khắp các đô thành nguy nga, to nhỏ,
    Bãi biển, đồi thông.
    Lúa Hậu Giang bát ngát ngập đồng,
    Dừa Bình Định tô xanh miền cát trắng.
    
Tiểu học nguyệt san
    (Nhóm Lửa Việt, Việt ngữ, lớp Bốn)


Thành phố Huế cổ kính 50-60 năm về trước đã được mô tả sinh động bằng mấy nét chấm phá tiêu biểu, với chùa Thiên Mụ, với sông Hương và núi Ngự Bình, vẽ nên một bức tranh nên thơ, êm đềm tuyệt đẹp:

Huế

Dưới cảnh sắc chiều vàng bóng ngả,
Thành Huế như bức họa muôn màu.
Xa xa ngọn chuối, tàu cau,
Ngàn thông vi vút, bóng dâu chập chờn.
Cảnh cung điện vàng son chói lọi,
Dải tường thành vòi vọi quanh co.
Nguy nga tòa sở nhỏ to,
Nếp xưa bộ viện dư đồ còn nguyên.
Thiên Mụ cố lánh miền trần tục,
Tẩm lăng còn y thức ngựa voi.
Sông Hương đáy hiện khuôn trời,
Ngự Bình lồng bóng giữa vời chon von.

    Vũ Huy Chân
    (Tiểu học nguyệt san, tháng 8/1960)
Một trong những nội dung quan trọng xuyên suốt của những bài học thuộc lòng thời kỳ này là bồi dưỡng lòng yêu nước cho thế hệ tiểu học. Yêu nước phải luôn gắn liền với thương dân, còn được thể hiện bằng tinh thần đấu tranh kiên cường bất khuất mỗi khi đất nước bị đe dọa trước hiểm họa xâm lăng từ bên ngoài. Vì thế không ít bài học thuộc lòng đã được dành riêng cho chủ đề lịch sử, nhắc lại những chiến công oanh liệt mà các thế hệ cha ông đã làm nên để bảo vệ tổ quốc. Một số bài như thế có lời lẽ kích động hùng hồn không khác gì những hồi trống trận giục giã. Bài thơ ngắn sau đây đã tóm thuật được cuộc khởi nghĩa Lam Sơn của Bình Định Vương Lê Lợi, đánh đuổi quân Minh xâm lược:

Bao năm sắm sửa, đợi chờ,
Lam Sơn gióng trống, mở cờ ra binh.
Quyết lòng tận diệt quân Minh,
Giữa hàng tướng tá xưng Bình Định Vương.
Mười năm lận đận bốn phương,
Gian nan rồi mới lên đường vinh quang.
Trận cuối cùng, ải Chi Lăng,
Vương Thông nộp giáo, Liễu Thăng rơi đầu.
Hồ Gươm xanh ngắt một màu,
Tưởng chừng kiếm quý còn đâu chốn này!
  
  Bảo Vân
    (Tiểu học nguyệt san, tháng 3/1958)
Trận cuối cùng ở Chi Lăng năm 1427 kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh 10 năm giành độc lập dân tộc, đã được một tác giả khác diễn lại như một khúc hùng ca:

Mưu thần một trận ra oai,
Kinh hồn Tống tướng, khiếp tài Nam binh,
Trời Nam yên hưởng thái bình,
Nghìn thu công đức Đại Hành chớ quên.
Ỷ nước mạnh, hiếp dân hèn,
Bắc Nam còn lại lắm phen tranh hùng.
Chi Lăng sau vẫn một vùng,
Là nơi giặc Liễu bước cùng bỏ thân.
Kìa ai mật nếm, gai nằm,
Một thân gánh vác, mười năm dãi dầu.
Tấm gương ái quốc còn lâu,
Ngàn năm để cháu con sau học đời.
Có thân phải biết giống nòi,
Rồng Tiên quyết chẳng kém người năm châu?

    Dương Đình Tẩy
    (Tiểu học nguyệt san, tháng 4/1957)
Và hào khí đó đã luôn được lặp đi lặp lại suốt theo tiến trình lịch sử các cuộc đấu tranh giành độc lập, như một cách để un đúc niềm tự hào dân tộc và ý chí bảo vệ tổ quốc chống xâm lăng cho thế hệ tương lai đất nước. Chủ đề này đã được thể hiện sinh động trong rất nhiều bài thơ học thuộc lòng khác, nhắc lại những chiến công oanh liệt về sau nữa, như bài “Xuân Kỷ Dậu”:

    Băng băng đuốc lửa, rừng gươm giáo,
    Khí thế quân Nam nước lũ tràn.
    Khuya tối mồng năm, liên tiếp sáng,
    Hà Hồi thất thủ, Ngọc Hồi tan.
    Đoàn quân giải phóng tràn xô đến,
    Ngựa thét lừng mây, súng đổ thành.
    Sĩ Nghị, nửa đêm quăng ấn tín,
    Mình không gươm, giáp, chạy về Thanh.
    Một lũ tàn quân theo chủ tướng,
    Tranh nhau, cầu đổ, vỡ cường chinh.
    Sông Hồng ngập ngụa thây quân Mãn,
    Máu đỏ trôi về tận Bắc Kinh.
    Cờ Việt thượng lên tầng soái phủ,
    Quang Trung dừng ngựa giữa Thăng Long.
    Áo bào khói súng pha đen xạm,
    Chiến thắng dân, quân: nức một lòng.
  
  Từ Trẩm Lệ
    (Bùi Văn Bảo, Quốc văn toàn tập, lớp Nhất)


Nhưng trước hết là đời sống, tâm tư, nguyện vọng đẹp đẽ của lứa tuổi học trò khi còn ngồi dưới mái học đường, được lặp đi lặp lại trong suốt đoạn đường tiểu học. Ngoài nội dung khuyến học vốn chiếm một tỷ phần quan trọng, các đức tính, bổn phận mà người học sinh cần có trong tương quan với thầy, bạn cũng luôn luôn được nhắc nhở, như trách nhiệm học tập, lòng biết ơn thầy, thái độ xử sự với bạn bè cùng lớp, cùng trường... Và gần gũi nữa là những kỷ niệm tươi vui, êm đềm của tuổi ấu thơ trong “thời cắp sách”:

    Ôi! êm ái là thời đang cắp sách!
    Ôi vui tươi là lúc hãy còn thơ!
    Đời đẹp đẽ như trong một giấc mơ,
    Và thắm đậm như một mùa xuân mới.
    Có những lúc hồn nhẹ nhàng phơi phới,
    Cũng đôi khi nặng trĩu bởi lo âu.
    Nhưng một khi bài đã thuộc lầu lầu,
    Lo lắng biến, nhường phần cho vui vẻ.
    Rồi những phút đời vô cùng đẹp đẽ,
    Hưởng tình trong của bạn hữu thân yêu.
    Những truyện vui, rồi những truyện vui theo,
    Cứ mau chóng chạy qua cùng ngày tháng.
    Những tình cảm nơi học đường xán lạn,
    Quên làm sao, tuy dĩ vãng xa xôi?
    Vì đó là những kỷ niệm của thời,
    Thời cắp sách, thời vô ngần trong sạch.
    Lâm Ngọc Sĩ
    (Hà Mai Anh, Tiểu học quốc văn, lớp Nhất)
Những cảm xúc tươi vui, hăm hở của “ngày tựu trường”:
    Nô nức hôm nay, buổi tựu trường,
    Như chim ríu rít sáng tinh sương.
    Các em tấp nập ra trường học,
    Lê guốc giày vang khắp phố phường.
    Nét mặt ngây thơ miệng mỉm cười,
    Áo quần mới mẻ dáng vui tươi.
    Tay cầm cặp sách đi chân sáo,
    Lòng vẫn lâng lâng, mặt sáng ngời.
    Giữa đám mây xanh hiện mái trường,
    Một hồi trống giục đã ngân vang.
    Cổng trường mở rộng như chào đón,
    Những đám trò em bước vội vàng.
    Bạn cũ gặp nhau lại nghịch tinh,
    Vui đùa, cười nói, chuyện tâm tình.
    Trời thu mây kéo như thông cảm,
    Với nỗi niềm vui của học sinh.
           
