Thứ Ba, 3 tháng 1, 2023

QUY HOẠCH SÀI GÒN TRƯỚC 1975 DƯỚI ẢNH HƯỞNG CỦA HOA KỲ

 

Bản đồ Sài Gòn và vùng phụ cận vào thập niên 60.

“Đà phát-triển trong quá khứ, từ thành-phố cổ, thường hướng theo phía Bắc dọc theo những giải phù sa cổ. Kế-hoạch phát-triển tương lai cũng sẽ theo đường hướng nầy, và bất cứ một kế-hoạch thực-tế nào nhắm hướng dẫn sự phát-triển Thủ đô Sàigon cũng phải nhận thức ro những yếu-tố nầy” – Đề xuất về hướng phát triển cho Sài Gòn trong Đồ án Quy hoạch bán đảo Thủ Thiêm năm 1972.

Quy hoạch sư Nguyễn Đỗ Dũng

Từ giữa thập niên 60, chính phủ Hoa Kỳ thông qua Cơ quan Phát triển Quốc tế USAID đã hỗ trợ kỹ thuật cho phía miền Nam Việt Nam về quy hoạch đô thị. Kể từ thời gian này, rất nhiều các đồ án quy hoạch và nghiên cứu  về đô thị quy mô và có chất lượng tại miền Nam được thực hiện. Trong bài viết này, tôi giới thiệu sơ bộ cách tiếp cận của một số đồ án này mà không đi sâu về các đề xuất quy hoạch của từng đồ án – đây sẽ là chủ đề cho các bài giới thiệu sau.

Điển hình là hai đồ án quy hoạch do hai công ty rất có tên tuổi trên thế giới lúc đó thực hiện: Quy hoạch chung thành phố Sài Gòn do công ty Doxiadis Associates – Consultants on Development and Ekistics[i] (Hy Lạp) lập năm 1965 và Quy hoạch phát triển Thủ Thiêm do công ty Wurster, Bernardi and Emmons[ii] (Hoa Kỳ) chủ trì lập năm 1972 thực hiện. Bên cạnh đó, Frank Pavick và James Bogle lần lượt thực hiện những báo cáo chi tiết về hoạt động quy hoạch đô thị ở miền Nam và những vấn đề của thành phố Sài Gòn. Cũng tác giả Frank Pavich sau đó còn thực hiện Khảo sát sử dụng đất tại Vùng đô thị Sài Gòn cho Tổng Nha Kiến thiết và Thiết kế Đô thị[iii]. Những tại liệu này không chỉ cung cấp những thông tin hữu ích về một phần lịch sử phát triẻn của thành phố cũng như lĩnh vực quy hoạch tại miền Nam, chúng còn cung cấu một mô hình thực hiện quy hoạch hoàn chỉnh trong điều kiện kinh tế thị trường và dựa vào phân tích khoa học hơn là các yếu tố thị giác đơn thuần – những vấn đề mà ngành quy hoạch Việt Nam đương đại, vốn xuất thân kiến trúc và trong điều kiện kinh tế chỉ huy, đang rất bối rối.

Các đồ án quy hoạch nêu trên mặc dù nghiên cứu rất kỹ lưỡng không chỉ về kiến trúc, khí hậu, đất đai mà còn cả nhu cầu giao thông giữa các khu vực và kinh tế/tài chính. Các hồ sơ quy hoạch thường kết thúc với phần đưa ra giải pháp triển khai, tài chính dự án và cả đề xuất rất cụ thể về chính sách cũng như luôn kèm theo thiết kế chi tiết một dự án thí điểm.

Nghiên cứu các hướng phát triển của Sài Gòn theo trình tự thời gian trong hồ sơ của Bogle (c).

Biểu đồ về giá đất cho phép theo tỷ lệ sử dụng đất và chi phí san nền trong hồ sơ của DA (a).

Dự báo năng lực tài chính địa phương cho đầu tư vào nhà ở giai đoạn 1965 - 2000 tại vùng Sài Gòn trong hồ sơ của Dioxiadis Associates (a).

Những đồ án hoàn chỉnh và sâu sắc

Hồ sơ đồ sộ của Dioxiadis Associates (a) giống một nghiên cứu tổng thể quy mô về khí hậu, đất đai, địa hình – địa mạo, dân số, nhà ở và năng lực tài chính không chỉ của Sài Gòn mà cả miền Nam lúc đó hơn là một đồ án quy hoạch đơn thuần. Chương trình đồ sộ của Đồ án thể hiện qua 6 phần:

  • Phần I: Chương trình phát triển cho vùng đô thị Sài Gòn – Chợ Lớn trong vòng 30 năm với liệt kê chi tiết nhu cầu phát triển và tài nguyên cần thiết để thỏa mãn nhu cầu này.
  • Phần II: Đề xuất tổ chức hành chính cần thiết đề triển khai chương trình trên bao gồm cơ chế hành chính của chính phủ, sự tham gia của các thể chế tư nhân, tổ chức và ngân hàng.
  • Phần III: Một dàn ý kế hoạch để hướng dẫn sự phát triển của vùng đô thị Sài Gòn – Chợ Lớn trong đó có định hình nội dung của quy hoạch, của các nghiên cứu cần thiết thực hiện và cách thực hiện chúng, xác định những điều kiện cho phép triển khai thực hiện ngay lập tức tại một số khu vực trước khi quy hoạch được lập.
  • Phần IV: Nghiên cứu so sánh các loại hình nhà ở phù hợp với khí hậu Việt Nam.
  • Phần V: Nghiên cứu so sánh tính chất các loại đất đai trong vùng (khô ráo, bán ngập, cao, thấp, v.v…) và chi tiết về giá trị và loại hình phát triển phù hợp cho từng loại.
  • Phần VI: Mô tả chi tiết và đề xuất về các loại vật liệu địa phương và nhập khẩu cũng như nền công nghiệp vật liệu tại địa phương.
  • Phần VII: Mô tả về nguồn nhân lực trong nước để lập và thực hiện chương trình và đề xuất về đào tạo nhân lực (công nhân xây dựng, thợ mộc, nhân viên khảo sát, họa viên, kiến trúc, kỹ sư, quy hoạch sư,v.v…).
  • Phần VIII: Quy hoạch tổng thể một dự án thí điểm thử nghiệm cho khoảng 10,000 ngôi nhà phù hợp với môi trường Việt Nam. Đề xuất quy hoạch chi tiết cho một khu dân cư đầu tiên với khoảng 1000 căn nhà cho dự án trên. Dự án này sẽ giúp cung câp thông tin về các vấn đề nảy sinh trong quá trình triển khai chương trình phát triển này cũng như đào tạo nhân lực và đề trình bày những gì là khả thi.

Bản đồ minh họa quy hoạch Thủ Thiêm của WBE năm 1972 (b).

Đề xuất về hệ thống giao thông vùng và kết nối hai bờ sông Sài Gòn trong đồ án Thủ Thiêm của WBE năm 1972 (b).

Đồ án Thủ Thiêm năm 1972 là một ví dụ khác. Khẳng định sự thất bại của đồ án quy hoạch trước (ví dụ: Đồ án Thủ Thiêm năm 1968) là do “dựa trên việc sưu tầm thiếu sót vào những đặc tính thể chất của địa điểm và vô số các yếu tố khác ảnh hưởng đến việc phát triển”[iv], đồ án Thủ Thiêm năm 1972 bao gồm các phần Sưu-khảo (nghiên cứu) sau (a):

  • Thiết kế thể chất (quy hoạch vật thể): thu thập dự liệu về dân số và đặc điểm đất đai của vùng Sài Gòn (SMA). Xu hướng phát triển được so sánh với các yếu tố vật thể mà sẽ ảnh hướng việc phát triển SMA trong những thập niên tới.
  • Kỹ thuật: địa chất được nghiên cứu để tìm phương pháp san nền  tốt nhất cho khu vực thấp và ngập nước. Hệ thống kênh rạch được khảo sát và các dòng kênh chính được vẽ mặt cắt để nghiên cứu.
  • Vận tải: nghiên cứu về lưu lượng giao thông cho hệ thống đường nội bộ của bán đảo[v]. một phân tích về các giải pháp vượt sông Sài Gòn được chuẩn bị để đánh giá về phương pháp và chi phí.
  • Kinh tế: giá trị đất đai và sử dụng đất được dự báo cho thời gian 30 năm tới và những giả thuyết về khả năng đáp ứng nhu cầu phát triển của bán đảo được đặt ra. Một phân tích phí tổn-lợi ích (cost-benefit analysis) cho từng phương pháp và một sơ đồ về dòng tiền (cash flow) đầu tư công cho bán đảo được thực hiện. Nguồn tài chính bên ngoài và năng lực của các thể chế tài chính địa phương được nghiên cứu.
  • Những yếu tố khác: những chính sách và luật lệ của chính quyền được đánh giá về tác động của chúng đối với phát triển đô thị.

