Thứ Năm, 6 tháng 4, 2023

Buổi Nói Chuyện Trước Công Chúng Tại Nhà Thờ Riverside, New York Của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh Ngày 25-9-2001 Sau Biến Cố 9-11

 Duyên Sinh dịch 

Lời người chuyển ngữ: Chiến tranh và hận thù chẳng những là một loại chất độc tàn phá quê hương đất nước Việt Nam; ngăn chận sự tiến bộ của dân tộc Việt Nam; đưa đời sống của nhân dân Việt Nam thụt lùi trở lại cả trăm năm so với các dân tộc đương thời trên thế giới… mà nó còn đưa tới một tình trạng bệnh hoạn lan tràn trong một số người, làm cho họ không thể thoát khỏi ngục tù vô minh của chính họ sau gần nửa thế kỷ chiến tranh chấm dứt. Giờ đây thì họ đã trở thành những con người không còn thuốc chữa. Họ đã trở thành một mối nguy cho xã hội…

Gần đây, trên mạng lưới internet người ta thường nhắc tới từ ngữ “vu khống là một căn bệnh bất trị.” Đúng là như vậy. Vu khống, chụp mũ, bôi bẩn người khác… là những thủ đoạn của những người đang mắc bệnh. Họ không thể sống nổi trong hòa bình. Họ luôn cần chiến tranh, và nếu không có chiến tranh thì họ cũng phải kích động tranh cãi bằng cách vu khống, chụp mũ, nhục mạ… bất cứ những ai trong quá khứ đã dám lên tiếng tranh đấu cho hòa bình Việt Nam. Một trong những nạn nhân của họ là Thiền Sư Thích Nhất Hạnh.

Lá Thư Làng Mai số 25, ra ngày 12 tháng 2 năm 2002, trang 6, viết:

Buổi thuyết giảng tại nhà thờ Riverside quả thật là một phép lạ. Trước hôm 25.9.01 nhiều người đã lo lắng cho Thầy, sợ Thầy sẽ bị ám hại ngay trong đêm diễn thuyết, bởi vì Thầy đã muốn nói lên một tiếng nói mà ít ai dám nói. Có một số những vị nhân sĩ trong giới lãnh đạo chính trị, doanh nghiệp, trí thức đã tỏ ý yểm trợ Thầy, hứa sẽ đến có mặt để giới thiệu Thầy đêm đó, nhưng đã không đến được. Lý do sâu xa không phải là vì họ bận rộn, nhưng vì họ biết tiếng nói nhân bản này sẽ làm cho họ mất quần chúng, bởi vì các giới quần chúng đang sôi sục hận thù, ai nấy đều muốn yểm trợ chiến tranh. Hận thù không phải là lý do duy nhất, ngoài hận thù còn có lý do sợ hãi. Vì sợ hãi nên người ta muốn tỏ ra mình can đảm, sẵn sàng để đối phó bằng bạo lực; sợ rằng nói ra lời nói của thương yêu, của từ bi thì sẽ bị người ta xem là mình yếu đuối và bất lực, cũng như người đi ban đêm sợ ma thì hay hát lớn lên để tỏ ra rằng mình không sợ, nhưng có thể là mình đang run. Ngoài lý do hận thù và sợ hãi, còn có lý do tự ái bị tổn thương. Nước Mỹ thường nghĩ mình là mạnh nhất hoàn cầu, đánh ai thì kẻ ấy thua, và không ai có thể đánh bại được mình, và chạm được đến mình.

Kể từ đó, họ căm thù Thầy Nhất Hạnh vì Thầy Nhất Hạnh dám tranh đấu cho hòa bình, cho sự thương yêu và hiểu biết. Khi số đông quần chúng bắt đầu thấy được tầm quan trọng của sự thương yêu và hiểu biết, và bắt đầu ủng hộ Thầy Nhất Hạnh, thì cũng là lúc mà họ cảm thấy họ bị quần chúng bỏ rơi. Để tiếp tục chứng bệnh cuồng tín và hiếu chiến, họ quay sang đánh phá Thầy Nhất Hạnh và đánh phá bất cứ ai không chấp nhận bản chất hiếu chiến của họ, bằng cách vu khống, chụp mũ, xuyên tạc, nhục mạ… tất cả những người có sự suy nghĩ khác họ.

Một bằng chứng cụ thể về vu khống rõ ràng nhất của họ là việc vu khống Thầy Nhất Hạnh vọng ngữ. Họ kết tội Thầy Nhất Hạnh đã nói trong bài nói chuyện trước công chúng tại nhà thờ Riverside, New York ngày 25-9-2001, là máy bay Mỹ đã bỏ bom giết chết “ba trăm ngàn” dân Bến Tre. “Một sự vu khống mà họ đã bịa đặt ra từ cửa miệng của họ, và giờ đây, trước công chúng và sự thật, thì họ cũng phải nuốt vào bằng cửa miệng của họ”. Thật là tội nghiệp!.. 

Tuy nhiên vu khống, chụp mũ, và nhục mạ… của họ không thể trở thành trầm trọng nếu không có sự phụ họa của một vài Phật tử tại gia hoặc một vài vị xuất gia. Quý vị này phạm giới ngay giữa công chúng, khi họ ủng hộ và đẩy mạnh thêm sự vu khống, chụp mũ, và nhục mạ người khác mà không tìm hiểu cho rõ ràng, không trưng bày được bằng chứng để buộc tội nạn nhân của họ. Đây là một tình trạng tệ hại nhất trong ngành truyền thông do những người bệnh hoạn từ hậu quả của thù hận trong chiến tranh Việt Nam gây ra, mà kết quả cho thấy, họ đã cố tình ngửa mặt phun nước bọt lên trời, nhưng không trúng trời mà trúng vào mặt họ.

Dám nói lên sự thật (chân lý) là một việc chẳng những khó khăn, mà lại còn nguy hiểm đến tính mạng. Nền văn minh nhân loại ngày nay cực kỳ hưng thịnh cũng nhờ hàng hàng lớp lớp những người, nhất là các nhà bác học, dám nói lên sự thật. Bản tuyên ngôn độc lập của Mỹ nói “Tất cả mọi người sinh ra bình đẳng” trong khi rất nhiều người trong xã hội Mỹ lúc đó phủ nhận chân lý bình đẳng. Tổng Thống Abraham Lincoln là người dám cả gan giải phóng nô lệ bằng cách thực thi câu nói trên nên ông bị bắn chết. Nhà nghiên cứu Darwin dám nói vạn vật nương nhau mà sinh trong khi Kinh Thánh nói vạn vật do Thiên Chúa tạo ra, đã gây hiềm khích triền miên. Nhà bác học Galileo Galilei dám cả gan nói trái đất hình tròn trong khi Kinh Thánh nói trái đất hình vuông (Ezekiel 7:1-2), nên Galileo bị quản thúc tại gia cho tới chết. Và Thầy Nhất Hạnh dám cả gan nói “Từ bi, Hiểu và Thương” có thể giải quyết xung đột trên thế giới, trong khi một số người khác nói chỉ có “hận thù và bom đạn” mới có thể giải quyết xung đột trên thế giới, nên Thầy bị vu khống, bị chụp mũ, và bị bôi bẩn… Mời độc giả đọc bài chuyển ngữ phía dưới, và bản chánh tiếng Anh bằng cách bấm vào đường dẫn sau:

thezensite

A Public Talk by Thich Nhat Hanh at the Riverside Church, New York

Hakuin’s Daruma
Thich Nhat Hanh

from: Making Sense of These Times
September 25, 2001

My Dear friends, I would like to tell you how I practice when I get angry. During the war in Vietnam, there was a lot of injustice, and many thousands, including friends of mine, many disciples of mine, were killed. I got very angry. One time I learned that the city of Ben Tre, a city of three hundred thousand people, was bombarded by American aviation just because some guerillas came to the city and tried to shoot down American aircrafts. The guerillas did not succeed, and after that they went away. And the city was destroyed. And the military man who was responsible for that declared later that he had to destroy the city of Ben Tre to save it. I was very angry.