Vũ Tiến Thu
    (Tiểu học nguyệt san, tháng 9-10/1959)


Cũng như nỗi sung sướng khi buổi học cuối cùng chấm dứt, sắp được bước vào trọn ba tháng nghỉ hè đầy thơ mộng, thời gian để lấy lại sức khỏe và tinh thần chuẩn bị cho năm học mới kế tiếp (chứ không như ngày nay, cứ học suốt!):

Sung sướng quá, giờ cuối cùng đã hết,
Đoàn trai non hớn hở rủ nhau về.
Chín mươi ngày nhảy nhót ở miền quê,
Ôi tất cả mùa xuân trong mùa hạ!
Một nét mặt, trăm tiếng cười rộn rã,
Lời trên môi chen chúc nối nghìn câu.
Chờ đêm nay: sáng sớm bước lên tàu,
Ăn chẳng được, lòng nôn nao khó ngủ.
Trong khoảnh khắc, sách bài là giấy cũ,
Nhớ làm chi. Thầy mẹ đợi, em trông.
Trên đường làng, huyết phượng nở thành bông,
Và vườn rộng nhiều trái cây ngon ngọt.
Kiểm soát kỹ, có khi còn thiếu sót,
Rương chật rồi, khó nhốt cả niềm vui.
Tay bắt tay, hồn không chút bùi ngùi,
Các bạn hỡi, trời mai đầy ánh sáng.
   
 Xuân Tâm
    (Lời tim non)
    (Tiểu học nguyệt san, tháng 5/1958)


Sự thật, vẫn còn một số nội dung phụ khác có lẽ cũng cần được đánh giá lại cho được khách quan hơn. Nền giáo dục ở miền Nam giai đoạn 1954-1975 dĩ nhiên cũng có chính trị hóa học đường, nhưng tương đối ít. Đặc biệt, trong thời kỳ Đệ nhất Cộng hòa (1955-1963), thỉnh thoảng vẫn bắt gặp ở phân môn Tập đọc-Học thuộc lòng có xen vào mấy bài ca ngợi chế độ Cộng hòa hoặc ca ngợi lãnh tụ (Ngô Tổng thống), chiếm tỷ lệ chừng 1/20 tổng số bài, nhưng chủ yếu chỉ tập trung ở phần cuối sách của lớp cuối cấp tiểu học (lớp Nhất). Tờ Giáo dục nguyệt san (1957-1963) do nhà nước chủ trương cố đưa vào một số ít bài có nội dung “chống Cộng” rõ rệt để giới thiệu cho giáo chức sử dụng, nhưng những loại bài như thế lại hầu như không được các nhà biên soạn sách giáo khoa tiểu học đáp ứng để đưa vào sách của mình!       
    

Ngoài ra, do nhận thức-tầm nhìn chung của xã hội lúc bấy giờ còn rất hạn chế về vấn đề bảo vệ môi trường, không tránh được vài sách Quốc văn tiểu học đã “vô tư” đưa vào một số bài học thuộc lòng có nội dung liên quan đến những thú vui (như đá gà, săn bắn...) mà nếu đứng trên quan điểm bảo vệ môi sinh hiện đại thì là không lành mạnh, có thể sẽ mang đến những tác dụng-hiệu quả tiêu cực. Xét riêng về phương diện này, sách giáo khoa môn Văn tiểu học thời kỳ này đã có một bước lùi so với giai đoạn 1940: trong khi ở Quốc văn giáo khoa thư (lớp Sơ đẳng) của nhóm Trần Trọng Kim có bài “Không nên phá tổ chim” quá hay (xem Quốc văn giáo khoa thư, Tuyển tập, Nxb Trẻ, 1995, tr. 41), thì ở một sách Quốc văn toàn thư lớp Ba nọ, có soạn giả đưa vào chủ đề Săn bắn đến 2 bài tập đọc “Phát súng đầu tiên”, “Một nhà thiện xạ”, 1 bài chính tả “Đuổi chim”, còn 1 bài học thuộc lòng thì là... “Thú đi săn” (ghi tên tác giả Hồng Vân), trong có mấy câu nói theo bây giờ là rất “phản cảm”:

Vui thay cái thú đi săn!
Núi, rừng lặn lội, băng ngàn vui say!
Khi nhắm thỏ, khi rình nai,
Khi theo dấu cọp, khi gài chú beo.
    .......                                          
Khi mừng gặp gỡ heo rừng,
Khi vui bắt đặng cặp sừng con gô.
Khi mê theo dõi ông bồ,
Khi chờ tê giác, khi mơ sư vàng.
    .......
(Phạm Trường Xuân..., Quốc văn toàn thư, lớp Ba,
quyển II, Nxb Việt Hương, Sài Gòn, 1961, tr. 94).

Trong một xã hội mà còn có ông vua nêu gương xấu cho dân như cựu hoàng Bảo Đại thời đó suốt ngày chỉ biết vui chơi săn bắn, chẳng lo gì đến việc nước, thì việc dạy cho dân chịu từ bỏ cái “thú đi săn” quả là không dễ dàng chút nào! 

***
Ngoài một số mặt hạn chế tất nhiên do hoàn cảnh lịch sử cụ thể quy định, sẽ không là quá đáng nếu chúng ta coi những bài học thuộc lòng cấp tiểu học thời bấy giờ đã góp phần rất tốt vào việc hình thành một nền văn chương giáo khoa với nội dung rất phong phú đa dạng, lành mạnh và có tác dụng tích cực trong việc rèn luyện đức-trí cho thế hệ trẻ ở lứa tuổi học trò.

Với những giá trị khách quan nêu trên, thiết nghĩ việc sưu tập-giới thiệu lại một số bài học thuộc lòng cũ rải rác ở các sách trước đây là một việc rất đáng nên làm. Mục đích là để vừa bảo tồn một vốn di sản quý giá đã bị lãng quên, vừa cung cấp cho thế hệ học trò ngày nay những bài thơ hay, mà có một thời anh em thuộc thế hệ chúng tôi đã được hưởng dụng và luôn luôn khắc sâu trong tâm khảm những nội dung đầy hứng thú và bổ ích.    
   

Chiến tranh đã chấm dứt gần bốn mươi năm, thời gian có lẽ khá đủ cho sự lắng dịu của mọi con người ở cả hai bên đối đầu, và vì thế cũng đủ chỗ cho lòng khoan dung có cơ hội nảy nở để vượt qua những rào cản của ý thức hệ, từ đó chịu nhìn lại mọi vấn đề một cách trầm tĩnh và nghiêm túc hơn, trong đó có vấn đề cần xem xét lại sâu hơn-khách quan hơn khía cạnh thuần túy văn hóa, học thuật của những công trình giáo dục có giá trị nhân bản đích thực mà tất cả đều do những con người Việt Nam thiện chí, yêu nước sáng tạo nên...

Trong tình trạng sa sút chung của xã hội về văn hóa-đạo đức như bây giờ, đặc biệt trong giới trẻ học sinh có khá nhiều biểu hiện tiêu cực như chửi thề, đánh đấm hoặc thậm chí đâm giết nhau, không thế thì cũng là những thói đua đòi chạy theo cuộc sống vật chất xa hoa..., việc trở lại một cách có nghiên cứu và chọn lọc với những bài học thuộc lòng có nội dung khích lệ cuộc sống lành mạnh có lẽ là một đề tài quan trọng đáng để cho các nhà giáo dục và phụ huynh suy nghĩ. Trong chiều hướng tích cực đó, không loại trừ khả năng những bài thơ học thuộc lòng nằm trong đống sách cũ còn có thể cung cấp thêm phương pháp cũng như tài liệu tham khảo cụ thể hữu ích cho việc biên soạn, cải tiến, tái cấu trúc nội dung các sách giáo khoa tiếng Việt bậc tiểu học mà chúng ta đang nỗ lực tiến hành được một phần khá rõ, cần được phát huy thêm theo chiều hướng “chú trọng giáo dục đạo đức và các giá trị truyền thống” khẳng định trong Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020 đã được Chính phủ phê duyệt hồi giữa tháng 6/2012 vừa rồi.