Và như kết luận trong phần Sưu-khảo , những nghiên cứu này vượt khỏi phạm vi của bán đảo Thủ Thiêm và hữu ích đối với việc phát triển thành phố nói chung. Đồ án Thủ Thiêm năm 1972 thẳng thắn phê phán mô hình phát triển tuyến tính do Doxiadis đề xuất vì quá áp đặt và dồn lưu lượng giao thông theo tuyến vượt sông Sài Gòn xuyên bán đảo. Đồ án cũng phê phán mô hình đô thị vệ tinh[vi] vì đòi hỏi quá lớn vai trò của chính phủ trong hiện thực hóa quy hoạch. Đồ án đề xuất thành phố tiếp tục những gì thực tiễn đang phản ánh: phát triển dọc trục Đông-Bắc dọc theo mảng đất cao và ổn định.

Ba phần thú vị nhất của đồ án là những thảo luận về việc kết nối hai bờ sông Sài Gòn, phần về tài chính và phần đề xuất chính sách. Dựa trên những nghiên cứu về giao thông và giá trị đất đai, đồ án yêu cầu thành phố sớm hoàn thành tuyến đường vành đai về phía Nam để giảm lưu lượng giao thông xuyên qua trung tâm và kết nối vơi sân bay tương lai[vii], di dời Tân Cảng và Xưởng đóng tàu Hải Quân (Ba Son) để xây cầu thấp kết nối trực tiếp đại lộ Hàm Nghi và đường Nguyễn Bỉnh Khiêm sang Thủ Thiêm[viii]. Cuối cùng, trong nhiều chính sách được đề xuất, nổi bật là việc đề nghị đưa vào hệ thống thuế dựa vào giá trị bất động sản (assessment tax), mở rộng địa giới đô thị để bao gồm vùng nông thôn xung quanh và 20% đất ở triển khai bởi Cơ quan Phát triển Điền địa[ix] sẽ là nhà cho người thu nhập thấp thuê và trợ giá 50%.

Quang cảnh trên đường Tự Do, nay là đường Đồng Khởi, vào năm 1961. Ảnh tạp chí Life.

Chiến tránh xảy ra tại vùng nông thôn khiến dân số Sài Gòn tăng đột biến. Nhà ổ chuột ven kênh là kết quả của quá trình này khi lượng dân nhập cư từ nông thôn quá lớn.

Những lực cản của quy hoạch

Các đồ án và nghiên cứu này tất nhiên không nhất thiết phản ánh chất lượng thực sự của công tác quy hoạch và nghiên cứu đô thị tại miền Nam lúc đó vốn vẫn bị ảnh hưởng của trương phái Beaux Arts do người Pháp để lại (b). Rất khó có thể đánh giá được mức độ tác động của các đồ án và nghiên cứu này vào hoạt động quy hoạch tại miền Nam. Điều kiện chiến tranh và ngân sách eo hẹp không cho phép triển khai những đồ án này. Ngoài ra, theo đánh giá của Seltz vào năm 1970, quá trình chuyển giao công nghệ không thực sự diễn ra do nhân lực chuyên môn yếu kém trong các cơ quan của chính phủ và nguồn tiền tài trợ dồi dào khiến tư vấn nước ngoài có khuynh hướng sử dụng nhân lực ngoại quốc hơn là địa phương (a). Các nghiên cứu và bài báo về hoạt động quy hoạch ở miền Nam cũng lột tả tương đối những vấn đề của đô thị và xã hội lúc đó. Rất nhiều những vấn đề nêu ra nay có thể quan sát thấy trong xã hội và hoạt động quy hoạch đương đại. Ví dụ, Michael Seltz (a), một nhà quy hoạch làm việc trong một nhóm cố vấn cho thị trường Sài Gòn rằng 3 yếu tố tác động tiêu cực đến quy hoạch (ngoài chiến tranh) là: 1/ thiếu thông tin; 2/ nạn tham nhũng khiến việc hợp tác đa ngành không thể diễn ra; 3/ chính quyền địa phương yếu và không có vai trò độc lập với chính quyền trung ương; và 4/ thiếu nguồn tài chính. Dưới đây là lược dịch đoạn tác giả nói về ba vấn đề đầu tiên:

… Quy hoạch Sài Gòn ngày nay gặp khó khăn bởi thiếu thông tin. Không có con số dự báo chính xác về dân số thành phố. […] Không có nghiên cứu về các hoạt động kinh tế cơ bản để trả lời câu hỏi về tỷ lệ các ngành công nghiệp và lao động. […] Không có phân tích mở mức độ khu dân cư cho thấy điều kiện về nhà ở và công trình công cộng. Rất ít các bản đồ tốt thông tin về thuế má. Không có các chương trình tài chánh và thông tin về sử dụng đất mới chỉ bắt đầu manh nha.

… Một nhà quy hoạch, một trong số các nhà quy hoạch của (chính phủ) Diệm nói với tôi, không thể làm việc độc lập như một bác sĩ hay luật sư. Anh ta cần hợp tác với rất nhiều các nhóm trong cộng đồng. Nhưng sự hợp tác đó không hề tồn tại ở Sài Gòn. Bất chấp thực tế là Chính phủ Việt Nam là một chính quyền độc tài quân sự, có rất nhiều những trung tâm quyền lực (khác nhau) trong lòng hệ thống hành chính không chấp nhận những nỗ lực hợp tác. […] (tôi) được kể rằng nỗ lo sợ của người Việt Nam về sự thống nhất (unitary) chiếm lĩnh rất nhiều cơ quan và các đầu mối quyền lực liên quan, bởi vì người lãnh đạo (các cơ quan này) có thể kiếm rất nhiều tiền thông qua việc ăn đút lót.

Thêm vào việc thiếu thông tin quy hoạch, nạn tham nhũng và phan tán quyền lực giữa các cơ quan trong bộ máy hành chính, là một thực tế rằng thành phố Sài Gòn không (được vận hành) độc lập. Thị trưởng, trong thực tế, chỉ là một quan chức nhỏ trong chính phủ, phải báo cáo công việc trực tiếp cho tướng chỉ huy quân khu. Ngân sách của ông ta thì bị kiểm soát bởi Bộ Tài Chánh, cơ quan đồng thời nắm sở kế toán của thành phố và là nguyên nhân khiến thành phố thanh toán chậm trễ cho các chủ nợ. Các bộ khác nhau của chính quyền quốc gia quản lý các chức năng quan trọng của thành phố, như là giáo dục phổ thông và công chánh. Đôi khi, người ta cho là những bộ này cố tình đình hoãn các dự án của thành phố để giữ lại một khoản ngân sách (cho riêng mình) vào cuối năm vốn có thể bị trưng thu bởi các bộ khác (b).

Bản đồ tổng hợp tính phù hợp của đất đai cho phát triển đô thị trong đồ án quy hoạch vùng Sài Gòn năm 1974 (e).

Phương án Lưỡng trục thiên Nam - một trong 3 phương án và là phương án giống quy hoạch hiện nay nhất trong đồ án quy hoạch vùng Sài Gòn năm 1974 (e).

Bước đi dài và cuối cùng của quy hoạch tại miền Nam trước 1975?