But at that time, I was already a practitioner, a solid practitioner. I did not say anything, I did not act, because I knew that acting or saying things while you are angry is not wise. It may create a lot of destruction. I went back to myself, recognizing my anger, embracing it, and looked deeply into the nature of my suffering.

In the Buddhist tradition, we have the practice of mindful breathing, of mindful walking, to generate the energy of mindfulness. It is exactly with that energy of mindfulness that we can recognize, embrace, and transform our anger. Mindfulness is the kind of energy that helps us to be aware of what is going on inside of us and around us, and anybody can be mindful. If you drink a cup of tea and you know that you are drinking a cup of tea, that is mindful drinking. When you breathe in and you know that you are breathing in, and you focus your attention on your in-breath, that is mindfulness of breathing. When you make a step and you are aware you are making a step, that is called mindfulness of walking. The basic practice in Zen centers, meditation centers, is the practice of generating mindfulness every moment of your daily life. When you are angry, you are aware that you are angry. Because you already have the energy of mindfulness in you created by the practice, that is why you have enough of it in order to recognize, embrace, look deeply, and understand the nature of your suffering.

I was able to understand the nature of the suffering in Vietnam. I saw that not only Vietnamese suffered, but Americans suffered as well during the war in Vietnam. The young American man who was sent to Vietnam in order to kill and be killed underwent a lot of suffering, and the suffering continues today. The family, the nation also suffers. I could see that the cause of our suffering in Vietnam is not American soldiers. It is a kind of policy that is not wise. It is a misunderstanding. It is fear that lies at the foundation of the policy.

Many in Vietnam had burned themselves in order to call for a cessation of the destruction. They did not want to inflict pain on other people, they wanted to take the pain on themselves in order to get the message across. But the sounds of planes and bombs was too loud. The people in the world, not many of them were capable of hearing us. So I decided to go to America and call for a cessation of the violence. That was in 1966, and because of that I was prevented from going home. And I have lived in exile since that time, 1966.

I was able to see that the real enemy of man is not man. The real enemy is our ignorance, discrimination, fear, craving, and violence. I did not have hate the American people, the American nation. I came to America in order to plead for a kind of looking deeply so that your government could revise that kind of policy. I remember I met with Secretary of Defense Robert MacNamara. I told him the truth about the suffering. He kept me with him for a long time and he listened deeply to me, and I was very grateful for his quality of listening. Three months later, when the war intensified, I heard that he resigned from his post.

Hatred and anger was not in my heart. That is why I was listened to by many young people in my country, advocating them to follow the path of reconciliation, and together we helped to bring about the new organizations for peace in Paris. I hope my friends here in New York are able to practice the same. I understood, I understand suffering and injustice, and I feel that I understand deeply the suffering of New York, of America. I feel I am a New Yorker. I feel I am an American.

You want to be there for you, to be with you, not to act, not to say things when you are not calm. There are ways that we can go back to ourselves and practice so that we rediscover our calmness, our tranquility, our lucidity. There are ways that we can practice so that we understand the real causes of the suffering. And that understanding will help us to do what needs to be done, and not do what could be harmful to us and to other people. Let us practice mindful breathing for half a minute before we continue.

In Buddhist psychology, we speak of consciousness in terms of seeds. We have the seed of anger in our consciousness. We have the seed of despair, of fear. But we also have the seed of understanding, wisdom, compassion, and forgiveness. If we know how to water the seed of wisdom and compassion in us, that seed, these seeds will manifest themselves as powerful sorts of energy helping us to perform an act of forgiveness and compassion. It will be able to bring relief right away to our nation, to our world. That is my conviction.

I believe very strongly that the American people have a lot of wisdom and compassion within themselves. I want you to be your best when you begin to act, for the sake of America and for the sake of the world. With lucidity, with understanding and compassion, you will turn to the people who have caused a lot of damage and suffering to you and ask them a lot of questions.

“We do not understand enough of your suffering, could you tell us? We have not done anything to you, we have not tried to destroy you, to discriminate against you, and we do not understand why you have done this to us. There must be a lot of suffering within you. We want to listen to you. We may be able to help you. And together we can help build peace in the world.” And if you are solid, if you are compassionate when you make this statement, they will tell you about their suffering.

In Buddhism we speak of the practice of deep listening, compassionate listening, a wonderful method by which we can restore communication – communication between partners, communication between father and son, communication between mother and daughter, communication between nations. The practice of deep listening should be taken up by parents, by partners, so that they can understand the suffering of the other person. That person might beour wife, our husband, our son, or our daughter. We may have enough good will to listen, but many of us have lost our capacity to listen because we have a lot of anger and violence in us. The other people do not know how to use kind speech; they always blame and judge. And language is very often sour, bitter. That kind of speech will always touch off the irritation and the anger in us and prevent us from listening deeply and with compassion. That is why good will to listen is not enough. We need some training in order to listen deeply with compassion. I think, I believe, I have the conviction, that a father, if he knows how to listen to his son deeply and with compassion, he will be able to open the door of his sons heart and restore communication.

People in our Congress and our Senate should also train themselves in the art of deep listening, of compassionate listening. There is a lot of suffering within the country, and many people feel their suffering is not understood. That is why politicians, members of the Parliament, members of the Congress have to train themselves in the art of deep listening – listening to their own people, listening to the suffering in the country, because there is injustice in the country, there is discrimination in the country. There is a lot of anger in the country. If we can listen to each other, we can also listen to the people outside of the country. Many of them are in a situation of despair, many suffer because of injustice and discrimination. The amount of violence and despair in them is very huge. And if we know how to listen as a nation to their suffering, we can already bring a lot of relief. They will feel that they are being understood. That can diffuse the bomb already.

I always advise a couple that when they are angry with each other, they should go back to their breathing, their mindful walking, embrace their anger, and look deeply into the nature of their anger. And they may be able to transform that anger in just fifteen minutes or a few hours. If they cannot do that, then they will have to tell the other person that they suffer, that they are angry, and that they want the other person to know it. They will try to say it in a calm way. “Darling, I suffer, and I want you to know it.” And in Plum Village, where I live and practice, we advise our friends not to keep their anger for more than twenty-four hours without telling the other person. “Darling, I suffer, and I want you to know it. I do not know why you have done such a thing to me. I do not know why you have said such a thing to me.” That is the first thing they should tell the other person. And if they are not calm enough to say it, they can write it down on a piece of paper.

The second thing they can say or write down is, “I am doing my best.” It means “I am practicing not to say anything, not to do anything with anger, because I know that in doing so I will create more suffering. So I am embracing my anger, I am looking deeply into the nature of my anger.” You tell the other person that you are practicing holding your anger, understanding your anger, in order to find out whether that anger has come from your own misunderstanding, wrong perception, your lack of mindfulness and your lack of skillfulness.

And the third thing you might like to say to him or her is, “I need your help.” Usually when we get angry with someone, we want to do the opposite. We want to say, “I don’t need you. I can survive by myself alone.” “I need your help” means “I need your practice, I need your deep looking, I need you to help me to overcome this anger because I suffer.” And if I suffer, there is no way that you can be happy, because happiness is not an individual matter. If the other person suffers, there is no way that you can be truly happy alone. So helping the other person to suffer less, to smile, will make you happy also.

The Buddha said, “This is like this, because that is like that. This is because that is.” The three sentences I propose are the language of true love. It will inspire the other person to practice, to look deeply, and together you will bring about understanding and reconciliation. I propose to my friends to write down these sentences on a piece of paper and slip it into their wallet. Every time they get angry at their partner or their son or daughter, they can practice mindful breathing, take it out, and read. It will be a bell of mindfulness telling them what to do and what not to do. These are the three sentences: “I suffer and I want you to know it.” “I am doing my best.” “Please help.”

I believe that in an international conflict, the same kind of practice is possible also. That is why I propose to America as a nation to do the same. You tell the people you believe to be the cause of your suffering that you suffer, that you want them to know it, that you want to know why they have done such a thing to you, and you practice listening deeply and with compassion.