     21/6/2012    

Thứ Năm, 5 tháng 9, 2019

Hãy trả lễ khai giảng lại cho học sinh

Hãy trả lễ khai giảng lại cho học sinh

Lễ khai trường đã bộc lộ bản chất phản giáo dục, hình thức, đi ngược lại những nguyên tắc của tâm lý giáo dục lẫn tâm lý lứa tuổi.
Lễ khai trường đã bộc lộ bản chất phản giáo dục, hình thức, đi ngược lại những nguyên tắc của tâm lý giáo dục lẫn tâm lý lứa tuổi.
Hãy trả lễ khai giảng lại cho học sinh - ảnh 1
Những buổi khai trường dài lê thê khiến học sinh mệt mỏi - Ảnh: Đào Ngọc Thạch
Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam vừa chỉ đạo tổ chức một ngày khai giảng thống nhất và thiết thực trên cả nước. Nghĩa là thừa nhận lâu nay rườm rà, hình thức. Dư luận và báo chí rất hoan nghênh, chỉ rõ những hạn chế của cách làm cũ và hiến kế đổi mới. Có báo còn khẳng định  “Lễ khai giảng là của …người lớn”. Không hẳn như vậy.
Lâu nay, nhiều thầy cô, các bậc phu huynh và xã hội bức xúc vì lễ khai giảng mất dần ý nghĩa, không còn là của các em. Thường chỉ một số em được dự, làm bình phong cho bệnh hình thức của người lớn. Các em phải tập dợt, đội nắng, dầm mưa đợi khách và nghe kính thưa dài dòng, kể lể lê thê, cà kê dê ngỗng, từ thời sự thế giới đến trong nước; từ sự quan tâm của lãnh đạo đến thành tích của nhà trường. Nhiều chuyện nghe bằng tiếng Việt mà chẳng hiểu nội dung. Khổ sở như tra tấn nhưng đến phần phát biểu, em nào cũng phải gồng mình “trong không khí vô cùng phấn khởi”, dù nhễ nhại mồ hôi. 
Có thể thấy, lễ khai trường đã bộc lộ bản chất phản giáo dục, hình thức và dối trá, đi ngược lại những nguyên tắc của tâm lý giáo dục lẫn tâm lý lứa tuổi.
Để có khách mời quan trọng tham dự, không chỉ có quan hệ quen biết, vận động mà cả chung chi cho “cò” lãnh đạo. Đó là những “long trọng viên” nên phải đón tiếp và giới thiệu đầy đủ phẩm hàm, chức tước, học vị... Phải được ngồi trang trọng hàng đầu, quay lưng và che khuất hết học sinh, trong khi các em và thầy cô phải đứng hoặc ngồi bệt dưới đất. 
Để có khách mời quan trọng tham dự, không chỉ có quan hệ quen biết, vận động mà cả chung chi cho “cò” lãnh đạo. Đó là những “long trọng viên” nên phải đón tiếp và giới thiệu đầy đủ phẩm hàm, chức tước, học vị... Phải được ngồi trang trọng hàng đầu, quay lưng và che khuất hết học sinh, trong khi các em và thầy cô phải đứng hoặc ngồi bệt dưới đất. Sau lễ khai giảng còn quà cáp, bì thư và mời đi nhà hàng máy lạnh. Báo chí không hiểu cố ý hay vô tình cũng tiếp tay cho tệ nạn này. Năm nào cũng đưa tin, bài về trường này, trường nọ “Tưng bừng phấn khởi, nô nức…” khai giảng năm học mới. Thật ra không thể gọi là “Khai giảng” vì các em đã nhập học cả tháng trước. Phải gọi là “Thông giảng” hoặc “Tiếp giảng” mới đúng. Chẳng báo nào dám phản ánh đúng thực trạng. Các nhà báo cũng là “long trọng viên”, được đối đãi như lãnh đạo. 
Hãy trả lễ khai giảng lại cho học sinh - ảnh 2
Hãy để các em học sinh là nhân vật chính của lễ khai trường - Ảnh: Đào Ngọc Thạch
Nói “Lễ khai giảng của…người lớn” là hơi hồ đồ vì các thầy cô,  nhân viên phục vụ và một số phụ huynh cũng chỉ là bình phong hình thức như học sinh. Phải gọi chính xác “Lễ khai giảng của lãnh đạo”, cụ thể là hiệu trưởng và các long trọng viên. Phải làm sao lấy lòng các vị, được lên báo đài để còn thăng tiến hoặc ít nhất là an vị. Thật lòng, không ít hiệu trưởng, nhất là những người từng học ở miền Nam trước 1975, thấy vấn đề nhưng không thể và không dám làm khác vì cả xã hội như vậy. Lâu nay, nhà trường, nơi đào tạo con người, nhân tố quyết định mọi phát triển xã hội, lại thường có những hành xử phản giáo dục. Từ lễ khai giảng, lễ chào cờ (còn gọi là lễ bêu dương), việc kỷ luật học sinh, đuổi học vì nghèo chưa kịp đóng học phí… cho đến việc sơ, tổng kết; phát động thi đua. Cái gì cũng 100%, cái gì cũng toàn diện, cũng hoàn hảo.  
Rất nhiều việc, ngành giáo dục tự làm khổ mình. Từ chỉ tiêu phi lý đến danh hiệu thi đua, sáng kiến kinh nghiệm, giáo án… Giáo dục ở miền Nam trước 1975 đơn giản và hiệu quả hơn nhiều. Không có các đoàn thể hỗ trợ (nhưng có khi làm khó thêm), cũng không thi đua làm khổ nhau. Khai giảng là ngày hội thật sự của học sinh. Đứa nào cũng náo nức đợi khai giảng để trở lại trường sau mấy tháng hè gián đoạn; được gặp lại bè bạn, thầy cô. Không phải kịch mà cần tập dợt trước. Buổi lễ ngắn gọn mà trang trọng, ấn tượng và thực chất. 
Mọi tệ nạn xã hội hiện nay đều do con người mà ra. Do vậy, muốn thay đổi, phải bắt đầu từ giáo dục, từ nhà trường. Việc quan trọng và có thể làm ngay là trả ngày khai giảng lại cho các em. Đó phải là ngày tựu trường náo nức và phấn khởi của học sinh đúng nghĩa. Hãy đoạn tuyệt với những cách làm phản giáo dục trong nhà trường. Khó nhưng vẫn có thể làm được. Thay đổi để vươn lên hoặc ngày càng tụt hậu với thế giới. Không còn sự lựa chọn nào khác.
* Bài viết thể hiện văn phong và góc nhìn của tác giả, một doanh nhân trong ngành du lịch, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Đội, thành Đoàn TP.HCM.