Tuy nhiên, ở một mặt khác, tài liệu quy hoạch tổng thể cuối cùng cho Sài Gòn mà tôi có: Kế hoạch phát triển vật thể vùng thủ đô năm 1974 được ghi là thực hiện bởi Nha Thiết kế Thị thôn thuộc Bộ Công chánh và Giao thông là một đồ án rất khoa học và thể hiện sự tiếp thu các đồ án trước đó do người nước ngoài thực hiện. Mở đầu phần I: Phúc trình tiên khởi, bản kế hoạch này xác định :

Phúc-trình này sẽ diễn-tả lần lượt các nhu-cầu được ước-toán, khả năng cung-ứng của đất-đai và một số giải-pháp đề-nghị.

Đồ án ứng dụng phương pháp chồng lớp bản đồ bằng công nghệ thông tin để xác định sử dụng đất phù hợp và thậm chí cả mô hình giao thông cho mỗi khu vực trong toàn vùng đô thị Sài Gòn (bao gồm cả Biên Hòa, Thủ Dầu Một và Nhơn Trạch) và đưa ra quy hoạch cấu trúc có tính định hướng. Trong chương 6: Kết-luận và Đề-nghị, phương pháp được tổng kết vắn tắt như sau:

… các khu vực đều được phân thành ô vuông, mỗi ô có diện tích 1 cây số vuông. Đặc-tính về đất-đai của mỗi ô đều được phân-tích và lượng-giá trên một họa-đồ, miêu-tả bằng các màu sắc đậm lợt ấn-định tùy theo mức độ khả-thi của khu vực. Tất cả các loại họa-đồ này được xếp chồng lên nhau để xác-định họa-đồ tổng-hợp các loại đất-đai khả-dụng.

[…] Đặc-tính thiên-nhiên và nhân-tạo của mỗi ô vuông được ghi nhận bằng các mã-số và ký-hiệu, rồi sẽ tùy theo mật-độ quy-định tại mỗi ô vuông, máy tính điện-tử sẽ ước-toán ra số chi-phí thị-tứ-hóa cho mỗi khu-vực và cho toàn-thể giải-pháp.

[…] Máy tính điện-tử cũng được xử-dụng để giải các mô-thức lưu-thông (một tập-hợp công-thức toán-học phức tạp) và ấn-định các ma-trận di-chuyển (interchange matrix) rồi từ đó suy ra sườn đạo-lộ.

Những phương pháp trình bày ở đây: phân tích sử dụng đất bằng chồng lớp bản đồ (land use suitability analysis) và ấn định hành trình bằng ma trận (trip assignment) cho mỗi khu vực giao thông trong thành phố để từ đó suy ra lưu lượng vẫn là những phương pháp cơ bản được giảng dạy trong các trường quy hoạch tại Hoa Kỳ ngày hôm nay như tôi đang được học. Những phương pháp này tuy nhiên ít được biết tới trong giới quy hoạch đô thị và không được giảng dạy tại Việt Nam ngày hôm nay.

Nếu đây quả thực là một đồ án do người Việt Nam thực hiện, nỗ lực quy hoạch này xứng đáng được tôn vinh và ghi nhận trong lịch sử như là sự chuyển biến từ quy hoạch mang tính thiết kế kiến trúc sang một bộ môn khoa học tổng hợp về phát triển vùng lãnh thổ. Đáng tiếc là di sản này sau đó không được tiếp thu và chìm vào quên lãng sau 1975[x] để tới hôm nay thế hệ các nhà quy hoạch được đào tạo trong nhà trường Xã hội Chủ nghĩa khá bối rối trước nền kinh tế thị trường nơi mà quyết định thiết kế, xây dựng và sử dụng công trình và khu đô thị không còn thuộc độc quyền của nhà nước (và do đó kiến trúc không còn vai trò quan trọng trong quy hoạch như trước).

Nay đã có trong tay tất cả những tài liệu trên nhưng với quy mô đồ sộ của chúng, tôi cần thời gian để nghiên cứu và lần lượt giới thiệu chúng trên trang blog đô thị này.


[i] Doxiadis Associates (DA) đứng đầu bởi kiến trúc sư người Hy Lạp Constantinos Doxiadis là một trong những công ty tư vấn quy hoạch đô thị có ảnh hưởng nhất thế giới vào thập niên 1960. Một trong những công trình quan trọng nhất được hiện thức hóa của DA là thủ đô Islamabad của Pakistan.

[ii] Wurster, Bernardi and Emmons (WBE) là công ty kiến trúc có trụ sở chính ở San Francisco (Hòa Kỳ). Công ty được lập ra bởi William Wilson Wurster, người sáng lập Trường Thiết kế Môi trường tại Đại học Californai – Berkely, và sau đó có sự tham gia của hai đối tác trẻ là Bernardi và Emmons. Donn Emmons là người chịu trách nhiệm về đồ án Thủ Thiêm 1972.

[iii] Thiết kế đô thị (urban design) mà chúng ta hiểu ngày nay là một lĩnh vực mới phát triển vào khoảng giữa thập niên 60 nhằm lấp khoảng trống giữa kiến trúc và quy hoạch. Trong trường hợp tên gọi của cơ quan này, cụm từ thiết kế đô thị chỉ quy hoạch đô thị và do đó được dịch ra tiếng Anh vào thời điểm đó trong các tài liệu của USAID là urban planning.

[iv] Bản dịch tiếng Việt của đồ án có nhiều lỗi (ngoài yếu tố ngôn ngữ tại miền Nam vào thời điểm đó), tuy nhiên để phản ánh không khí của đồ án, tôi trích nguyên văn và chú thích thêm để độc giả hiểu.

[v] Tôi chưa thấy đồ án quy hoạch chung nào ở Việt Nam ngày nay thực hiện nghiên cứu lưu lượng giao thông. Nếu quý vị nào biết xin thông tin.

[vi] Các quy hoạch chung ngày nay, từ Hà Nội tới Tp HCM vẫn theo đuổi mô hình này mà không đề cập tới những mặt trái của nó.

[vii] Tuyến đường này chính là đại lộ Nguyễn Văn Linh hôm nay và sân bay quốc tế Long Thành trong tương lai.

[viii] Riêng đề tài kết nối hai bên bờ sông Sài Gòn là một câu chuyện thú vị mà tôi sẽ kể vào một dịp khác.

[ix] Cơ quan triển khai dự án phía chính quyền.

[x] Giáo sư Trương Quang Thao và sau đó một số sinh viên cao học và nghiên cứu sinh của ông có nghiên cứu các đồ án này tại trường Đại học Kiến trúc TP HCM. Nhờ giáo sư Thao mà tôi cũng lần đầu tiên biết đến các tài liệu này vào năm 2009. Các tài liệu để viết bài này là tư liệu lưu trữ của các thư viện đại học tại Mỹ.

Thứ Hai, 2 tháng 1, 2023

Trước thềm năm mới và thời đại mới

 Nguyễn Quang Dy

Những đợt rét đậm kéo dài trong mùa giáng sinh (2022) như muốn báo hiệu một năm mới bất thường (2023), và một thời đại mới bất định. Thế giới chưa thoát khỏi đại dịch Corona thì chiến tranh Ukraine đã ập tới. Đến nay, Trung Quốc vẫn chưa thoát khỏi đại dịch vì chính sách “zero Covid”, làm dân chúng “tức nước vỡ bờ”. Dù các nước có thoát khỏi đại dịch thì còn lâu mới thoát khỏi hệ quả nặng nề đối với hệ thống y tế và nền kinh tế.   

Biến số khó lường

Sau hai thập niên khởi đầu thế kỷ 21, loài người đã bị sốc bởi hai sự kiện khó lường. Một là đại dịch Corona đã làm 15 triệu người chết (theo WHO, tính đến tháng 5/2022), làm cho nhiều quốc gia, kể cả siêu cường cũng bị khủng hoảng. Hai là cuộc chiến tranh Nga-Ukraine đã làm cho hàng trăm ngàn lính Nga và Ukraine bị chết (theo các nguồn báo chí), và hàng chục triệu người dân Uktraine phải sơ tán khỏi quê hương (theo UNHCR).  