The quality of our being is very important, because that question, that statement is not a condemnation, but a willingness to create true communication. “We are ready to listen to you. We know that you must have suffered a lot in order to have done such a thing to us. You may have thought that we are the cause of your suffering. So please tell us whether we have tried to destroy you, whether we have tried to discriminate against you, so that we can understand. And we know that when we understand your suffering, we may be able to help you.” That is what we call in Buddhism “loving speech” or “kind language,” and it has the purpose of creating communication, restoring communication. And with communication restored, peace will be possible.

This summer, a group of Palestinians came to Plum Village and practiced together with a group of Israelis, a few dozen of them. We sponsored their coming and practicing together. In two weeks, they learned to sit together, walk mindfully together, enjoy silent meals together, and sit quietly in order to listen to each other. The practice taken up was very successful. At the end of the two weeks practice, they gave us a wonderful, wonderful report. One lady said, “Thay, this is the first time in my life that I see that peace in the Middle East is possible.” Another young person said, “Thay, when I first arrived in Plum Village, I did not believe that Plum Village was something real because in the situation of my country, you live in constant fear and anger. When your children get onto the bus, you are not sure that they will be coming home. When you go to the market, you are not sure that you will survive to go home to your family. When you come to Plum Village, you see people looking at each other with loving kindness, talking with other kindly, walking peacefully, and doing everything mindfully. We did not believe that it was possible. It did not look real to me.”

But in the peaceful setting of Plum Village, they were able to be together, to live together, and to listen to each other, and finally understanding came. They promised that when they returned to the Middle East, they would continue the practice. They will organize a day of practice every week at the local level and a day of mindfulness at the national level. And they plan to come to Plum Village as a bigger group to continue the practice.

I think that if nations like America can organize that kind of setting where people can come together and spend their time practicing peace, then they will be able to calm down their feelings, their fears, and peaceful negotiation will be much easier.

read an interview with Thich Nhat Hanh

http://www.thezensite.com/ZenTeachings/Essence_of_compassion.html

Nội dung bài chuyển ngữ

Ngày 25-9-2001

Các bạn thân mến, tôi muốn nói cho các bạn biết là làm thế nào tôi có thể thực tập để làm chủ được cơn giận của tôi. Trong thời gian chiến tranh Việt Nam, người dân Việt Nam đã phải chịu gánh lấy rất nhiều bất công. Hàng ngàn người, bao gồm cả bạn bè của tôi, nhiều đệ tử của tôi, đã bị giết, làm tôi rất tức giận. Tôi biết có một lần, tại thành phố Bến Tre, một thành phố có ba trăm ngàn dân cư ngụ, đã bị không quân Mỹ bỏ bom chỉ vì một vài người du kích đến thành phố này. Họ đã đến thành phố này với cố gắng để bắn hạ máy bay Mỹ. Các du kích quân đã không thành công, và sau đó thì họ bỏ đi, và thành phố Bến tre đã bị tàn phá. Tôi rất giận khi những người trong quân đội có trách nhiệm sau đó đã tuyên bố họ phải phá hủy thành phố Bến Tre để cứu thành phố Bến Tre.

Nhưng tại thời điểm đó, tôi đã là một học viên, một học viên vững chãi. Tôi đã không nói bất cứ điều gì, tôi cũng đã không hành động. Bởi vì tôi biết rằng hành động hoặc nói những điều gì trong khi đang tức giận là không khôn ngoan. Nói và hành động trong khi đang tức giận có thể tạo ra rất nhiều sự tàn phá. Tôi quay trở lại với chính tôi, tôi nhận diện sự tức giận của chính tôi, tôi ôm ấp sự tức giận của chính tôi, và tôi nhìn sâu vào bản chất của đau khổ của chính tôi.

Trong truyền thống Phật giáo, chúng ta có phương pháp thực tập hơi thở chánh niệm, đi bộ chánh niệm, là để chúng ta có thể chế tác năng lượng chánh niệm. Năng lượng chánh niệm là năng lượng mà chúng ta có thể nhận diện ra nó. Nhận diện ra nó để nó có thể ôm ấp và chuyển hóa sự tức giận của chúng ta. Chánh niệm là năng lượng giúp chúng ta ý thức được những gì đang xảy ra ở bên trong và ở xung quanh chúng ta, mà ai cũng có thể thực tập. Nếu bạn uống một tách trà mà bạn biết rằng bạn đang uống một tách trà, đó là bạn đang uống trà trong chánh niệm. Khi bạn thở vào mà bạn biết rằng bạn đang thở vào, vì bạn đang tập trung sự chú ý vào hơi thở vào của bạn, đó là bạn đang thở trong chánh niệm. Khi bạn bước một bước chân mà bạn biết rằng bạn đang bước một bước chân, đó là bạn đang bước một bước chân trong chánh niệm. Việc thực hành cơ bản tại các trung tâm thiền, là thực hành để tạo ra năng lượng chánh niệm từng giây phút trong cuộc sống hàng ngày của bạn. Khi bạn tức giận, bạn ý thức được bạn đang tức giận. Bạn ý thức được bạn đang tức giận là vì trong bạn đã có đủ năng lượng chánh niệm mà bạn đã gặt hái được bằng thực tập. Đó là lý do bạn có đủ khả năng để nhận diện, để ôm ấp, để nhìn sâu, và để hiểu được bản chất tự nhiên của sự đau khổ đang có mặt ở trong bạn.

Chẳng những tôi có thể hiểu được bản chất của sự đau khổ tại Việt Nam, mà tôi cũng còn hiểu rằng nhân dân Mỹ cũng phải chịu đựng sự đau khổ đó, giống như người Việt Nam đã phải chịu đựng đau khổ trong suốt thời kỳ chiến tranh Việt Nam vậy. Người thanh niên Mỹ đã được gửi đến Việt Nam để giết và để bị giết, đã phải trải qua rất nhiều đau khổ, và đau khổ đã tiếp tục cho đến ngày hôm nay. Gia đình của họ đau khổ, quốc gia của họ cũng đau khổ. Tôi cũng có thể nhận thấy rằng nguyên nhân của sự đau khổ của chúng tôi tại Việt Nam không phải do các chiến binh Mỹ gây ra, mà là do một chính sách không khôn ngoan. Đó là do sự nhầm lẫn. Đó là do nỗi sợ hãi nằm trên nền tảng của chính sách Mỹ trong chiến tranh Việt Nam.

Nhiều người Việt Nam đã phải tự thiêu để kêu gọi chấm dứt sự hủy diệt này. Họ không muốn gây đau đớn cho người khác, mà chỉ muốn dành sự đau đớn đó cho bản thân của họ, như là một thông điệp gây sự chú ý lên thế giới. Nhưng âm thanh của máy bay và âm thanh của bom đạn đã lấn át, đưa chúng tôi tới tình trạng không có bao nhiêu người nghe được tiếng kêu gọi. Vì thế cho nên tôi quyết định tới Mỹ để kêu gọi chấm dứt sự bạo động. Đó là vào năm 1966. Và vì lý do đó mà tôi bị ngăn cấm hồi hương, phải sống lưu vong kể từ năm 1966.

Tôi đã có thể nhận thức được rằng kẻ thù thực sự của con người không phải là con người. Kẻ thù thực sự của con người là sự thiếu hiểu biết, sự kỳ thị, sự sợ hãi, sự tham ái, và là sự bạo động. Tôi không thù ghét người dân Mỹ, tôi không thù ghét đất nước Mỹ. Tôi đến Mỹ là để cầu xin một cái nhìn sâu sắc, để từ cái nhìn sâu sắc đó, chính phủ Mỹ có thể điều chỉnh lại chính sách của họ. Tôi còn nhớ tôi đã gặp được Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert MacNamara. Tôi đã kể lại cho ông nghe sự thật về đau khổ của người Mỹ và người Việt. Bộ Trưởng McNamara đã giữ tôi lại với ông một thời gian dài để lắng nghe một cách sâu sắc hơn tiếng nói của tôi, và tôi cũng rất biết ơn sự lắng nghe sâu sắc đó của ông. Ba tháng sau, khi chiến tranh trở nên khốc liệt, tôi nghe nói ông đã từ chức.