CHUYÊN ĐỀ GIÁO DỤC MIỀN NAM VIỆT NAM (1954-1975)

Trong hình ảnh có thể có: văn bản

Mục lục

CHUYÊN ĐỀ GIÁO DỤC MIỀN NAM VIỆT NAM (1954-1975)

Giáo dục miền Nam Việt Nam (1954-1975) trên con đường xây dựng và phát triển/Education in the South of Vietnam (1954-1975) on the path of  building and developmentTÓM TẮT PDF
Trần Văn Chánh4
Giáo dục tiểu học và trung học ở miền Nam Việt Nam (1954-1975)/Primary and secondary education in South Vietnam (1954-1975)TÓM TẮT PDF
Cao Văn Thức53
Nền giáo dục đại học ở miền Nam Việt Nam trước 1975/Higher education in South Vietnam before 1975TÓM TẮT PDF
Nguyễn Văn Nhật75
Vấn đề địa phương hóa giáo dục tại miền Nam trước năm 1975/The issue of localization in education in South Vietnam before 1975TÓM TẮT PDF
Nguyễn Duy Chính92
Viện Đại học Sài Gòn và các trường trực thuộc/The University of Saigon and its affiliated collegesTÓM TẮT PDF
Khánh Uyên110
Viện Đại học Huế: Vạn sự khởi đầu nan/The University of Huế: It is the first step that countsPDF
Cao Văn Luận124
Giáo dục Hán học trong biến động văn hóa xã hội: Viện Hán học Huế (1959-1965)/Sinology under socio-cultural unrest: The Sinology Institute in Huế (1959-1965)TÓM TẮT PDF
Nguyễn Tuấn Cường135
Giáo dục tư nhân ở miền Nam trước 1975 qua bản Quy chế Tư thục/Private education in South Vietnam before 1975 from the Decree in Private SchoolsTÓM TẮT PDF
Trần Văn Chánh165
Học và dạy học thời Việt Nam Cộng hòa/Learning and teaching in the Republic of VietnamPDF
Dương Văn Ba173
Chương trình giáo dục và sách giáo khoa thời Việt Nam Cộng hòa/Education programs and textbooks in the Republic of VietnamTÓM TẮT PDF
Trần Văn Chánh184
Mô hình sách giáo khoa Việt ngữ bậc Tiểu học ở miền Nam trước năm 1975/Model of Vietnamese textbooks for primary education in South Vietnam before 1975TÓM TẮT PDF
Nguyễn Thị Ly Kha242
Nhìn lại nền giáo dục miền Nam Việt Nam (1954-1975)/An overview on the education in South Vietnam (1954-1975)TÓM TẮT PDF
Châu Trọng Ngô255
Mấy cảm nhận về sự khác biệt giữa giáo dục miền Nam và giáo dục miền Bắc/Some thoughts on the educational differences between the North and the South of VietnamTÓM TẮT PDF
Vương Trí Nhàn259

Thứ Sáu, 16 tháng 8, 2019

Bác sĩ đoán sai, bệnh nhi qua đời: 'Ánh mắt người cha làm

>> HOÀI NHÂN
Đêm ấy, anh chỉ là bác sĩ trực. Anh không phụ trách điều trị chính ca bệnh này trước đó.
4 giờ chiều nhận ca, đứa trẻ đã có những dấu hiệu nặng dần. Anh vẫn theo dõi sát sao.
1 giờ sáng, thân hình bé nhỏ tím tái, từng hơi thở gấp gáp, nặng nhọc. Anh tiêm thuốc, đặt nội khí quản, nhưng tình hình càng lúc càng xấu đi.
2 giờ. 3 giờ. Chiếc đồng trên vách nhọc nhằn đếm từng mớ cảm xúc kinh khủng của cha mẹ cô bé. Có một thứ trực giác kỳ lạ giữa những người thân chung máu mủ với nhau, làm cha cô bé liên tục gọi anh. Ông cảm nhận được con mình không ổn. Còn anh, anh tin vào chuyên môn và kinh nghiệm của mình. Anh nói vài lời trấn an ông.
4 giờ. Hơi thở im bặt. Anh lao vào tiêm thuốc, một sự im lặng đáng sợ. Anh gom góp tất cả bình tĩnh còn lại, gắng sức nhồi tim, hô hấp nhân tạo. Vẫn là một sự lặng im. Anh không nhớ mình đã làm gì thêm nữa. Chỉ nhớ đến khi có một bác sĩ khác nhắc anh, đã hơn 1 tiếng đồng hồ kể từ khi tim cô bé ngưng đập, anh mới buông thõng hai tay.
Anh bước ra báo tử cho gia đình… Trong bàng hoàng, anh vẫn biết mình sắp phải đối diện với sự phẫn uất của cha mẹ, thậm chí hóa thành những cú đánh thẳng vào người. Anh định sẽ đứng đó, lặng im, trả giá. Nhưng không, mẹ cô bé khóc. Còn người đàn ông kia, đột nhiên lùi lại, trân người nhìn thẳng vào mắt anh. Ánh mắt đó không cam tâm. Ánh mắt đó đầy nỗi buồn. Ánh mắt đó, ám ảnh anh cho đến cuối đời.
Anh đã chẩn đoán sai. Một bệnh nhi mắc hội chứng thận hư, thể phức tạp nên suy thận mạn. Cô bé nhập viện đã lâu, nhưng trúng đêm đó trở nặng. Anh thấy cô bé ho, thở mệt, anh cho rằng đó là viêm phổi, chỉ cần điều trị kháng sinh, thở ô-xi. Nếu anh biết chính xác đó là phù phổi để thay đổi một phác đồ điều trị khác, mọi thứ có thể sẽ tốt hơn.
Tốt hơn ở đây, chỉ là không để cô bé ra đi vào hôm đó. Có khả năng sự sống sẽ kéo dài thêm một vài ngày (bởi với bệnh án ấy, trong cơ thể một sinh linh mười mấy tháng tuổi, gần như không khả quan).
Nhưng anh ân hận, bởi với bất kỳ sinh thể nào, một năm hay chỉ một vài ngày, đó vẫn là sự sống.
7 giờ sáng, anh ra về. Một màu đen bao trùm lên tất cả mọi thứ đang hiện diện trước mắt anh. Anh khóc trên một đoạn đường chưa được bao xa. Anh nhớ đến lời thề Hippocrates. Anh nhớ ánh mắt bất nhẫn của người cha. Anh nhớ cô bé nhỏ xíu tím tái, mê man. Lần đầu tiên trong đời, anh thấy mình thất bại, một cách thảm hại.
Ba mẹ anh đã từng ước mơ làm bác sĩ, và không thành. Tất cả những kỳ vọng đổ dồn vào anh – con trai cả của gia đình. Anh đã từng thích Văn trong những năm cấp ba, nhưng đồng thời những môn tự nhiên cũng chẳng làm khó được một học sinh top đầu của trường như anh. Anh cũng cực mê con nít, và dĩ nhiên, công việc của một bác sĩ nhi sẽ là điều tuyệt vời. Anh đi qua thử thách của trường Y, tốt nghiệp thì vào Nội Trú – nơi của những bác sĩ giỏi nhất.