Cuộc chiến tranh Nga-Ukraine không chỉ làm cho số người chết ngày càng tăng, và nhiều thành phố của Ukraine bị phá hủy (destruction), mà nó còn làm cho nước Nga bị suy sụp từ bên trong (implosion). Cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn chưa có hồi kết, không chỉ làm thay đổi vận mệnh của nước Nga và Ukraine, mà còn làm đảo lộn cả trật tự thế giới. Đó không phải là “xung đột giữa các nền văn minh” hay do “ba dòng thác cách mạng”.

Có thể nói đó là một hệ quả của chủ nghĩa dân tộc cực đoan (ultra-nationalism) bị thao túng bởi các nhà độc tài kiểu mới như Putin, Tập Cận Bình, và Donald Trump, làm khuynh đảo thế giới. Nói cách khác, lịch sử chưa thể kết thúc như Franscis Fukuyama đã tuyên bố (the End of History, 1992), mà nó đang bị thao túng. Trong thời đại mới, một số học thuyết cũ của chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa tư bản có thể trở thành truyện cổ tích.

Chủ nghĩa dân tộc thường là động lực để các quốc gia khởi nghiệp và phát triển. Người Do Thái đã từng bị ruồng bỏ và mất cả tổ quốc, nhưng một khi có được mảnh đất Israel sau chiến tranh,  họ đã trỗi dậy thành một cường quốc, do chủ nghĩa dân tộc Do Thái. Nhưng chủ nghĩa dân tộc cực đoan có thể đầu độc tư tưởng và xô đẩy loài người vào tai họa chiến tranh và diệt chủng. Nước Đức Quốc xã là một tai họa, và Khmer Đỏ là một bài học.

Sai lầm chiến lược của Putin đang biến ông từ người có công phục hưng nước Nga nay bỗng  thành tội đồ lịch sử và “tội phạm chiến tranh”. Sau Ukraine, nước Nga “hậu Putin” chắc sẽ là một nước Nga khác, cũng như nước Đức “hậu Hitler” là một nước Đức khác. Nếu một người dân mắc sai lầm thì gia đình và hàng xóm bị vạ lây. Nếu lãnh đạo một cường quốc mắc sai lầm thì sẽ là bi kịch vì không chỉ nước đó mà cả thế giới chịu tai họa.

Liệu Tập Cận Bình có rút được kinh nghiệm để tránh sai lầm chiến lược như Putin hay không? Rất khó nói, nhất là đối với Đài Loan và Biển Đông. Một khi tham vọng quyền lực và ảo tưởng khôi phục đế chế trong quá khứ đã ngấm vào máu và tiềm thức như ma túy thì rất khó buông bỏ. Cụ Hồ từng nói “đế quốc đánh chết cái nết không chừa”. Đó là bi kịch do “Sự Ngạo mạn của Quyền lực” (the Arrogance of Power, William Fulbright, 1966).

Giọt nước tràn li

Sau Đại hội 20, chuỗi chỉ huy (chains of command) ở Bắc Kinh đang bị rối vì có hai trung tâm chỉ huy: một do “cựu thủ tướng” Lý Khắc Cường lãnh đạo, và hai do “tân thủ tướng” Lý Cường lãnh đạo. Trong tình huống bất cập đó, các cấp dưới không biết phải tuân theo mệnh lệnh của ai, nên cách tốt nhất để bảo vệ mình là “không làm gì”. (As COVID soars, China has 2 chains of command, Katsuji Nakazawa, Mikkei, December 22, 2022).

Làn sóng biểu tình “giấy trắng” đã nổ ra tại nhiều thành phố và địa phương, trong môt nửa đất nước Trung Quốc, đã làm cho Bắc Kinh bất ngờ và làm rung chuyển thế giới. Một mặt, Tập Cận bình không thể để mất mặt và mất kiểm soát, nhưng mặt khác Bắc Kinh không thể đàn áp như tại Thiên An Môn. Trung Quốc phải nới lỏng và bỏ phong tỏa từ 8/1/2023 để tháo ngòi và kéo dài thời gian để tìm cách đối phó với làn sóng biểu tình.

Chính sách zero-covid kéo dài đã làm “giọt nước tràn li”, nhưng bỏ phong tỏa có thể làm gia tăng lây nhiễm. Theo WHO, dịch đã bùng phát trước khi Bắc Kinh nới lỏng phong tỏa. Các chuyên gia dự kiến dịch sẽ bùng phát theo ba giai đoạn:  Một là dịp lễ Giáng sinh và Năm mới (hiện nay). Hai là dịp nghỉ Tết Nguyên Đán khi người dân đổ về quê (hạ tuần tháng 1/2023). Ba là dịp người dân quay trở về thành phố làm việc (tháng 2/2023).

Theo China Insight, trong 3 tháng tới, 60% dân số Trung quốc (khoảng 800 triệu người) sẽ bị lây nhiễm. Trung bình mỗi ngày có 5.000 đến 9.000 người chết. Các bệnh viện và nhà xác đã quá tải, các lò hỏa táng đã chạy hết công suất mà vẫn còn hàng dài chờ đợi. Người giàu Trung Quốc tuyệt vọng, đang ra đi ồ ạt (ước tính 10 ngàn người). Một số chính phủ các nước như Mỹ, Đức, Ý, Nhật, Ấn Độ, đã ngừng cấp visa cho người Trung Quốc.

Vaccine của trung quốc chứng tỏ không hiệu quả, nhưng ba năm qua Trung Quốc đã xuất khẩu rất nhiều như “vaccine diplomacy”, nay mới phải nhập của nước ngoài. Đây là một bi kịch vì Trung Quốc gặp tai họa thì các nước láng giềng như Việt Nam cũng bị vạ lây. Trong một thế giới toàn cầu hóa và phụ thuộc lẫn nhau thì việc đóng cửa biên giới và hủy các chuyến bay đến từ Trung Quốc là một biện pháp cần thiết nhưng khó khả thi.    

Điều đáng sợ nhất là khả năng virus corona sẽ biến thể thành chủng mới nếu có hàng trăm triệu người lây nhiễm. Khi đó, biến thể mới sẽ xuất hiện và bắt đầu quá trình hủy diệt, giáng một đòn nặng nề cho Trung Quốc vì có tỷ lệ dân số già khá cao. Các chuyên gia dự báo đến mùa xuân, ít nhất một phần ba dân số Trung Quốc sẽ bị lây nhiễm. Ác mộng về “cơn hồng thủy Corona” cách đây ba năm nay đang quay lại đe dọa Trung Quốc và thế giới.

Bàn cờ Mỹ-Trung

Thei giáo sư Minxin Pei (Claremont McKenna College) quyền lực của một nhà lãnh đạo chuyên chế luôn có giới hạn. Nói cách khác, Tập Cận Bình tuy giành được nhiệm kỳ thứ ba nhưng sẽ phải trải nghiệm “nghịch lý quyền lực” (the power paradox, Dacher Keltner). Theo nghịch lý đó, càng có nhiều quyền lực, thì Tập càng cảm thấy bất an. (Xi Jinping and the Paradox of Power, Minxin Pei, 

Tại Đại hội 20, Tập đã tìm mọi cách lấp đầy Bộ Chính trị và Ban Thường vụ BCT bằng những người trung thành với mình. Vào phút cuối, Tập đã thẳng tay loại hai nhà cải cách hàng đầu là Thủ tướng Lý Khắc Cường và Phó Thủ tướng Uông Dương, cũng như ngôi sao trẻ đang lên là Ủy viên Bộ Chính trị Hồ Xuân Hoa, được ông Hồ Cẩm Đào bảo trợ. Việc loại bỏ các đối thủ như vậy chắc sẽ tạo ra những kẻ thù không đội trời chung.

Quyền lực tuyệt đối của Tập nếu không được kiểm soát có thể gây ra xung đột nội bộ và cản trở quản trị hiệu quả. Chiến thắng của Tập tại Đại hội 20 không phải là đảm bảo cho thắng lợi trong tương lai của ông. Quyền lực mà ông giành được tại Đại hội 20 có thể rất quan trọng để cơ cấu lãnh đạo ở cấp cao nhất và ngăn chặn thách thức đối với quyền lực của ông, nhưng quyền lực đó không hữu dụng mấy để ông thực hiện các chính sách của mình.