Hận thù và giận dữ không có ở trong trái tim của tôi. Đó là lý do tại sao tôi đã được nhiều người trẻ trên đất nước của tôi lắng nghe. Tôi ủng hộ họ đi theo con đường hòa giải, và tất cả chúng tôi đã cùng nhau tạo thành một tổ chức tại Paris với mục đích mang tới hòa bình. Tôi hy vọng bạn bè của tôi ở đây tại New York cũng có thể làm như vậy. Tôi hiểu, tôi hiểu sự đau khổ và sự bất công, và tôi cũng cảm thấy tôi hiểu sâu sắc sự đau khổ của thành phố New York tại Mỹ. Tôi cảm thấy tôi là một người New Yorker. Tôi cảm thấy tôi là một người Mỹ.

Tôi [1] muốn có mặt ở đó với bạn, để cùng với bạn, không hành động, bạn sẽ không nói gì khi bạn không bình tĩnh. Có nhiều cách mà chúng ta có thể quay trở về với chính chúng ta và thực hành để tái khám phá lại sự bình tĩnh của chúng ta, sự an lạc của chúng ta, sự sáng suốt của chúng ta. Có nhiều cách mà chúng ta có thể thực hành để hiểu được nguyên nhân thực sự gây ra đau khổ. Và sự hiểu biết đó sẽ giúp chúng ta làm những gì cần thiết, và không làm những gì không cần thiết để có thể gây nguy hại cho chúng ta và cho người khác. Chúng ta hãy thực tập hơi thở chánh niệm nửa phút trước khi chúng ta tiếp tục bài pháp thoại.

Trong tâm lý học Phật giáo, chúng ta nói về ý thức bằng cách dùng từ ngữ hạt giống. Chúng ta có hạt giống của sự giận dữ trong tâm thức của chúng ta. Chúng ta có hạt giống của sự tuyệt vọng, sự sợ hãi. Nhưng chúng ta cũng có hạt giống của sự hiểu biết, hạt giống của trí tuệ, của từ bi và của tha thứ. Nếu chúng ta biết làm thế nào để tưới tẩm hạt giống trí tuệ và từ bi trong chúng ta, hạt giống đó sẽ tự chuyển hóa thành các loại năng lượng mạnh, giúp chúng ta thực hiện được hành động tha thứ và mở được lòng từ bi. Nó có thể mang lại sự êm dịu ngay lập tức cho đất nước của chúng ta, cho thế giới của chúng ta. Đó là niềm tin của tôi.

Tôi tin tưởng một cách mạnh mẽ rằng bạn, một người Mỹ, có rất nhiều sự khôn ngoan và lòng từ bi bên trong trái tim của bạn. Tôi muốn làm một người bạn tốt nhất của bạn khi bạn bắt đầu hành động, vì lợi ích của nước Mỹ, và cũng vì lợi ích của thế giới. Với sự sáng suốt, với sự hiểu biết và với lòng từ bi, bạn sẽ có khả năng quay lại với những người đã gây ra rất nhiều thiệt hại và đau khổ cho bạn, và để bạn có thể hỏi họ rất nhiều câu hỏi.

Chúng tôi không hiểu hết sự đau khổ của quý vị, quý vị có thể cho chúng tôi biết được không? Chúng tôi đã không làm điều gì gây đau khổ cho quý vị, chúng tôi đã không cố gắng tiêu diệt quý vị, không kỳ thị quý vị, nhưng không hiểu tại sao quý vị đã làm như vậy đối với chúng tôi? Có lẽ quý vị là người có rất nhiều đau khổ ở trong quý vị. Chúng tôi muốn lắng nghe quý vị. Chúng tôi có thể giúp được quý vị. Và có thể làm việc cùng nhau với quý vị, chúng tôi và quý vị có thể giúp xây dựng hòa bình trên thế giới.” Và nếu bạn là người có thực tập vững chãi, và nếu bạn có từ bi khi nói lên câu này, họ sẽ cho bạn biết nỗi khổ của họ.

Trong Phật giáo chúng ta nói về thực tập hạnh lắng nghe. Lắng nghe một cách từ bi, là một phương pháp tuyệt vời mà chúng ta có thể khôi phục truyền thông – truyền thông giữa các đối tác, truyền thông giữa cha và con, truyền thông giữa mẹ và con gái, truyền thông giữa các quốc gia. Sự thực tập lắng nghe một cách sâu sắc cần được khích lệ bởi các bậc cha mẹ, bởi các đối tác, do đó họ có thể hiểu được sự đau khổ của người khác. Những người khác đó có thể là những người vợ của chúng ta, là chồng của chúng ta, là con trai hay con gái của chúng ta. Chúng ta có thể có đủ thiện chí để lắng nghe, nhưng nhiều người trong chúng ta đã mất năng lực để lắng nghe, bởi vì những người ấy có rất nhiều sự bực tức và bạo động. Những người ấy đã không biết làm thế nào để nói lời ái ngữ; họ luôn đổ lỗi và phân bua. Ngôn ngữ của họ thường là cay đắng. Ngôn ngữ của họ luôn khơi dậy sự khó chịu và sự giận dữ trong chúng ta, và làm cho chúng ta mất khả năng lắng nghe một cách sâu sắc với lòng từ bi. Tôi nghĩ, tôi tin, tôi có niềm tin, rằng, một người cha, nếu người cha đó biết làm thế nào để lắng nghe con trai của ông một cách sâu sắc, lắng nghe con trai của ông với một tấm lòng từ bi, ông ấy sẽ có thể mở cửa trái tim con trai của ông, để khôi phục truyền thông giữa ông và con trai của ông.

Các dân biểu trong quốc hội và các thượng nghị sĩ cũng nên rèn luyện bản thân trong nghệ thật lắng nghe một cách từ bi và sâu sắc. Trong quốc gia có rất nhiều đau khổ, và nhiều người cảm thấy nỗi đau khổ của họ không được ai biết tới. Đó là lý do tại sao các chính trị gia, các thành viên trong căn nhà lập pháp, các thành viên của quốc hội phải rèn luyện bản thân trong nghệ thuật lắng nghe – để lắng nghe người dân của họ, để lắng nghe những đau khổ trong nước, bởi vì có sự bất công ở trong nước, bởi vì có sự kỳ thị ở trong nước. Có rất nhiều tức giận ở trong nước. Nếu chúng ta có thể lắng nghe nhau, chúng ta cũng có thể nghe những người bên ngoài đất nước của chúng ta. Nhiều người trong số họ đang ở trong một tình trạng tuyệt vọng, vì có nhiều đau khổ, bất công và kỳ thị. Năng lượng bạo động và sự tuyệt vọng trong họ là rất lớn. Và nếu chúng ta biết cách lắng nghe họ trên cương vị của một quốc gia về nỗi khổ của họ, chúng ta có thể mang lại rất nhiều sự dễ chịu cho họ. Họ sẽ cảm thấy rằng họ đang được hiểu. Điều đó có thể dập tắc quả bom trong họ.

Tôi thường khuyên một cặp vợ chồng khi họ giận nhau. Tôi khuyên họ nên trở về với hơi thở chánh niệm của họ, nên đi bộ trong chánh niệm, ôm ấp lấy sự tức giận trong họ, và nhìn sâu vào bản chất của sự tức giận của họ. Và họ có thể chuyển hóa tức giận của họ chỉ trong mười lăm phút hoặc vài giờ. Nếu họ không thể làm điều đó, thì họ nên nói với người bạn đời của họ rằng họ đang đau khổ, rằng họ đang tức giận, và rằng họ muốn người bạn đời hiểu cho họ điều đó. Họ sẽ cố gắng nói một cách bình tĩnh. “Em yêu, anh đang đau khổ, và anh muốn em biết điều đó.” Và ở tại Làng Mai, nơi tôi sống và thực tập, chúng tôi khuyên bạn bè của chúng tôi không nên giữ sự tức giận trong người hơn hai mươi bốn tiếng đồng hồ mà không nói cho người khác biết. “Em ơi, anh đang đau khổ, và anh muốn em biết điều đó. Anh không hiểu lý do tại sao em đã làm một điều như vậy đối với anh.Anh không hiểu lý do tại sao em đã nói một điều như vậy đối với anh.” Đó là điều đầu tiên mà họ cần nói với người bạn đời. Và nếu họ không đủ bình tĩnh để nói với người bạn đời, họ có thể viết vào một mảnh giấy.