Tất cả êm đềm, thuận lợi. Nhưng cuối cùng thì sao? Anh đã chẩn đoán sai, đẩy một bệnh nhi bé nhỏ của mình vào cửa tử.
Cha mẹ đứa trẻ, nhất thời đã không chấp nhận được ngay tại thời điểm ấy, họ kiện. Anh đã viết một lá thư nhận lỗi với họ. Anh đã cúi đầu xin lỗi trước khoa. Họ bình tâm lại, tự hiểu rằng sức khỏe của con họ đã đến hồi không thể cầm cự. Câu chuyện đã thuộc về trách nhiệm của bệnh viện, nó vượt ngoài trách nhiệm của anh. Họ tha thứ. Còn anh, vẫn không thể nào tha thứ cho mình. Rất lâu sau đó.
Rất lâu sau đó, anh thường tự nhốt mình trong bốn bức tường, cúi đầu trong sóng gió. Anh rối bời, bỗng thấy cái nghề y đầy khắc nghiệt. Những cảm xúc lật nhanh như chớp. Cứu được một bệnh nhân, anh thấy vui như người ta nói, “hơn xây bảy cảnh chùa”. Nhưng một sai lầm, đưa anh xuống mấy tầng địa ngục. Anh quyết định bỏ học, bỏ nghề. Anh nhận ra mình chưa hề giỏi giang như mình nghĩ. Nếu tiếp tục, anh cũng chẳng còn dũng khí, chẳng còn tỉnh táo. Chẳng còn gì!
Cho đến lúc anh gục đầu để nước mắt chảy xuôi, trước mặt một người thầy đáng kính của mình trong nghề, anh mới nghe rằng: “Con buồn vì nhìn vào lỗi sai. Nhưng con có biết, tự nhìn vào lỗi sai, tức là con vẫn còn can đảm. Không mấy ai đủ dũng khí để làm việc đó, nên con thấy đó, thường sẽ là sự thoái thác, đổ lỗi. Con sẽ trưởng thành hơn sau sai lầm này. Sự trưởng thành đó là liều thuốc tốt nhất để cứu lấy biết bao nhiêu bệnh nhân đang chờ con sau này. Đứng dậy và bước tiếp, ngay từ giờ”.
Và anh đứng dậy, nhưng không phải ngay từ lúc đó. Anh dần dần đứng dậy, từ tâm niệm phải làm những điều tốt đẹp hơn nữa, hơn nữa, mỗi ngày.
Tôi tình cờ biết được câu chuyện về anh qua một bài viết của người khác chấp bút. Tôi bị ám ảnh bởi câu chuyện, cố thuyết phục gặp anh. Anh từ chối, mãi rất lâu sau đó mới nhận lời.
Nhưng đáng ra, tự tôi đã không đủ thuyết phục tôi để viết những dòng này từ lời kể của anh, cho đến lúc tôi tận mắt thấy cái cách anh vỗ về, chăm lo những bệnh nhi mà anh vẫn luôn gọi là “con”.
Tôi tìm hỏi nhiều bà mẹ, họ đều nói về một bác sĩ T. “cực kỳ có tâm” mỗi lần con họ bị bệnh. Tôi tìm xem lại nhiều chương trình truyền hình, tọa đàm, trò chuyện về sức khỏe mà anh tham gia, nhiều không kể hết. Hàng loạt những bài viết, những vlog dạy cách chữa bệnh dí dỏm, hiệu quả được các cha mẹ truyền tai nhau. Anh là một bác sĩ tài năng và đa năng, nếu không muốn nói là “nổi tiếng”.
Tôi nhìn rất kỹ vào đôi mắt anh trong những chương trình, ngẫm rất lâu về những gì anh nói, anh viết. Tôi tin mình đã thấy trong chiếc áo blouse trắng những tâm huyết, những nhiệt thành, không phải lỗi lầm.
“Vui nhất, nhớ nhất là khi mình cứu được một đứa bé 9 tháng tuổi bị tim, qua cơn thập tử nhất sinh. Giờ con đã 5 tuổi rồi, trời ơi dễ thương! Mình dặn con ăn cơm giỏi, thế là ngày nào em cũng bắt mẹ quay clip ăn cơm để gửi mình coi, miệng tíu tíu gọi bác T., bác T. suốt. Con vẫn phải đi phẫu thuật nong động mạch mỗi năm, nhưng bao giờ cũng cười tíu tít. Những thiên thần nhỏ đã dạy mình nhiều điều, bằng những nụ cười, bằng sự hồn nhiên, dù có khi đã cận kề cái chết”, anh nói với tôi lúc nghỉ tay trong phòng khám.
Vừa kể, anh vừa nhanh nhảu đưa tôi xem đoạn clip đứa bé suy tim ấy. Nhưng khá khó tìm, khi chiếc điện thoại của anh lưu đầy những gương mặt bé nhỏ. Đứa hát trong lúc bệnh ho sù sụ. Đứa đọc thơ trước khi đi ngủ. Đứa làm trò để “con gửi tặng bác T.”. Vậy là anh lại lần lượt kể về từng đứa, một cách đầy hồ hởi và phấn khởi.
Bất giác, tôi hỏi: “Còn đứa bé kia?”. Tôi nghĩ anh sẽ không hiểu, nhưng không, anh ngước mặt xa xăm, rồi hạ giọng: “Đó là một cô bé rất nhỏ nhắn, tay chân chằng chịt sẹo vì chạy thận. Em mặc nguyên bộ đồ trắng ngả kem, tay dài, tối hôm đó”. Hóa ra, ký ức vẫn còn vẹn nguyên, ngay cả lúc anh đang vui vẻ nhất.
Tôi lại hỏi: “Liệu anh có nghĩ một ngày, sẽ có một cuộc gặp với cha mẹ cô bé?”.
Anh im lặng một lúc lâu, rồi nhìn tôi: “Giờ có thể tra hồ sơ mười mấy năm trước, để có thông tin liên lạc. Nhưng… mình chưa dám đối mặt lại lần nữa. Không phải vì sợ, mà vì không biết qua chừng ấy thời gian, họ đã thực sự, thực sự nguôi ngoai chưa. Dù chưa hay đã rồi, thì việc bắt họ thêm một lần khơi lại chuyện cũ, đều chẳng nên…”.
“Thế anh đã thực sự nguôi ngoai chưa?”, tôi hỏi.
“Cái chết đầu tiên” của bệnh nhân giống như một thứ ung thư quái gở trên người mình, sẽ không bao giờ khỏi. Mình vẫn đang phải vượt qua nó, bằng cách làm những điều tốt đẹp hơn, cho mọi người, cho những bệnh nhân tiếp theo. Có một thứ chẳng bao giờ cho phép mình sai sót nữa, là ánh mắt người cha đêm đó. Kể từ đêm đó, ánh mắt đã luôn đợi nhìn mình ở một góc nào đó của lương tâm”, anh nói.
Cũng kể từ đêm đó, anh tự nhủ, anh có thể đầy chuyên môn, có thể nhiều kinh nghiệm, nhưng anh sẽ luôn tin vào cảm nhận của người thân.
Có những lỗi lầm dạy người ta lớn. Có những lỗi lầm không bao giờ được phép lặp lại, với cái nghề như anh.
Đồ họa: Duy Quang | Ảnh: Hoài Nhân
Báo Thanh Niên 
26.04.2019