Nhiều chuyên gia hàng đầu cho rằng Trung Quốc như một người khổng lồ “đang đứng bên bờ vực thẳm”. Đó không phải là tin mừng: một Trung Quốc suy thoái có thể còn nguy hiểm hơn là một Trung Quốc đang trỗi dậy. Nguy hiểm nhất là Trung Quốc đánh chiếm Đài Loan. Để tránh những rủi ro đó, Mỹ cần mau chóng điều chỉnh ưu tiên chiến lược. (China’s Dangerous Decline, Jonathan Tepperman, 

Theo Matt Potinger, cần kiềm chế tham vọng của Tập Cận Bình ngay bây giờ hơn là chờ đến khi họ đã tiến hành những bước quyết định khó đảo ngược như tấn công Đài Loan. Nếu Mỹ và đồng minh tiến hành ngay các biện pháp cứng rắn buộc Trung Quốc phải phụ thuộc vào thế giới thì mới kiềm chế được tham vọng của Tập. (Xi Jinping in His Own Words, Matt Potinger, Matthew Johnson, David Feith, Foreign Affairs, November 30, 2022).

Đó không hẳn là “kiềm chế” (containment) mà là “hạn chế” (constrainment) như Pottinger đã mô tả. Một chính sách hạn chế, khác với kiềm chế, tính đến thưc tế hiện nay về sự “tùy thuộc kinh tế” (economic interdependence) nhưng có lợi cho Mỹ. Hạn chế là tìm cách làm giảm lòng tin của Bắc Kinh rằng họ có thể đạt mục đích bằng chiến tranh và làm Bắc Kinh mất lạc quan rằng họ có thể tích lũy được lợi thế so với Mỹ và đồng minh. 

Còn nước còn tát  

Đại dịch Corona cũng như biến đổi khí hậu là dịp để tăng cường đồng thuận quốc gia và liên kết quốc tế nhằm đối phó với các thách thức mới. Nhưng đó cũng là cơ hội để các nhóm lợi ích thân hữu lợi dụng nhằm trục lợi. Các đại án như “test kit” (Việt Á) và “chuyến bay giải cứu” là ví dụ điển hình về tham nhũng chính sách đã “chuyển hóa” thành lũng đoạn nhà nước. Nhiều quan chức cấp cao của các ngành liên quan bị kỷ luật và bắt giam.

Điều đó phản ánh thực trạng phức tạp của thời kỳ quá độ có những vùng xám và mảng tối đan xen. Nhưng các hạt sạn và con sâu đó không làm lu mờ được thành tích và phủ nhận được vai trò của ngành ngoại giao trong giai đoạn mới. Trong một bài dài hơn 6.500 từ, nhà ngoại giao lão thành Vũ Khoan (nguyên phó thủ tướng) đã đề cập đến thời đại mới. (Một thời đại mới đang dần hình thành? Vũ Khoan, Tạp chí Cộng sản, 20/11/2022).

Sau khi phân tích đặc điểm tình hình thế giới, ông Vũ Khoan đã nêu “ba hàm ý chính sách”. Một là, những biến động hiện nay và trong thời gian tới báo hiệu một thời kỳ hết sức bất an, bất định, với các mối đe dọa “truyền thống” và “phi truyền thống” đan xen nhau. Hai là, phải trông vào thực lực với phương châm “nội lực là quyết định, ngoại lực là quan trọng”. Ba là, thành quả trên mặt trận ngoại giao của ta rất lớn, góp phần hết sức quan trọng. 

Tuy nhiên, Việt Nam vẫn chưa thực hiện được công nghiệp hóa. Bộ Chính trị đã có Nghị quyết 50-NQ/TW (20/8/2019) về “định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030”. Để tránh rơi vào “tình thế khó xử và khó lường” trong quan hệ quốc tế, “những đối sách trong giai đoạn mới cần được vận dụng một cách cơ động, linh hoạt, tinh tế, trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia”. 

Trong cơ cấu nền kinh tế nước ta, đặc biệt là do hệ lụy của đại dịch Corona làm đứt gãy các chuỗi cung ứng toàn cầu, khu vực FDI ở Việt nam tiếp tục chiếm tỷ trọng ngày càng cao. Năm 2019, FDI chiếm 20,35% GDP, 1/4 giá trị vốn đầu tư toàn xã hội, khoảng 50% sản lượng công nghiệp, 71,7% xuất khẩu và 64,35% nhập khẩu. Trong đó, công nghệ tiên tiến của Mỹ và Tây Âu chỉ chiếm 6%, trong khi công nghệ Trung Quốc chiếm 45%.

 

Trong một bài khác dài hơn 6.700 từ, nhà ngoại giao lão thành Nguyễn Trung (nguyên trợ lý cho cố thủ tướng Võ Văn Kiệt) đã bức xúc về vận mệnh của dân tộc trong thời đại mới. Theo ông,  năm 2022 nên được xem như “một năm định mệnh của thế kỷ 21”, nhưng nhà cầm quyền và đội ngũ trí thức “vẫn tiếp tục đi theo đường mòn cũ và thờ ơ trước tình hình mới”. (Năm 2022 thế giới đang đi về đâu? Nguyễn Trung, Viet-studies, 20/12/2022).

 

Trong khi một số nhà ngoại giao trẻ bị kỷ luật vì “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong vụ “chuyến bay giải cứu”, thì ông Vũ Khoan và ông Nguyễn Trung tuy đã ngoài 80 tuổi, sức tàn lực kiệt, nhưng vẫn không chịu bỏ cuộc, “còn nước còn tát”. Những bài viết đó như “tiếng hát cuối cùng của con thiên nga” trước khi từ biệt cõi đời. Nói cách khác, đó là tâm thức của các nhân sỹ Bắc Hà và tâm trạng của một dân tộc trước thềm một thời đại mới.

 

Đối tác chiến lược

Chiến tranh liên miên và chia cắt đất nước suốt ba thập kỷ (1945-1975) đã làm Việt Nam tổn thất nặng nề không chỉ về người và nguồn lực, mà còn về thời gian và cơ hội phát triển, trong khi các nước khu vực tranh thủ thời cơ phát triển để vượt lên trước. Thời hậu chiến, (1975-1979) Việt Nam đã để vuột mất cơ hội hòa giải và tái thiết, nên bị xô đẩy vào cuộc “chiến tranh Đông Dương lần thứ ba” với Khmer Đỏ và Trung Quốc (1979-1989).

Trong giai đoan đổi mới và mở cửa (từ 1986) tư duy quản trị lạc hậu thời bao cấp và hệ lụy nặng nề do chiến tranh để lại, đã kìm hãm cải cách và phát triển của Viêt Nam hàng thập kỷ. Tuy Việt Nam đã đổi mới về kinh tế nhưng chưa đổi mới về thể chế chính trị, nên thành quả đổi mới vẫn bị hạn chế do bất cập. Trong khi đó, vấn nạn tham nhũng tràn lan, các nhóm lợi ích thao túng thể chế và chính sách, làm Viêt Nam tiếp tục tụt hậu so với khu vực.

Người Nhật và người Hàn không tự hào vì “được trời phú rừng vàng biển bạc” như Việt Nam.  Họ dạy con cháu phải chấp nhận khó khăn, thiếu thốn và thiên tai (như động đất, sóng thần), phải không ngừng học hỏi và làm việc như điên để vương lên, không được ảo tưởng “làm giàu không khó”. Trong lịch sử, Nhật đã hai lần trỗi dậy để canh tân và phát triển thần kỳ. Nhật và Hàn là hình ảnh con phượng hoàng “vươn dậy từ đống tro tàn”.

Với truyền thống chống ngoại xâm và vị trí chiến lược tại Biển Đông, Việt Nam có vai trò đặc biệt quan trọng trong tranh chấp chiến lược Mỹ-Trung tại vùng Ấn Độ-Thái Bình Dương. Đại sứ Marc Knapper tin tưởng rằng trong năm 2023, khi hai nước kỷ niệm mười năm thiết lập quan hệ đối tác toàn diện, “chúng tôi sẽ tìm các phương thức để có thể kỷ niệm mốc quan trọng này và tìm kiếm các khả năng để nâng cấp lên đối tác chiến lược”.