Điều thứ hai họ có thể nói hay viết ra là, “Anh đang làm hết sức của anh.” Nó có nghĩa là “Anh đang thực tập không nói bất cứ điều gì, không làm bất cứ điều gì khi anh đang giận dữ, bởi vì anh biết rằng làm như vậy anh sẽ tạo thêm đau khổ. Vì vậy, anh ôm lấy sự tức giận của anh, anh nhìn sâu vào bản chất của sự tức giận của anh.” Bạn nên nói với người bạn đời của bạn rằng bạn đang thực hành quán chiếu sự tức giận của bạn, để hiểu biết sự tức giận của bạn, để tìm xem nếu sự tức giận đó có đến từ sự hiểu lầm của riêng bạn hay không, có đến từ sự nhận thức sai lầm, từ sự thiếu chánh niệm, hoặc từ sự vụng về của bạn hay không.

Và điều thứ ba bạn có thể nói với anh ấy hoặc chị ấy là, “Tôi cần sự giúp đỡ của anh.” Thường thường khi chúng ta tức giận người nào đó, chúng ta muốn làm ngược lại. Chúng ta nói, “Tôi không cần anh. Tôi có thể tự giải quyết bởi chính tôi.” Khi nói “Tôi cần anh giúp đỡ” có nghĩa là “tôi cần anh thực tập, tôi cần anh nhìn sâu, tôi cần anh giúp tôi vượt qua cơn giận bởi vì tôi đang đau khổ.” Và nếu tôi đau khổ, không có cách nào anh có được hạnh phúc, vì hạnh phúc không phải là một vấn đề cá nhân. Nếu người khác đau khổ, không có cách nào bạn có thể thực sự có hạnh phúc cho một mình bạn. Vì vậy, việc giúp đỡ người khác để họ vơi bớt đau khổ, để họ có thể mỉm cười, điều đó cũng sẽ làm cho bạn có được hạnh phúc.

Bụt nói, “Cái này như thế này, vì cái kia như thế kia (this is because that is).” Ba câu mà tôi đề nghị sau đây là ngôn ngữ của tình yêu đích thực. Ngôn ngữ đó sẽ gây cảm hứng cho người khác thực hành, để nhìn sâu, và để cùng nhau, bạn sẽ mang lại sự hiểu biết và hòa giải. Tôi đề nghị bạn bè của tôi viết ra những câu ấy trên một mảnh giấy và nhét vào ví đựng tiền của họ. Mỗi khi họ tức giận người bạn đời của họ, tức giận con trai hoặc con gái của họ, họ có thể thực tập hơi thở chánh niệm, lấy mảnh giấy đó ra, và đọc. Nó sẽ là một tiếng chuông chánh niệm nói với bạn những gì nên làm và những gì không nên làm. Đây là ba câu nói bằng ngôn ngữ tình yêu đích thực: “Tôi đang đau khổ và tôi muốn bạn biết điều đó.” “Tôi đang làm hết sức của tôi.” “Xin giúp tôi.

Tôi tin rằng trong một cuộc xung đột quốc tế, cùng thực tập giống nhau là điều chúng ta có thể làm được. Đó là lý do tại sao tôi đề nghị với nước Mỹ, trên cương vị của một quốc gia, cũng có thể thực tập như vậy. Bạn sẽ nói với những người mà bạn tin là nguyên nhân của sự đau khổ mà bạn phải chịu đựng, rằng bạn muốn họ biết điều đó, rằng bạn muốn biết lý do tại sao họ đã làm như vậy đối với bạn, trong khi bạn thực hành lắng nghe một cách sâu sắc và với lòng từ bi của bạn.

Phẩm chất con người của chúng ta rất quan trọng, bởi vì câu hỏi đó, câu tuyên bố không phải là một sự lên án, nhưng là một sự sẵn sàng tạo ra truyền thông đích thực. “Chúng tôi sẵn sàng lắng nghe quý vị. Chúng tôi biết rằng quý vị đã phải chịu đựng rất nhiều đau khổ nên mới làm một điều như vậy đối với chúng tôi. Quý vị có thể đã nghĩ chúng tôi là nguyên nhân gây ra đau khổ cho quý vị. Vì vậy, xin quý vị vui lòng cho chúng tôi biết nếu chúng tôi đã cố gắng để tiêu diệt quý vị? hoặc chúng tôi đã cố gắng kỳ thị quý vị? để chúng tôi có thể hiểu được. Và chúng tôi tin rằng khi chúng tôi hiểu được nỗi khổ của quý vị, chúng tôi mới có thể giúp đỡ được cho quý vị.” Đó là những gì mà chúng ta gọi là “ái ngữ” hoặc “ngôn ngữ của hiểu và thương” trong đạo Bụt, nó có mục đích tạo ra truyền thông, khôi phục truyền thông. Và khi truyền thông được phục hồi, hòa bình sẽ có thể đạt được.

Mùa hè này, một nhóm người Palestine đến Làng Mai và thực tập cùng chung với một nhóm người Do Thái, họ có tất cả vài chục người. Chúng tôi tài trợ cho họ đến để họ có thể cùng nhau thực tập với tăng thân Làng Mai. Trong hai tuần, họ đã học ngồi thiền với chúng tôi, đi thiền hành với chúng tôi, thưởng thức bữa ăn im lặng với chúng tôi, và ngồi yên lặng để lắng nghe nhau. Họ thực tập rất thành công. Vào cuối tuần thứ hai của khóa thực tập, họ đã cho Làng Mai một báo cáo tuyệt vời. Một phụ nữ nói: “Thầy, đây là lần đầu tiên trong đời của chúng tôi mà chúng tôi tìm thấy hòa bình ở Trung Đông là có thật.” Một thanh niên nói: “Thầy, khi tôi lần đầu tiên đến Làng Mai, tôi không tin rằng Làng Mai là một cái gì có thật, bởi vì trong tình hình của đất nước của chúng tôi, chúng tôi sống trong sợ hãi và tức giận. Khi con của chúng tôi lên xe buýt, chúng tôi không chắc chắn rằng chúng nó sẽ được trở về nhà. Khi chúng tôi đi vào các siêu thị, chúng tôi không chắc chắn rằng chúng tôi sẽ sống sót để trở về với gia đình. Khi chúng tôi tới Làng Mai, chúng tôi thấy mọi người nhìn nhau với lòng từ ái, nói chuyện với nhau một cách vui vẻ, đi bộ một cách hài hòa, và tất cả mọi việc đều được làm trong chánh niệm. Chúng tôi không tin rằng chúng tôi có thể làm được như vậy, vì đó là những gì không thực tế đối với chúng tôi.”

Nhưng trong khung cảnh yên bình của làng Mai, họ đã có thể thực tập ở bên nhau, sống chung với nhau, và để lắng nghe nhau, và cuối cùng thự sự hiểu biết đã đến. Họ hứa rằng khi họ trở về Trung Đông, họ sẽ tiếp tục thực tập. Họ sẽ tổ chức một ngày thực hành mỗi tuần ở cấp địa phương và một ngày chánh niệm ở cấp quốc gia. Và họ có kế hoạch đến Làng Mai với một nhóm lớn hơn để tiếp tục thực hành thương yêu và hiểu biết.