Saigon juin 1930


FilmImages Xuất bản 18 thg 2, 2017 Images de l'Indochine, colonie française. Saïgon / Saigon aujourd'hui Hô-Chi-Minh-Ville, Viêt Nam. Rushes de Fox Movietone. Archives commercialisées par Film Images (www.film-images.fr). Saigon scenes. The scenes take viewers through the streets of the city, showing natives and European life. Several children surround a street vendor, and Europeans arrive at a cafe via rickshaws. Shot of a man with a barking dog. A newsboy tries to sell a newspaper. Various scenes of a vendor preparing and selling a shaved ice treat. More scenes of the market and streets of Saigon. Scenes of Europeans at a cafe bartering with a fur salesman. Scenes of a rickshaw man bargaining with a passenger. Scenes of Europeans enjoying drinks at a sidewalk cafe. Pour un usage professionnel, les clips présentés sur cette chaîne sont accessibles en ligne sur www.film-images.fr (vous vous créez votre compte utilisateur). For professional use, clips can be seen online at www.film-images.fr (please register to access the clips). Pour les historiens : http://mirc.sc.edu/islandora/object/u... et http://mirc.sc.edu/islandora/object/u...

Thứ Sáu, 2 tháng 8, 2019

Sự lầm than của khoa học so với tâm linh trong tiếp cận nguồn lực cho phát triển


Những ngày này, khi đất nước đứng trước sự o ép của láng giềng phương Bắc hung hãn và xảo quyệt ngoài Biển Đông, như nhiều người dân Việt khác, tôi ước gì đất nước mình có được nội lực kinh tế, nội lực khoa học kỹ thuật mạnh mẽ hơn để đối phương phải kiêng dè khi muốn dùng sức mạnh vượt trội hòng đòi hỏi những gì không thuộc về họ trong vùng biển của ta.
Lại ước, giá mà nạn tham nhũng không lan tràn khiến đất nước suy yếu, nguồn lực kiệt quệ; giá mà trong quá trình phát triển, nguồn lực quốc gia được phân bổ và quản lý tốt hơn để nhanh chóng xây dựng tiềm lực khoa học kỹ thuật của đất nước, đóng góp vào sức mạnh tổng hợp của quốc gia, trong đó có sức mạnh quốc phòng.
Có được sức mạnh tổng hợp ấy, khi phải đối mặt với thách thức từ bên ngoài, chúng ta hẳn sẽ hoàn toàn tự tin trong công cuộc bảo vệ các lợi ích quốc gia và khiến đối phương không thể xem thường.
Nhìn lại, cho tới nay, ngoài nạn tham nhũng đục khoét thì sự phân bổ và quản lý nguồn lực dành cho khoa học kỹ thuật cũng như chính sách thích hợp để nhanh chóng phát triển sức mạnh khoa học kỹ thuật của nước nhà là chưa tương xứng với đòi hỏi của tình hình. Từ lâu, đất nước đặt ra mục tiêu công nghiệp hóa - hiện đại hóa, nhưng mục tiêu hiện đại hóa đề ra một đường còn chính sách và nguồn lực cho hiện đại hóa mà cốt lõi là chính sách và nguồn lực cho phát triển khoa học kỹ thuật lại một nẻo. Nghịch lý trong việc cấp đất, cho thuê đất nhằm phát triển sự nghiệp khoa học kỹ thuật của nước nhà so với việc cấp đất, cho thuê đất nhằm mục đích khác, như “du lịch tâm linh”, là một thí dụ.
Những khó khăn mà dự án Trung tâm quốc tế Khoa học và Giáo dục liên ngành (ICISE) tại thung lũng Quy Hòa, phường Ghềnh Ráng, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định, do nhà khoa học Trần Thanh Vân từ Pháp về đầu tư xây dựng là một thí dụ cụ thể.
Hơn mười năm trước, khi nghe vợ chồng GS. Trần Thanh Vân trình bày về việc tìm đất đầu tư dự án ICISE, Bí thư Tỉnh ủy Bình Định lúc ấy là ông Vũ Hoàng Hà từng hứa sẽ miễn tiền thuê đất và hỗ trợ tối đa cho các hoạt động giáo dục, khoa học.
Trung tâm quốc tế Khoa học và Giáo dục liên ngành (ICISE) tọa lạc tại phường Ghềnh Ráng, thành phố Quy Nhơn. Công trình do hai kiến trúc sư Pháp Jean Francois Milou và Thomas Rouyrre thuộc Văn phòng Kiến trúc Milou thiết kế với mục đích mang đến một không gian hội nghị, nghiên cứu và nghỉ dưỡng nhiều tiện ích cho giới khoa học. Ảnh: TL
Và rồi, sau hơn mười năm đi vào hoạt động, Trung tâm ICISE đã trở thành cầu nối, nơi hội tụ nhiều giáo sư Nobel, hàng nghìn nhà khoa học nổi tiếng khắp thế giới, giúp nền khoa học Việt Nam tiến thêm một bước dài trong việc tiếp cận nền khoa học thế giới.
Theo GS. Trần Thanh Vân, từ năm 2013 đến nay, ICISE đã tổ chức gần 60 hội nghị khoa học quốc tế và 16 trường khoa học chuyên đề, với sự tham dự của khoảng 5.500 nhà khoa học quốc tế. Trong đó, có 12 người đoạt giải Nobel, 2 giải Fields (được coi là giải Nobel trong toán học), 2 giải Kavli (giải thưởng cao nhất ở lĩnh vực thiên văn học) và một giải thưởng vật lý Dirac (giải thưởng danh giá nhất trong ngành vật lý lý thuyết)...
Tuy nhiên, cũng từ năm 2013 đến nay, ICISE liên tục nhận được thông báo phải nộp tiền thuê đất của Chi cục Thuế TP. Quy Nhơn. Số tiền thuế thuê đất từ năm 2013 - 2019 đối với hơn 14ha đất thuộc dự án ICISE gần 6 tỷ đồng. Theo báo Dân Trí (9.7.2019), Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định Hồ Quốc Dũng cho biết từ năm 2018 đến nay, tỉnh này và GS. Trần Thanh Vân đã nhiều lần có văn bản gửi Thủ tướng Chính phủ và các bộ, ngành trung ương đề nghị miễn tiền thuê đất đối với dự án Trung tâm quốc tế Khoa học và Giáo dục liên ngành (ICISE, tại thung lũng Quy Hòa, phường Ghềnh Ráng, TP. Quy Nhơn).
Tuy nhiên, Bộ Tài chính cho rằng dự án chưa đáp ứng đủ điều kiện để được miễn tiền thuê đất. Thủ tướng cũng chưa kết luận nên thời gian qua tỉnh Bình Định không có cơ sở miễn tiền thuê đất cho ICISE.
Nhằm phát triển nền khoa học kỹ thuật nước nhà và kết nối khoa học kỹ thuật nước ta với thế giới, lẽ ra việc đầu tư một trung tâm như ICISE phải là công việc của Nhà nước. Nhưng Nhà nước với bao nhiêu ban bệ đã không làm thì cũng nên hết lòng hỗ trợ nhà khoa học tự bỏ công sức ra làm. Đàng này...
GS. Trần Thanh Vân buồn bã chia sẻ: “Tôi đề nghị tỉnh Bình Định nếu không miễn tiền thuê đất được, hãy tính toán tiền cho thuê đất đối với chúng tôi ở thời điểm 2008, chứ không phải áp mức thuê đất hiện nay. Chúng tôi sẽ cố gắng xoay xở để trả, một lần hay nhiều lần tùy theo khả năng tài chính. Nếu không giải quyết dứt điểm việc này ngay bây giờ, rất khó thuyết phục các nhà khoa học tiếp tục tham gia hỗ trợ cho các hoạt động khoa học, giáo dục tại ICISE như hiện nay. Tôi thực sự cảm thấy buồn và rất áy náy khi buộc phải giải thích rõ với nhà khoa học quốc tế trong Hội Khoa học Gặp gỡ Việt Nam về việc này”.
Trong khi đó, nhìn sang lĩnh vực khác, chẳng hạn các siêu dự án “du lịch tâm linh”, không phải vài ba chục mà hàng ngàn hecta đất đã được Nhà nước giao cho doanh nghiệp. Quần thể chùa Tam Chúc tại thị trấn Ba Sao, tỉnh Hà Nam, đang xây dựng và dự kiến phải mất thêm 30 năm nữa để hoàn thiện và trở thành ngôi chùa lớn nhất thế giới, có diện tích quần thể lên tới 5.000ha. Còn quần thể chùa Bái Đính tại xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình, xây dựng hoàn tất vào năm 2003, có khuôn viên rộng 539ha bao gồm 80ha khu chùa Bái Đính mới, và 27ha khu chùa Bái Đính cổ.
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thăm không gian khoa học và nhà mô hình vũ trụ tại Trung tâm ICISE ngày 6.5.2018. Ảnh: VGP
Báo Zing (ngày 11.2.2019) viết: Những năm gần đây, quần thể tâm linh đồ sộ đã không còn xa lạ với người Việt Nam. Nổi tiếng nhất phải kể đến khu du lịch Tràng An - Bái Đính mới được xây dựng tại tỉnh Ninh Bình hay quần thể chùa Tam Chúc, ngôi chùa lớn nhất thế giới, nằm trong khu du lịch Tam Chúc - Ba Sao (tỉnh Hà Nam).
Đứng sau cả hai dự án này là Công ty Xây dựng Xuân Trường (có trụ sở tại Ninh Bình), một trong những doanh nghiệp đi đầu cả nước trong việc phát triển du lịch tâm linh ở Việt Nam. Tràng An - Bái Đính hay Tam Chúc nằm trong cả chuỗi “siêu dự án” tâm linh do doanh nghiệp xây dựng này đầu tư. Một vài dự án khác nằm rải rác ở Thái Nguyên, Hải Phòng hay Hà Tây cũ.
Tại Hải Phòng, doanh nghiệp này đang đầu tư 9.800 tỷ đồng làm khu du lịch tâm linh tại đảo Cái Tráp với diện tích 450ha, trong đó khu tâm linh rộng 88,7ha. Số đất dành cho khu dịch vụ là 108ha, trong đó dự kiến xây dựng cả khu biệt thự, câu lạc bộ thủy thủ, casino... Còn tại Thái Nguyên, doanh nghiệp này tuyên bố đầu tư vào dự án Khu du lịch tâm linh Hồ Núi Cốc rộng 18.940ha (gồm diện tích hồ là 2.500ha) với số tiền 15.000 tỷ đồng. Xuân Trường dự định xây tháp Phật giáo lớn nhất thế giới với chiều cao 150m, có thể chứa được 5.000 - 10.000 người cùng lúc. Gần đây nhất, tại Hà Nội, Xuân Trường cũng xin 1.000ha đất để đầu tư làm khu du lịch tại chùa Hương.
Theo Zing, Công ty Xây dựng Xuân Trường không chỉ có thể kiếm doanh thu từ chính công trình tâm linh mà còn từ hạng mục dịch vụ xây kèm. Có lẽ bí quyết thành công, và cũng là lý do doanh nghiệp này được giao nhiều đất, nằm ở chỗ đó. Điều mà một trung tâm khoa học như ICISE không thể nào có được, và so với những siêu dự án tâm linh nói trên thì ICISE chỉ là “muỗi”.
Tất nhiên, nhu cầu tâm linh là một nhu cầu chính đáng của người dân, nhưng những thí dụ và con số nêu trên cho thấy một sự bất cân xứng và bất hợp lý quá đáng trong việc tiếp cận nguồn lực đất đai cho sự nghiệp phát triển nền khoa học kỹ thuật nước nhà. Đối chiếu với mục tiêu hiện đại hóa đất nước, sự bất hợp lý trong phân bổ nguồn lực như trên lại càng nổi bật và người ta phải tự hỏi với tình trạng lầm than, lép vế đó, bao giờ nền khoa học kỹ thuật Việt Nam mới có thể cất cánh.
Đối diện với thách thức ngoài Biển Đông những ngày này, câu hỏi đó càng khiến chúng ta ray rứt. 
Đoàn Khắc Xuyên