Việt Nam nằm trong danh sách các nước cần quan tâm đặc biệt (CPC), nhưng ông Knapper cho rằng “Trên cơ sở những giá trị chung, lợi ích chung và lòng tin giữa hai nước, chúng tôi tin rằng việc nâng cấp quan hệ lên đối tác chiến lược sẽ càng mở ra nhiều cánh cửa để hai nước hợp tác chặt chẽ hơn. Chúng tôi sẽ tiếp tục nỗ lực tìm kiếm các khả năng, đặt rất nhiều kỳ vọng và mong muốn nâng cấp quan hệ song phương lên đối tác chiến lược”.

Từ khi hai nước bình thường hóa quan hệ đến nay, Thương mại Việt-Mỹ đã tăng 200%, đầu tư của Mỹ vào Việt Nam đạt $2.8 tỷ USD/năm. Việt Nam có khoảng 30.000 sinh viên du học tại Mỹ, và Việt Nam là nước ủng hộ tích cực Bộ Tứ (QUAD). Đại sứ Marc Knapper nói với báo chí tại “Triển lãm Quốc phòng Quốc tế” đầu tiên của Hà Nội (8/12/2022) rằng đây là “một giai đoạn mới để Việt Nam hiện đại hóa, đa dạng hóa, và toàn cầu hóa”.   

Việt Nam muốn thiết lập đối tác chiến lược với Mỹ môt cách lặng lẽ và lấp lửng (ambiguous), dựa trên nền tảng đối tác chiến lược toàn diện Mỹ-ASEAN. Để có đối tác chiến lược với Việt Nam, Mỹ cũng nên lặng lẽ, và có thể công bố chính thức khi tổng thống Biden đến thăm Hà Nội hay lãnh đạo Việt Nam đến thăm Washington. (A window of opportunity to upgrade US-Vietnam relations, Jonathan Stromseth, Brookings, December 20, 2022).  

Không đi quá xa, quá nhanh

Quan hệ Việt-Mỹ đã có những bước tiến rất xa, “từ kẻ thù nay đã trở thành bạn”, thực chất đang trở thành “đối tác chiến lược”. Theo cựu đại sứ Mỹ Daniel Kritenbrink, chỉ có “bầu trời là giới hạn” (the sky is the limit). Nhưng theo các nhà nghiên cứu thì hợp tác an ninh Việt-Mỹ vẫn có những giới hạn khó vượt qua. (The Limit to US-Vietnam Security Cooperation, Khang Vũ, US-Vietnam Research Center, University of Oregon, June 12, 2021). 

Việt Nam đã từng bị Mỹ bỏ rơi năm 1973 và Liên Xô bỏ rơi năm 1979 và 1988. Nay Hà Nội muốn biết rõ liệu có thể tin và dựa vào Mỹ tới đâu tại Biển Đông. Hà Nội không muốn bị mắc kẹt vào xung đột Trung-Mỹ và một lần nữa trở thành chiến trường cho các nước lớn. Nếu lợi ích quốc gia liên quan đến “an ninh đối ngoại” thì ý thức hệ liên quan đến “an ninh đối nội”. Ý thức hệ có vai trò rất quan trọng đối với hệ thống Đảng và nhà nước.  

Quan hệ Việt-Mỹ phát triển tích cực là do hệ quả trực tiếp khi Mỹ và Việt Nam cùng chia sẻ lo ngại trước sự trỗi dậy và thách thức của Trung Quốc. Tuy quan hệ Việt-Mỹ đã được cải thiện đáng kể, nhưng còn quá sớm để khẳng định hai nước sẽ trở thành đồng minh như Mỹ với Nhật hay với Úc là những nước “có cùng quan điểm” (like-minded). Nói cách khác, Mỹ giúp Việt Nam nhưng không đẩy quan hệ Việt-Mỹ “đi quá xa và quá nhanh”.

Theo giáo sư Alexander Vuving (Asia Pacific Center for Security Studies in Honolulu), Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đến thăm Bắc Kinh ngay sau khi Đại Hội đảng lần thứ 20 của Trung Quốc vừa kết thúc, để làm yên lòng Bắc Kinh. Đây là thử thách đầu tiên của “ngoại giao cây tre” của Việt Nam. (Vietnam’s Approach to China: Bamboo Diplomacy With Neo-tributary Characteristics, Alexander Vuving, Diplomat, November 12, 2022). 

 

Vuving cho rằng Việt Nam vừa có lợi lớn vừa có hại lớn vì ở cạnh Trung Quốc. “Ngoại giao cây tre” của Việt Nam với tính chất “triều cống kiểu mới” (neo-tributary) được thể hiện khi ông Trọng đến thăm Bắc Kinh. Đây là chuyến thăm chiếu lệ (rituals) phản ánh sự “bất đối xứng” (asymmetry) về quyền lực, nhằm ổn định. Chiếu lệ là một phần trong chiến lược của Trung Quốc nhằm giữ Việt Nam gần Trung Quốc và tránh xa Mỹ.

 

Vì chuyến thăm của ông Trọng là chiếu lệ và hoa mỹ (rhetoric) nên Việt Nam không có thay đổi đáng kể nào trong chính sách đối với Trung Quốc sau 2014. Chuyến thăm đánh dấu sự mềm mỏng của Hà Nội với Bắc Kinh nhằm đối phó với đe dọa của Trung Quốc, trước khi căng thẳng trở lại. Tuy chuyến thăm phá lệ nhưng không phá cách. Việt Nam nói không với GSI (Global Security Initiative) và chỉ ủng hộ miệng BRI vì sợ “bẫy nợ”.   

Trong khu vực Đông Nam Á, một số nước ASEAN vẫn phải hai mặt để chờ thời (hedging). Họ có thể điều chỉnh thái độ với Trung Quốc và Mỹ như “swing states”.  Philippines sẽ điều chỉnh thời “hậu Duterte”; Malaysia sẽ điều chỉnh khi Mahathier Mohamad hay Anwar Ibrahim trở lại cầm quyền; Thailand và Myanmar sẽ điều chỉnh khi chính quyền quân sự hết thời; Campuchia sẽ điều chỉnh khi nào Hun Manet lên cầm quyền thay Hunsen.    

Lời cuối

Trong cuộc điều trần tai Hạ viện Mỹ (7/12/2022), nhiều ý kiến lo ngại Bắc Kinh sẽ biến Mekong thành “Biển Đông thứ hai”. Trong cuốn “Những ngày cuối của dòng Mekong hùng vĩ”, Brian Eyler (Stimson Center) đã nhấn mạnh tầm quan trọng của tiểu vùng Mekong trong việc đảm bảo an ninh và đời sống của hàng chục triệu người dân Đông Nam Á. Theo ông, một chiến lược thông minh hơn của Mỹ có thể giúp khu vực này phát triển mạnh.

Trong hai thập kỷ qua, Việt Nam đã bị mắc kẹt trong bàn cờ chiến lược Mỹ-Trung, nên phải cố gắng giữ cân bằng với nước “cờ thế” (hedging) và nguyên tắc “ba không, một tùy”. Nhưng cuộc chiến tranh Nga-Ukraine và hệ quả năng nề của đai dich Corona đã làm đảo lộn nhiều hằng số và làm xuất hiện các biến số mới khó lường. Đây vừa là thách thức vừa là cơ hội để Viêt Nam “biến nguy thành cơ”, nhằm thoát khỏi thế “tiến thoái lưỡng nan”.