Tôi nghĩ rằng nếu các quốc gia như là nước Mỹ có thể tổ chức ở một nơi mà mọi người có thể tới với nhau và dành thời gian thực tập hòa bình với nhau, sau đó họ sẽ có thể làm cho bình an cảm xúc của họ, làm cho bình an nỗi sợ hãi của họ, và sự thương thuyết hòa bình sẽ đến với họ một cách dễ dàng hơn nhiều.

Thiền Sư Thích Nhất Hạnh
(Duyên Sinh chuyển ngữ)

_____________________

Ghi chú:
[1] Người chuyển ngữ đổi chữ “You” ra chữ “I” trong bản tiếng Anh trong khi chuyển ngữ

Thứ Hai, 3 tháng 4, 2023

Lê Lợi, đại lộ tình yêu

QUỐC VIỆT

- Kỳ 1: Kinh xưa rày đã thành đường

Chiều cuối tuần, những đôi trai gái đưa nhau lên phố đi bộ Nguyễn Huệ rồi dạo bước qua đường Lê Lợi, trung tâm TP.HCM.

Đại lộ Bonard (Lê Lợi), nhìn từ Nhà hát lớn hồi đầu thế kỷ 20 - Ảnh tư liệu

Đại lộ Bonard (Lê Lợi), nhìn từ Nhà hát lớn hồi đầu thế kỷ 20 - Ảnh tư liệu

Họ nhìn ngắm đại lộ xưa cũ bây giờ ra sao sau bao năm bị "lô cốt" quây kín để làm ga ngầm metro. Gần đây, báo chí rộ thời sự nên làm mái che hay tái trồng cây xanh trên con đường rộng đẹp này càng làm nhiều người tò mò hơn nữa.

Ngắm nhìn đôi uyên ương đang chụp ảnh cưới trước cửa khách sạn REX, bà Trần Thị Phượng tâm sự: "Tôi chưa hình dung được đường phố thân quen này nếu làm mái che thì sẽ như thế nào, đẹp xấu ra sao. Bởi trong ký ức đời người hơn 75 tuổi như tôi, đại lộ Lê Lợi luôn là màu xanh của cây cối tỏa bóng mát rượi".

Thuở còn kinh đào

Bà Phượng là người Hà Nội di cư vào Sài Gòn từ năm 1954. Lên bến tàu Bạch Đằng sau những ngày vật vã say sóng, cô bé Phượng ngày ấy đã ngơ ngác nhìn những con đường Nguyễn Huệ, Lê Lợi (mà thời điểm đó còn mang tên Pháp - Charner và Bonard) lùi dần về phía sau để chuyến xe chở người di cư đưa cô và mẹ cha về khu Tân Chí Linh.

Chợ Bến Thành xây xong năm 1914, đường Bonard (Lê Lợi) đã được kéo dài thêm từ Mac Mahon (Nam Kỳ Khởi Nghĩa) đến đây và trở nên sầm uất nhanh chóng - Ảnh tư liệu

Chợ Bến Thành xây xong năm 1914, đường Bonard (Lê Lợi) đã được kéo dài thêm từ Mac Mahon (Nam Kỳ Khởi Nghĩa) đến đây và trở nên sầm uất nhanh chóng - Ảnh tư liệu

Rồi đến ngày Phượng lớn lên thành nữ sinh Trường Áo Tím (nay là Trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai) và Đại học Văn Khoa (nay là Trường ĐH Khoa học xã hội và Nhân văn TP.HCM), cô càng ắp đầy kỷ niệm với đại lộ Lê Lợi, Nguyễn Huệ mà lứa nữ sinh Sài Gòn thập niên 1960 như cô vẫn ví von là đại lộ tình yêu, nơi hẹn hò của tuổi mộng mơ...

Nhưng đó là câu chuyện của những con đường đẹp nhất nhì thành phố khi đã được gỡ bỏ tên Pháp để vinh danh anh hùng nước Việt. Ngược thời gian trở lại cuối thế kỷ 19, đại lộ Lê Lợi cũng như Nguyễn Huệ đều có nguồn gốc từ hai con kênh đào mà ít người đời sau còn biết.

Trong cuốn Sài Gòn năm xưa, học giả Vương Hồng Sển kể rằng: "Những con đường như Bonard (Lê Lợi), Charner (Nguyễn Huệ), de la Somme (Hàm Nghi), Pellerin (Pasteur) xưa kia đều là kinh rạch sau này lấp đi, tức nhiên buổi đó đi đến đâu cũng gặp toàn nước là nước...".

Vương Hồng Sển sinh năm 1902, khi ông đủ tuổi biết chuyện thì những con kinh này đều đã thành đường phố rồi, nhưng sự tìm hiểu của ông về Sài Gòn là chuẩn xác.

Trong các tài liệu người Pháp cũng ghi rõ nếu như đường Charner được hình thành từ lấp kinh đào Chợ Vải, thì nền đường Bonard chính con kênh đào Gallimard.

Con kinh này dài khoảng 0,8km, được đại úy công binh Gallimard tổ chức đào vào khoảng năm 1861 - 1862 xuyên qua "giữa vùng đầm lầy sau khi chiếm xong Sài Gòn" - như phát biểu của viên thiếu tá Bovet tại phiên họp Ủy hội thành phố Sài Gòn ngày 19-11-1867.

Trên bản đồ thành phố thời vừa bị xâm chiếm ấy, nếu nhìn từ hướng sông Sài Gòn vào, kênh Gallimard giao với đoạn cuối tả ngạn kênh Chợ Vải.

Vì đây là khu vực đầm lầy nên việc đào kênh Gallimard ngoài mục đích thủy lộ còn tiêu thoát nước ra sông Sài Gòn và lấy đất đắp nền để phát triển thành phố về sau.

Thuở mới đặt những viên gạch đầu tiên của Hòn ngọc Viễn Đông ấy, khu vực trung tâm thành phố này còn có rạch Cầu Sấu là tiền thân của đường Hàm Nghi mà người Pháp đặt tên ban đầu là rue No.3, tức đường số 3, và sau lại tiếp tục mấy lần thay tên đổi họ nữa mới mang tên cuối Pháp cùng là Boulevard de la Somme, cho đến năm 1955 thì bị hạ xuống để trang trọng đặt tên Hàm Nghi - vị vua yêu nước người Việt.

Và giao với kinh đào Gallimard còn có một kinh đào nữa mang tên viên đại tá Pháp Oliver, là tiền thân của đường Pasteur bây giờ...

Trở lại với kinh Gallimard, tức đại lộ Lê Lợi về sau. Khi người Pháp cho đào xong con kinh này đã đặt tên con đường bên bờ là rue No.13 (đường số 13).

Tuy nhiên, dòng đời con kinh này ngắn ngủi như số phận của những con kinh khác trong công cuộc đào rồi lấp của người Pháp.

Nó chỉ thông dòng chảy được ít năm trước khi bị lấp vào khoảng thập niên 1870 - 1880 để hình thành đại lộ Bonard - tên phó đề đốc hải quân Pháp từng giữ chức vụ Thống đốc Nam Kỳ.

Thuở đầu đại lộ này chỉ tới đường Mac Mahon (Nam Kỳ Khởi Nghĩa), mãi đến năm 1914 mới nối tới khu vực Halles centrales mà ngày nay là chợ Bến Thành...

Soi bóng đại lộ Lê Lợi

Ngược dòng thời gian trong ký ức của bà Trần Thị Phượng thập niên 1960 và nửa đầu 1970 của thế kỷ 20, hai đại lộ Lê Lợi cùng Nguyễn Huệ đã đậm sâu hồn cốt sang trọng, trí thức và cả tình yêu lãng đãng của tuổi trẻ.

Lịch sử từ thuở đầu lấp kinh để tạo lập đại lộ này, người Pháp đã nhanh chóng nâng cấp nó lên tầm trung tâm với nhiều công trình bề thế và nghệ thuật dù đã vắt qua mấy thế kỷ.

Có rất nhiều tòa nhà lịch sử soi bóng đại lộ Lê Lợi, nhưng điểm nhấn bậc nhất chắc chắn bất cứ ai cũng phải kể đến đầu tiên là Nhà hát lớn mà ngày nay mang tên Nhà hát thành phố Hồ Chí Minh.