Những vỏ bọc hoàn hảo ở Our City - sào huyệt cờ bạc 10.000 tỷ đồng


pno
Tồn tại đến năm thứ sáu, lại nằm ngay mặt đường lớn, nhưng không một ai biết sự có mặt của 380 người Trung Quốc trong khu đô thị Our City.
Chỉ đến khi ổ nhóm cờ bạc này bị bắt, người dân sống xung quanh khu đô thị đó mới giật mình “người ở đâu ra mà lắm thế”.
Bí ẩn tại Our City
Từ quán bia hơi trên đường Phạm Văn Đồng (P.Hải Thành, Q.Kinh Dương, TP.Hải Phòng), nhìn chếch sang phía bên kia là khu đô thị Our City. Vài khách du lịch hỏi bà chủ quán: “Mấy trăm người bị trục xuất khỏi đây, hẳn là bà chủ tiếc lắm?”. Đang chặt thịt gà, bà Hoan cắm phập con dao xuống thớt: “Chả ảnh hưởng gì. Nhà chị có bán được gì cho họ bao giờ đâu. Họ đều tự nấu cơm, chỉ thỉnh thoảng có người sang ăn đĩa bún đậu hay bát phở. Chị bán cho người Việt hay người nước ngoài đều như nhau, mà họ nghĩ chị bán đắt hay sao đó, chẳng bao giờ thấy người nào quay lại lần thứ hai”.
Cùng dãy phố, quán nước kiêm tiệm tạp hóa của bà Loan nằm đối diện khu đô thị Our City. Nhắc chuyện bắt ổ bạc mấy trăm người, bà Loan vẫn chưa hết bàng hoàng: “Khi công an bao vây, bắt tội phạm, chúng tôi mới biết là bên đó có đến mấy trăm người”. Bên khu đô thị Our City, có cái đài phun nước; thỉnh thoảng, cháu bà Loan và mấy đứa trẻ trong khu chạy sang bên đó chơi, nên bà có chạy qua đón cháu về. Bà bấm đầu ngón tay: “Khu này có từ năm Ngọ, đến nay là năm thứ sáu, nhưng tôi chưa bao giờ đến chỗ nào ngoài cái đài phun nước, cũng chưa bao giờ biết về những người sống trong đó”.
Nhung vo boc hoan hao  o Our City - sao huyet  co bac 10.000 ty dong
Một tiệm tạp hóa tại khu đô thị Our City
Bà Loan bảo, bà ấn tượng về người sống bên khu đô thị Our City duy nhất một chuyện, là họ mua hàng rất “chắc”: “Có người mua bao thuốc lá Thăng Long mềm, hỏi bao nhiêu tiền, nghe tôi nói 9.500 đồng, họ lắc đầu, không mua nữa. Có người mua phong kẹo cao su, tôi nói 5.000 đồng, họ trả lại tôi và ra hiệu bảo ở nước họ, giá chỉ 4.000 đồng thôi”. 
Bà Loan nhớ lại: “Khi bên đó xây dựng, công nhân đều là người Trung Quốc, nhưng không bao giờ họ sang bên này mua bán bất cứ thứ gì. Lúc xây xong khu này, họ căng quảng cáo trên xe chạy khắp thành phố, rao “mua một tầng tặng một tầng”. Giá mỗi căn 5-7 tỷ đồng nên cũng không ai quan tâm”.
Ông Lê Văn Hưng - nhân viên của một hãng vận tải, hằng ngày vẫn kiểm tra khách ở khoảng sân lớn của khu đô thị - chợt phỏng đoán: “Căn hộ, giá bảy tỷ ở rìa thành phố thì ai mua? Bảy tỷ bây giờ mua được cả căn biệt thự ven sông trong khu đô thị hiện đại. Có khi nào họ cố ý đưa giá cao để người Việt mình không ai quan tâm?”.
“Phố Tàu” dẹp được, đặc khu thì… khó
Dự án khu đô thị Our City được cấp phép từ năm 2005 và là dự án bất động sản đầu tiên của Việt Nam có 100% vốn đầu tư nước ngoài. Những người dân như bà Loan, ông Hưng vẫn nhớ khi đó, họ được biết Our City sẽ trở thành khu đô thị quy mô, hiện đại tầm cỡ quốc tế, với rất nhiều hạng mục được “vẽ” ra. Nhưng đến bây giờ, sau 14 năm, Our City chỉ có một dãy nhà mặt tiền, chắn ngang tầm mắt người qua lại, chẳng ai biết bên trong có những gì. 
Người dân chỉ thấy những cửa hàng tiện ích, những quán cà phê hoặc nhà hàng mang đậm “màu” Trung Quốc. Khi khu đô thị này chuẩn bị đi vào hoạt động, cháu gái của ông Hưng đã đi học tiếng Trung để xin vào làm ở nhà hàng của Our City. Ông nghe cháu gái kể, nhà hàng đó 100% khách là người Trung Quốc, chưa bao giờ có một vị khách Việt nào, và bất cứ ai không phải là người Trung Quốc đều bị từ chối phục vụ.
Nhung vo boc hoan hao  o Our City - sao huyet  co bac 10.000 ty dong
Một con đường của xã Ngũ Lão, nơi từng được gọi là “phố Tàu”
Ông Hưng thở dài bảo, Our City hoàn toàn là “lãnh địa” của người Trung Quốc, và họ hoạt động quá “hoàn hảo”: “Tôi làm ở đây mấy năm trời, bao lần chờ khách, kiểm khách nhưng hầu như không thấy ai ra vào bao giờ. Chỉ có khoảng 10 người thường xuyên đi lại, ngoài số đó ra, không bao giờ tôi thấy mặt một ai khác. Thỉnh thoảng, có xe 16 chỗ chở người đến, cứ tưởng là khách du lịch Trung Quốc vì bên đó có khách sạn Qbox cho thuê phòng qua mạng, có những đoàn mấy chục người đến ở một thời gian rồi lại đi”. 
Ông Hưng cũng chứng kiến quán ăn, nhà hàng ở Our City luôn đông khách vào buổi tối. Ngày nào cũng có 10-20 xe taxi chở khách Trung Quốc đến ăn. Ông kết luận: “Họ che đậy quá bài bản, như thể đã có “kế hoạch” dài hạn ngay từ khi khu đô thị đi vào hoạt động. Gần 6 năm trời và chừng đó con người không bao giờ thò mặt ra khỏi phòng. Nhà hàng kia là để phục vụ gần 400 người đó. Cơm 80.000 đồng/suất, có người đưa đến tận phòng chứ họ cũng không được ra ngoài ăn”. Đặc biệt, trong 380 người đó, chỉ 27 người có đăng ký tạm trú. 
Bà Loan, bà Hoan, ông Hưng đều thắc mắc: mức tiêu thụ điện, nước của 380 con người là quá khác so với con số 27 người đăng ký, sao đến năm thứ sáu đi vào hoạt động, Our City mới “vỡ ổ chuồn chuồn”?
Nhung vo boc hoan hao  o Our City - sao huyet  co bac 10.000 ty dong
Nơi các đối tượng tổ chức đường dây đánh bạc
Our City không phải là khu “phố Tàu” duy nhất của TP.Hải Phòng. Trước đây, ở các xã Ngũ Lão, Tam Hưng, Minh Đức (H.Thủy Nguyên), từng có những “làng Trung Quốc”, “phố Trung Quốc” với hàng ngàn lao động không có hộ chiếu, visa. Những dãy phố, biển quảng cáo dày đặc chữ Hán được dựng lên để phục vụ người Trung Quốc. Khi dư luận phản ánh, những “phố Tàu” này đã được các cơ quan chức năng xử lý. Thế nhưng, khu đô thị Our City gần như là đặc khu, “nội bất xuất, ngoại bất nhập”. 