Tham khảo

1. Một thời đại mới đang dần hình thành? Vũ Khoan, Tạp chí Cộng sản, 20/11/2022

2. Năm 2022 thế giới đang đi về đâu? Nguyễn Trung, Viet-studies, 20/12/2022

3. The Limit to US-Vietnam Security Cooperation, Khang Vũ, US-Vietnam Research Center, University of Oregon, June 12, 2021

4. Vietnam’s Approach to China: Bamboo Diplomacy With Neo-tributary Characteristics, Alexander Vuving, Diplomat, November 12, 2022

5. Xi Jinping and the Paradox of Power, Minxin Pei, 

6. Xi Jinping’s pandemic triumphalism returns to haunt him, Gideon Rachman, Financial Times, November 28, 2022

7. Xi Jinping in His Own Words, Matt Potinger, Matthew Johnson, David Feith, Foreign Affairs, November 30, 2022

8. The Power of China’s Blank Sheets of Paper, Melinda Liu, Foreign Policy, December 3, 2022

9. China’s Restive Middle Class Will Be Xi’s Greatest Test Yet, Howard French, Foreign Policy, December 6, 2022

10. China’s Dangerous Decline, Jonathan Tepperman, 

A window of opportunity to upgrade US-Vietnam relations, Jonathan Stromseth, Brookings, December 20, 2022 

12. As COVID soars, China has 2 chains of command, Katsuji Nakazawa, Nikkei, December 22, 2022

13. The careful balancing act of Vietnam’s bamboo diplomacy, Nguyen Khac Giang, East Asia Forum, December 23, 2022

14. The Weakness of Xi Jinping, Cai Xia, Sept/Oct 2022

15. The Taiwan Long Game, Jude Blanchette & Ryan Hass, Foreign Affairs, Jan/Feb 2023

16. Putin’s Last Stand, Liana Fix & Michael Kimmage, Foreign Affairs, Jan/Feb 2023

NQD. 31/12/2022

 Tác giả gửi cho viet-studies nga2y 31-12-22

Chủ Nhật, 1 tháng 1, 2023

Lệ cúng Vật Lề: mật ngữ truyền đời của người mở đất

 Cúng Vật Lề mà người ta quen gọi là cúng Việc Lề là nghi thức đặc biệt chỉ có ở một số dòng tộc khẩn hoang lâu đời ở vùng đất cũ Nam Kỳ, từ bờ bắc sông Tiền. Nguồn gốc, tên gọi, mục đích và nội dung nghi thức này là một phần của lịch sử khẩn hoang. Nó không chỉ là lễ cúng mà là mật ngữ của người xưa!

Sinh thời, nhà văn Sơn Nam rất quan tâm đến lệ cúng Vật Lề. Ông từng đi điền dã, ghi chép nội dung nghi thức cúng kỳ lạ của một số gia tộc ở Hóc Môn, Gò Vấp. Ngoài các vật phẩm ăn uống, có gia tộc trong lễ cúng đem cung tên bắn bốn phát lên trời, có gia đình đem bày trước bàn thờ những nông cụ như cuốc, cày, bừa...

Nhà văn Sơn Nam đã chỉ ra ý nghĩa sâu kín của lệ cúng Vật Lề không chỉ để tưởng nhớ tiền nhân mà cùng với lễ tảo mộ vào tháng Chạp, cúng Vật Lề chính là mật ngữ của những người tiên phong mở đất.

Lệ của người khai hoang mở đất

Tôi từng chấp bút lấy tên ông viết bài Lệ cúng Việc Lề cho báo Văn Hóa TP.HCM khoảng đầu thập niên 2000. Lúc đó, ngay chính ông cũng băn khoăn về tên của lệ này vì có nhiều cách gọi khác nhau mà ông cũng chưa đoan quyết là cúng Việc Lề hay Vật Lề (có người còn gọi là Giựt Lề).

Trong bài Tín ngưỡng cúng Việc Lề - một tâm thức về cội nguồn của cư dân Việt khẩn hoang tại Nam bộ (tạp chí Dân tộc học số 1.1999), PGS-TS. Phan Thị Yến Tuyết ghi nhận “cúng Việc Lề (còn gọi là cúng Vật Lề, cúng Lề…) là “nghi thức cúng truyền thống theo việc đã thành lề thói, thành lệ, được hình thành trong quá trình khai phá, khẩn hoang vùng đất Nam bộ của người Việt. Tín ngưỡng này không có ở miền Bắc và không rõ ràng ở miền Trung”.

Từ năm 2014, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã có quyết định công nhận lệ cúng này là văn hóa phi vật thể cấp quốc gia, nhưng nội dung cũng chung chung và gọi tên là cúng Việc Lề mà không giải thích được nguyên do, lại xem đây là lễ tục của miền Tây Nam bộ.

Sau lễ cúng là tục tống phong.


Thật ra, cúng Vật Lề chỉ có riêng ở một số dòng tộc khai hoang mở đất chứ không phải mọi người cố cựu, cũng chỉ có ở ba tỉnh miền Đông (Biên Hòa, Gia Định, Định Tường) chứ không phải toàn Lục tỉnh Nam Kỳ như PGS-TS. Phan Thị Yến Tuyết đã viết. Điển hình là tộc Lê ở thị trấn Tầm Vu, Long An (xưa thuộc Gia Định) là gia tộc cố cựu theo gia phả từ vị thủy tổ vào Nam tới nay đã 11 thế hệ.

Ông Lê Văn Thiều là thông gia với tộc Trần của giáo sư Trần Văn Giàu và tộc Đỗ Tường của bà Đỗ Thị Đạo - hiền nội của ông Giàu. Cả hai tộc Đỗ Tường và Trần đều có cúng Vật Lề nhưng tộc Lê thì không. Truy nguyên ông thủy tổ tộc Lê vốn xuất thân là quan chức, đến đời cha ông Thiều cũng là thư lại của Gia Định Thành. 

Hình tượng người bằng rơm, 5 tàu lá dừa, 5 mũi tên của dòng họ Lê ở Bến Lức.


Vùng đất Biên Hòa, Gia Định, Định Tường được khai hoang sớm nhất, nguồn nhân lực chủ đạo là lưu dân Ngũ Quảng hình thành lệ cúng Vật Lề. Vùng phía Nam sông Tiền gồm Vĩnh Thanh, Châu Đốc, Hà Tiên khai hoang giai đoạn tiếp theo, điều kiện dễ dãi hơn và có các nhóm di thần triều Minh như Mạc Cửu, Dương Ngạn Địch nên nghi lễ truyền thống có đôi chút dị biệt từ lễ tảo mộ, ngày đón ông bà, cả đến cách xưng hô và không có cúng Vật Lề.

Vật là Lề, Lề nằm trong Vật

Muốn xác định đúng tên của lệ cúng này, phải truy nguồn gốc xuất phát riêng tư đó và khảo sát nội dung, nghi thức vật phẩm bày cúng cùng với mật ngữ của Sơn Nam, theo đó cái tên hợp lý nhất là: cúng Vật Lề. Lề được hiểu là lề thói, là quy ước. Đây là lệ cúng mà vật cúng chính là lề thói và vật cúng, cách cúng phải theo đúng quy định của đời trước.

Gỏi da tượng - món bắt buộc của dòng họ Võ ở thị trấn Mộc Hóa, Long An.


Sở dĩ kết luận như vậy bởi vì, phẩm vật cúng trong lệ này vừa rất chung vừa rất riêng. Có hai yếu tố chung là vật cúng phải theo quy ước và liên quan đến thời khẩn hoang. Về cúng giỗ người Nam Kỳ rất thoáng, không theo công thức “nem giò ninh mọc” như miền Bắc, các món cà ri, la gu, cơm chiên Dương Châu, cơm gà Thượng Hải đều có thể đem lên bàn thờ và có thể thay đổi hàng năm. Nhưng cúng Vật Lề hoàn toàn khác: tất cả những vật phẩm cúng mang tính quy ước, bắt buộc phải có và không được thay đổi.

Quy tắc, lề thói lệ cúng được quy định ngay trong vật cúng. Yêu cầu về vật cúng của từng họ tộc có yếu tố chung là mang không khí của thời khai hoang như cháo cá ám (cá để nguyên con không chặt bỏ kỳ vi), các loại rau đồng… nhưng hết sức riêng tư, cá biệt trong từng họ tộc từ nguyên liệu đến cách chế biến trình bày.

Món rắn nướng trui đặc trưng của dòng họ Võ ở Đức Hòa Thượng, Đức Hòa - Long An.