Nhà hát Lớn Sài Gòn, "tháp ngà" tô điểm vẻ đẹp cho đầu đường Bonard (Lê Lợi) - Ảnh tư liệu

Nhà hát Lớn Sài Gòn, "tháp ngà" tô điểm vẻ đẹp cho đầu đường Bonard (Lê Lợi) - Ảnh tư liệu

Tọa lạc ngay vị trí tuyệt đẹp công trường Lam Sơn, nhìn ra bùng binh Lê Lợi - Nguyễn Huệ và có thể phóng tầm mắt nhìn suốt đại lộ Lê Lợi đến tận chợ Bến Thành, nhà hát này như một đại đóa hoa quý phái trường tồn tạo điểm nhất cho khởi đầu đại lộ Lê Lợi cũng như cả khu vực trung tâm thành phố.

Công trình nghệ thuật được tạo tác bởi các kiến trúc sư Félix Olivier, Ernest Guichard và Eugène Ferret, được xây dựng từ năm 1898 và hoàn thành vào năm 1900.

Người Pháp đã xây dựng khá nhanh để có "tháp ngà" biểu diễn nghệ thuật đẳng cấp thay cho những nơi biểu diễn tạm trước đó ở nhà gỗ của Dinh thủy sư đề đốc và nhà hát tạm tại vị trí khách sạn Caravelle hiện nay.

Trải cùng bao cuộc bể dâu lịch sử chiến tranh, Nhà hát lớn từng bị ném bom, đóng cửa, rồi trở thành nơi tạm cư cho kiều dân Pháp ở thời điểm 1954. Đến thời kỳ cộng hòa sau 1955, tòa nhà lộng lẫy để biểu diễn nghệ thuật này được tu sửa nhưng lại biến thành trụ sở nghị viện.

Mãi sau năm 1975, Nhà hát lớn mới được trả lại đúng chức năng của mình và tiếp tục trải qua mấy lần sửa sang, trong đó có lần sửa để kỷ niệm 300 năm Sài Gòn - TP.HCM.

Nếu như đầu đường Lê Lợi là "tháp ngà" nghệ thuật vừa kể trên, thì cuối đại lộ này lại là chợ Bến Thành - nơi kinh doanh sầm uất, sang trọng nhất nhì thành phố.

Ngày nay, dạo bước trong ngôi chợ thênh thang, chắc chắn ít người biết tiền thân chợ Bến Thành lại nằm bên đường Nguyễn Huệ ngày nay mà xưa còn là kinh Chợ Vải. Học giả Vương Hồng Sển với cuốn Sài Gòn năm xưa đã kể lại rằng: "Nói về vùng Chợ Mới như ngày nay ta thấy, xưa kia là một ao sình lầy nước đọng...

Năm 1913, người Pháp lấy ao vũng xây nhà chợ có làm lễ lạc thành trọng thể gọi là lễ "khai tân thị". Chợ này ở gần chỗ bến nước của thành xưa nên gọi là chợ Bến Thành cho đến nay vẫn gọi như thế...".

Khi chợ Bến Thành xây dựng xong, đại lộ Lê Lợi cũng được kéo dài tới tận ngôi chợ mới này. Rồi thêm một quảng trường thênh thang trước cổng chợ, một nhà ga xe lửa mới cùng hàng loạt cửa tiệm, công ty, nhà hàng, khách sạn nổi tiếng hai bên đường đã nâng tầm Lê Lợi thành một đại lộ hào hoa, sang trọng mà bất cứ ai đến Sài Gòn không thể không dạo bước ghé thăm...

Đường Lê Lợi đầu tháng 4-2023 dù thiếu bóng mát nhưng các đôi vẫn chụp ảnh cưới lãng mạn - Ảnh: QUỐC VIỆT

Đường Lê Lợi đầu tháng 4-2023 dù thiếu bóng mát nhưng các đôi vẫn chụp ảnh cưới lãng mạn - Ảnh: QUỐC VIỆT

"Ngã tư Kinh Lấp đụng với con kinh về sau biến thành đại lộ Bonard (nay là Lê Lợi) hồi mồ ma thời Pháp, vẫn là xóm sang trọng nhứt. Tại chỗ bồn nước ngay ngã tư này, hồi đó có xây một bệ nước cao hình bát giác...

Mỗi chiều thứ bảy, tại bệ này có mấy chú lính san đá trỗi nhạc Tây cho đồng bào ta thưởng thức", học giả Vương kể về thuở đầu của bùng binh bồn kèn, nơi giao nhau của đại lộ Lê Lợi và Nguyễn Huệ.


- Kỳ 2: Những người in dấu đại lộ Lê Lợi

Từ thuở đầu thế kỷ 20, đâu chỉ người Pháp gầy dựng cơ nghiệp, mà chính nhiều người Việt cũng góp phần tạo nên danh tiếng cho đại lộ Bonard, tức Lê Lợi sau này...

Quán cá phê nhạc ở số 8 Bonard (Lê Lợi) đầu thế kỷ 20 - Ảnh tư liệu

Quán cá phê nhạc ở số 8 Bonard (Lê Lợi) đầu thế kỷ 20 - Ảnh tư liệu

Còn nhớ hơn thập niên trước, người viết bài này hữu duyên được đưa một người con của thương gia từng gắn bó với đại lộ Lê Lợi trước năm 1975, trở về thăm chốn xưa. Anh là Lê Quang Trí, con ông Lê Quang Mỹ, thương nhân chuyên cung cấp văn phòng phẩm cho các tiệm bán mặt hàng này ở đại lộ trung tâm Sài Gòn.

Dạo thăm Lê Lợi, rồi qua Nguyễn Huệ, Hàm Nghi, Lê Lai, Nguyễn Trãi, anh Trí bất ngờ tâm sự: "Người trước thật hay, toàn đặt tên các anh hùng nước Việt cho trung tâm thành phố".

Trở lại con đường sầm uất

Mùa xuân năm 2010, anh Trí vừa tròn 37 tuổi, chỉ hiểu Sài Gòn - TP.HCM qua lời cha kể rằng đến gần cuối tháng 4-1975, ông vẫn còn giao hàng ở đại lộ Lê Lợi và chưa kịp nhận tiền thì di tản trên một trong những chuyến bay cuối cùng từ phi trường Tân Sơn Nhất.

Ông Mỹ dặn dò con có dịp về quê hương, nhớ ghé thăm Lê Lợi, đại lộ một thời sầm uất mà ông từng gầy dựng cơ nghiệp thương gia.

Và suốt ngày hôm ấy, tôi đã dẫn anh Trí cùng người yêu sắp cưới của mình đi dạo phố Lê Lợi, Nguyễn Huệ, rồi xuôi về đường Nguyễn Trãi ăn phở Lệ và dành thời gian cho đôi lứa mua sắm đồ cưới ở đầu con đường như phố thời trang này.

Cô Hà, vợ sắp cưới của anh Trí, cứ tấm tắc khen quần áo quê hương sao đẹp và rẻ thế. Còn anh Trí thì có vẻ xúc động thật sự khi được thả bước trên những con phố nơi cha mẹ mình từng làm nên duyên phận và in dấu cuộc đời...

Nhưng đó là câu chuyện đầu thập niên thứ hai của thế kỷ 21. Ngược dòng thời gian trở lại hơn 100 năm trước, đại lộ Bonard (năm 1955 được đổi tên Lê Lợi) của thành phố Sài Gòn cũng đã rất sầm uất và trở thành con đường lý tưởng cho nhiều thương gia, công chức quan trọng tìm chốn an cư, tạo dựng sự nghiệp.

Và tuy không được thế "đắc địa" thẳng từ sông Sài Gòn lên như đại lộ Charner (đường Nguyễn Huệ), nhưng đại lộ Bonard đã nhanh chóng có những tòa nhà in dấu nhiều nhân vật quan trọng của Sài Gòn buổi ban đầu đặt nền móng dựng xây Hòn ngọc Viễn Đông.