Không chỉ người dân, chính quyền cơ sở mà không ít cơ quan chức năng cấp thành phố cũng thừa nhận, việc vào khu đô thị này là rất khó khăn. Đất của Our City thuộc tổ 2A, P.Hải Thành, nhưng ông tổ trưởng Phạm Quang Đảo chưa bao giờ gặp được ban quản lý khu đô thị mỗi khi địa phương có chương trình ủng hộ người nghèo hay vùng bão lụt.
Vì sao Our City lại là nơi “nội bất xuất, ngoại bất nhập?”. Lý do, Our City là khu đô thị có 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài, nên mọi vấn đề liên quan đều do cơ quan chức năng cấp thành phố quyết định. Thậm chí, theo lời nguyên Giám đốc Công an TP.Hải Phòng, “công an hay lực lượng an ninh cũng vậy vì doanh nghiệp nước ngoài này khép kín nên mình vào rất khó khăn”. Còn cấp quận, kể cả có đến làm việc cũng phải có kế hoạch cụ thể và thông báo trước cho ban quản lý khu đô thị. Cùng với đó, là công tác quản lý cư trú đối với người nước ngoài hiện nay đang bị chồng chéo giữa các đơn vị (công an thành phố, sở ngoại vụ, ban quản lý khu kinh tế). 
Chiều 27/7, gần 1.000 chiến sĩ cảnh sát đã bao vây, đột kích khu đô thị Our City, khám xét hơn 100 phòng, tạm giữ 380 người Trung Quốc tham gia đường dây cờ bạc. Cơ quan chức năng xác định, số tiền đã giao dịch trên hệ thống mạng đánh bạc là hơn 3 tỷ nhân dân tệ (khoảng hơn 10.000 tỷ đồng). Tại đây, công an thu giữ gần 2.000 điện thoại di động thông minh, 533 máy tính các loại, nhiều thẻ ngân hàng, tiền mặt, cùng nhiều vật dụng, tài liệu liên quan đến vụ án. Rạng sáng 1/8, Công an TP.Hải Phòng và Bộ Công an đã tổ chức dẫn độ 380 đối tượng người Trung Quốc bị bắt trong chuyên án này ra biên giới Việt - Trung để bàn giao cho công an phía Trung Quốc.
An Vũ - Uông Ngọc
Dấu hỏi lớn về trách nhiệm của cơ quan quản lý
Nhung vo boc hoan hao  o Our City - sao huyet  co bac 10.000 ty dong
Theo pháp luật Việt Nam, hành vi của nhóm đối tượng người Trung Quốc có thể bị truy tố tội “tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc” theo điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Về nguyên tắc, mặc dù các đối tượng tham gia là người Trung Quốc, giả định thực hiện trên không gian mạng của Trung Quốc nhưng vẫn có thể bị truy tố theo pháp luật hình sự Việt Nam vì mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam đều chịu sự điều chỉnh của Bộ luật Hình sự, bất kể người thực hiện hành vi phạm tội là người nước ngoài hay người Việt Nam. 
Tuy nhiên, hiện gần 400 nghi phạm đã được dẫn độ để giao cho công an Trung Quốc tiếp quản, xử lý. Cơ quan chức năng của Việt Nam không tiếp tục điều tra, xét xử các nghi phạm này dù Việt Nam có quyền tài phán. Lý do là bởi Bộ luật Hình sự cũng quy định, nếu người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam, họ phải chịu trách nhiệm hình sự theo pháp luật Việt Nam nhưng trách nhiệm hình sự có thể được giải quyết theo các điều ước quốc tế, tập quán quốc tế (nếu có) hoặc được giải quyết bằng con đường ngoại giao. Giữa Việt Nam và Trung Quốc đã ký kết hiệp định tương trợ tư pháp nên hai quốc gia thực hiện theo thỏa thuận tại điều ước này và thực hiện dẫn độ các nghi phạm về Trung Quốc để xử lý.
Nếu có người Việt Nam tham gia đường dây tổ chức đánh bạc này, các đối tượng đó có khả năng bị truy tố tội “tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc” và họ không thể tránh được việc phải chịu trách nhiệm hình sự tại Việt Nam. Điều khác biệt nằm ở quốc tịch của người thực hiện hành vi phạm tội. Nếu người nước ngoài vi phạm pháp luật thì quốc gia mà đối tượng đó mang quốc tịch có thể yêu cầu dẫn độ về nước để điều tra, xử lý. Mục đích của hoạt động dẫn độ tội phạm là nhằm tăng cường quan hệ hợp tác giữa các quốc gia trong đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Trong vụ này, việc khu đô thị Our City tại TP.Hải Phòng được lấy làm “đại bản doanh” của gần 400 nghi phạm người Trung Quốc, hoạt động trong một thời gian dài mà không bị phát giác khiến tôi đặt dấu hỏi lớn về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc quản lý người nước ngoài.
Theo quy định của pháp luật hiện hành, khi người nước ngoài đến Việt Nam thì các cơ quan có thẩm quyền quản lý là cơ quan xuất nhập cảnh, cơ quan quản lý cư trú, chính quyền địa phương (các cấp phường, quận, thành phố). Nhiều cơ quan có thẩm quyền quản lý thì đương nhiên có sự chồng chéo, thiếu kết nối thông tin và phối hợp thực hiện. 
Gần 400 người Trung Quốc nhưng chỉ có vài chục người có giấy tờ tạm trú, có nghĩa rằng, công tác quản lý về cư trú có vấn đề. Chính quyền phường, quận thừa nhận khả năng tiếp cận của các cấp này đối với khu đô thị Our City bị hạn chế do thẩm quyền quản lý thuộc về chính quyền thành phố. Việc để chính quyền thành phố quản lý thì đương nhiên sẽ không sát sao và kịp thời được.
Tôi nghĩ rằng, quy định của pháp luật là một chuyện, nhưng quan trọng là việc thực thi các quy định đó - hay nói cách khác là công tác quản lý trên thực tế - như thế nào mới là vấn đề cần quan tâm và bàn luận. Việc cần thiết phải làm hiện nay là tìm ra giải pháp phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan khác nhau trong việc quản lý người nước ngoài tại Việt Nam. Trong đó có sự cân nhắc giữa việc đảm bảo chính sách mở cửa để thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, nhưng vẫn bảo đảm trật tự xã hội cũng như công tác phòng, chống tội phạm và đồng thời không ảnh hưởng đến quan hệ quốc tế giữa các quốc gia.
Luật sư Lê Văn Hồi (Công ty luật My Way)