Bài viết của tác giả Nguyễn Tấn Quốc (Bảo tàng Long An) ghi nhận nhiều họ có món đặc thù của riêng mình. Họ Trần ở xã Bình Tịnh, huyện Tân Trụ bắt buộc phải có 100 cái bánh tét, 100 cái bánh ít, mỗi cái nhỏ bằng ngón chân cái, một chén nổ (nếp để nguyên vỏ đốt cho nổ bung ra thành cốm). Họ Lê ở phường Khánh Hậu, thành phố Tân An cúng miếng đường tán, bánh tráng. Họ Phạm ở thành phố Tân An cúng đĩa gỏi cuốn, 5 mũi tên, một đĩa tam sên (trứng, tép, cua). Họ Võ ở thị trấn Mộc Hóa bắt buộc phải có gỏi da tượng (nay thế bằng da heo) - một miếng da heo được cắt hình voi để nguyên trên mâm, do nghề xưa chuyên săn bắn.

Trước đây, trong mâm cúng của họ Võ còn có miếng thuốc phiện để nhắc nhở và răn dạy con cháu tránh xa tệ nạn này bởi trong họ có một người bị nghiện. Họ Lê ở xã Thanh Phú, huyện Bến Lức ngoài rau luộc, thủ vĩ lợn, tam sên… còn có đĩa thịt sống (để cúng chúa sơn lâm, do trước đây trong họ có người bị hổ vồ) và hình nộm bằng rơm với 5 tàu lá dừa, 5 mũi tên hình thành thế trận ngũ hành để diệt trừ yêu tà quấy phá dòng họ.

Họ Nguyễn ở xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hòa cúng gạo, muối, 10 hột vịt, tam sên và con rắn nướng. Họ Huỳnh ở xã Bình Tâm, thành phố Tân An ngoài gạo, muối... còn có tô nước lạnh (hàm ý để ông bà rửa mặt) và tấm gương có phủ vải đỏ (hàm ý “nhiễu điều phủ lấy giá gương”).

Họ Đỗ ở xã Dương Xuân Hội, huyện Châu Thành, ngoài cháo cá ám nấu còn nguyên hạt gạo lứt, xôi, bánh ít, trầu cau, thuốc... bắt buộc phải có một con cá lóc, 3 con tôm nướng để trên đĩa ô rô, cóc kèn và lá môn. Họ Lê ở Đức Tân, huyện Tân Trụ cúng một mâm cốm chuồi (gạo nếp rang ngào đường) rải lên trên ô rô, cóc kèn, dao phay, thớt, gáo múc nước.

Sự nghiêm nhặt và riêng biệt của vật cúng còn thể hiện trong quy ước về cách nấu nướng, chế biến, cách trình bày. Có tộc quy định cháo phải nấu thật nhừ, có tộc quy định còn nguyên hạt gạo. Tộc Đỗ Tường quy định 3 con cá lóc nướng trui và 3 con tôm nướng phải bày trên lá ô rô, cóc kèn… Thậm chí với con cá, mỗi họ tộc như Nguyễn, Lê, Trần, Lý… có cách chặt, hoặc chừa kỳ, vi cá theo cách của mình.

Bắn tên vào hình nộm rồi phóng hỏa.


Nghi thức cúng Vật Lề giống nhau về tổng thể như cúng ông bà, đất đai nhơn trạch, tống phong, cúng thí nhưng từng họ tộc khác nhau về chi tiết và cũng là những nghi tiết bắt buộc. Có tộc bày cúng trên bàn thờ, có tộc trải đệm cúng dưới đất. Có tộc cúng ngày, có tộc cúng đêm.

Với chiếc ghe tống phong thả trên sông, mỗi dòng tộc cũng có điểm khác nhau. Dòng họ Đỗ Tường bên trong ghe bầu để một cặp cà ràng, một bịch gạo, một bịch muối, một bó củi, một vài miếng thịt sống được để trong một cái chén đựng bằng giấy, hai cái lọ nhỏ một lọ đựng nước một lọ đựng rượu (có ghi chữ nước và rượu bên ngoài), có tiền để ông bà làm lộ phí đi đường. Tộc Đỗ Tường còn có nghi tiết tuyên đọc di huấn tổ tiên cho toàn gia tộc.

Trưng bày gia phả, di ngôn và các văn bản của gia tộc trong lệ cúng Vật Lề của gia tộc Đỗ Tường.


Ngày cúng tùy theo lệ của dòng họ. Dòng họ Đỗ Tường cúng 16.3 âm lịch là ngày giỗ kỵ cụ thủy tổ. Họ Lê - Bến Lức ngày 22.1 là giỗ kỵ của thủy tổ - Tổng đốc hải đạo Hoàng Sa. Họ Nguyễn - Bình Đức, Bến Lức là hậu duệ Nguyễn Trung Trực, giỗ mùng 10.3 là ngày lễ cầu ngư và cũng là ngày cụ Nguyễn xuất binh. Họ Lê xóm ông Đồ, Tân Trụ cúng ngày 18.3 (âm lịch) là ngày cúng đất…

Con cháu tự về dự cúng để nhận họ hàng

Về cách chọn người cúng, mỗi dòng họ cũng khác. Dòng họ Đặng ở Thủ Thừa, người ở nhà thờ trực tiếp cúng. Họ Phan ở Châu Thành lại chọn người trưởng. Dòng họ Đỗ Tường cúng luân phiên giữa bốn chi tộc con ông thủy tổ.

Có điều chung nhất là lệ cúng Vật Lề không mời khách ngoài tộc, con cháu trong tộc có trách nhiệm tự nhớ mà về, người đứng cúng không phải mời thỉnh. Đây là quy ước có ý nghĩa quan trọng của Lệ cúng Vật Lề! Với gia tộc Đỗ Tường, sau lễ cúng chi tộc đang cúng bàn giao bát hương và thần chủ cho chi tộc luân phiên năm sau và hai bên thông báo bàn giao đến những người tham dự, đến ngày cúng cũng không mời.

Ông Đỗ Chiến Thắng đọc bài kệ của bề trên truyền cho gia tộc trong lệ cúng Vật Lề.


Nhà văn Sơn Nam giải mã ý nghĩa sâu kín của Lệ cúng Vật Lề là không chỉ tưởng nhớ tiền nhân mà cùng với lễ tảo mộ tháng Chạp hàng năm, chính là mật ngữ của những người tiên phong mở đất quy ước để các thế hệ cháu con có thể dựa vào đó nhận diện được nhau trong bối cảnh khó khăn loạn lạc trên vùng đất mới.

Ông Huỳnh Văn Sáu, ngụ ấp Hoàng Mai, xã Hậu Thạnh Đông, huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An cho biết: “Cúng Việc Lề hoàn toàn mang tính cách riêng tư của từng dòng họ, nên mỗi dòng họ tự quy ước với nhau về ngày cúng và thức cúng, như là một hình thức ghi “gia phả sống”. Xưa kia do chiến tranh, loạn lạc, bắt bớ, truy nã… nên nhiều gia đình, dòng họ phải thay tên đổi họ, đốt bỏ gia phả để tránh liên lụy, do đó ngày cúng, thức cúng được quy định trong cúng Việc Lề được xem như một “ký hiệu riêng” của nhiều dòng họ...”.

Bàn giao lư hương, bài vị giữa hai chi tộc Đỗ Tường trong lệ cúng Vật Lề.


Thực tế, sau hơn 200 năm khai phá, nhiều gia tộc ly tán đã tìm gặp được nhau nhờ các nghi tiết này. Truyền ngôn của gia tộc Phan ở huyện Châu Thành - Long An ghi nhận ông thủy tổ có người em bị thất lạc từ lúc vào Nam, mãi đến năm 2002, các trưởng bối của tộc đã tìm được chi tộc Phan anh em ở Vịnh Đá Hàn, huyện Thủ Thừa nhờ đối chiếu trùng khớp ngày tảo mộ, cúng Vật Lề. Tương tự, chi tộc Lê ở thị trấn Tầm Vu cũng tìm được hai chi tộc anh em, một ở Hựu Thạnh - Tân Thạnh, một ở Bình Hiệp - Kiến Tường sau hơn trăm năm thất lạc.

Cúng Vật Lề, mật ngữ nhận họ của những người mở đất là điều có thật. 

Bài và ảnh: Lê Đại Anh Kiệt