Khách sạn continental cổ kính - Ảnh: Tư liệu

Khách sạn continental cổ kính - Ảnh: Tư liệu

Niên giám Đông Dương năm 1908 từng dành nhiều giấy mực cho đại lộ Bonard. Nên nhớ giai đoạn này, đường Bonard, tức Lê Lợi, mới chỉ khởi đầu từ vị trí Nhà hát Lớn (Nhà hát TP.HCM nay) tới ngã tư giao với đường Mac Mahon (Nam Kỳ Khởi Nghĩa) mà chưa được nối dài tới Bến Thành như năm 1914 khi ngôi chợ lớn nhất nhì thành phố được xây dựng xong.

Lần giở lại những trang niên giám ố màu thời gian, có nhiều nhân vật đặc biệt ở Bonard, nhưng đầu tiên có lẽ phải nhắc đến gia đình giáo sư Marc-Ange Canavaggio ở tòa nhà số 41 đại lộ này. Vị giáo sư có bằng luật khá hiếm hoi của Sài Gòn lúc đó.

Trước khi chọn quê hương thứ hai, dòng dõi gia đình ông Canavaggio gốc đảo Corse của Pháp ở Địa Trung Hải. Không chỉ ông được nể trọng vì làm Sở Giáo dục Nam Kỳ, mà các anh em như ông Paul Canavaggio là hội viên của Hội đồng Quản hạt, ông François Canavaggio là phó chủ tịch Phòng Canh nông Nam Kỳ.

Anh em nhà ông thân với các nhà báo, nhà văn người Việt như Nguyễn Chánh Sắt, Lương Khắc Ninh, Trần Chánh Chiếu. Nhóm Pháp - Việt này chính là những người đồng sáng lập hoặc bảo trợ và trực tiếp phát triển những tờ báo tiếng Việt nổi tiếng đầu thế kỷ như Nông cổ mín đàm, Lục tỉnh tân văn...

Ngoài ra, do làm lãnh đạo ở Phòng Canh nông Nam Kỳ, ông François Canavaggio cũng góp phần phát triển nhiều giống cây công nghiệp mới vào Việt Nam, trong đó có cây cao su đã nhanh chóng chiếm vị trí quan trọng.

Cũng liên quan đến cây cao su đang được đặc biệt chú ý ở Việt Nam đầu thế kỷ 20, tòa nhà số 42bis đại lộ Bonard là văn phòng công ty đồn điền cao su Société Suzannah. Ngày 27-2-1907, công ty này được thành lập bởi nhóm ông Louis Cazeau và phát triển thành công các đồn điền cao su rộng hơn 3.400ha ở Dầu Giây, An Lộc.

Ông Cazeau cũng là giám đốc công ty xe lửa hơi nước SGTVC đông khách tuyến Sài Gòn - Chợ Lớn và Sài Gòn - Mỹ Tho. Là hội viên Hội đồng Quản hạt, ông cũng chính là người tạo dựng Hotel Continental sang trọng đầu tiên của Việt Nam ở góc đại lộ Bonard và đường Catinat, tức Đồng Khởi ngày nay.

Khách sạn được khởi công năm 1878 và hoàn thành năm 1880 ngay vị trí vàng của thành phố để đón tiếp quan chức và thương nhân Pháp có nơi ăn chốn ở lịch lãm sau nhiều ngày lênh đênh vượt biển sang Việt Nam.

Người trẻ thời nay hiếm ai biết thập niên 1960-1970, chính quyền Sài Gòn từng yêu cầu các cơ sở doanh thương phải dùng bảng hiệu Việt. 

Do đó, Hotel Continental đã vắt qua ba thế kỷ còn từng có tên Đại Lục Lữ Quán và in dấu nhiều con người danh tiếng như nhà thơ Ấn Độ Rabindranath Tagore (giải Nobel văn chương 1913), văn hào Pháp André Malraux, văn hào Anh Graham Greene viết truyện Người Mỹ trầm lặng.

Đặc biệt trong chiến cuộc 1954-1975, tòa nhà này cũng là nơi tụ họp hằng ngày của nhiều ký giả để săn tin thời cuộc nóng hổi lẫn giới chính khách, tình báo của nhiều phe, trong đó có cả nhà tình báo nổi tiếng Phạm Xuân Ẩn.

Ngược dòng lịch sử, nếu dạo bước đại lộ Bonard, tức Lê Lợi hơn 100 năm trước, người ta còn được gặp nhiều nhân vật khá đặc biệt của thành phố buổi đầu phát triển. Kế công ty đồn điền cao su Société Suzannah là ngôi nhà của ông Louvet ở số 42.

Ông chính là người quay phim sớm mang phim ảnh sang chiếu cho kiều dân Pháp và người Sài Gòn xem trước khi có rạp Casino Saigon. Và phim đầu tiên chiếu ở thành phố này vào năm 1898 tại nhà hát cũ mà sau được xây dựng thành khách sạn Caravelle.

Bùng binh Bồn Kèn, giao lộ đại lộ Bonard (Lê Lợi) và Charner (Nguyễn Huệ) đầu thế kỷ 20 - Ảnh tư liệu

Bùng binh Bồn Kèn, giao lộ đại lộ Bonard (Lê Lợi) và Charner (Nguyễn Huệ) đầu thế kỷ 20 - Ảnh tư liệu

Pháp, Việt cạnh tranh

Tuy nhiên, điều rất ấn tượng là dấu ấn lịch sử đầu thế kỷ 20 trên đại lộ Bonard không chỉ có người Pháp mà còn cả nhiều tên tuổi Việt. 

Trong giới doanh gia có những thương hiệu lớn được quảng cáo trên báo chí như tiệm may của một người Hà Nội vào làm ăn ở Sài Gòn mang tên Công Tính Thành ở số 80 Bonard.

Ngày 28-9-1926, tờ Nhật Tân báo đã đăng quảng cáo Công Tính Thành là tiệm may lớn nhất Sài Gòn: "Tiệm may lớn nhứt Sài Gòn, có trên 30 người thợ, may khéo đã có danh, hầu khắp lục châu biết tiếng hàng, nỉ thượng-hạng đủ màu, có phòng riêng mặc thử, xin quý vị chiếu cố".

Liền kề bên Công Tính Thành, tiếp tục là một tiệm buôn lụa cũng rất nổi tiếng của ông Nguyễn Khắc Trương hợp tác với huyện sĩ Lê Phát Vĩnh là con trai ông Lê Phát Đạt, một nhà giàu nổi tiếng thời ấy với câu dân gian truyền miệng "Nhất Sĩ, nhì Phương, tam Xường, tứ Đạt".

Nguồn vải lụa bán cũng chính do ông Nguyễn Khắc Trương và Lê Phát Vĩnh hợp tác sản xuất ở ngay khu Cầu Kho, Sài Gòn. Các địa chỉ kế bên tiệm lụa này cũng là do những người Việt làm chủ như tiệm giày An Thanh số 92, tiệm xe đạp số 94, 96 của các ông Nguyen Van Tran...

Tòa nhà GMC về sau trở thành thương xá TAX nổi tiếng ở góc đường Lê Lợi - Nguyễn Huệ  - Ảnh: Life

Tòa nhà GMC về sau trở thành thương xá TAX nổi tiếng ở góc đường Lê Lợi - Nguyễn Huệ - Ảnh: Life

Đặc biệt, đoạn cuối đại lộ Bonard ở số 120-124 gần chợ Bến Thành còn tiệm thuốc tây Grande Pharmacie de Saigon của dược sĩ Nguyễn Văn Cao được nhiều người ghé mua.

Như vậy, từ thuở đầu thế kỷ 20, đâu chỉ người Pháp gầy dựng cơ nghiệp, mà chính nhiều người Việt cũng góp phần tạo nên danh tiếng cho đại lộ Bonard, tức Lê Lợi sau này...

Ở địa chỉ 68 đường Bonard (Lê Lợi) còn có một thương nhân Việt rất nổi tiếng là ông François Sự, tức Nguyễn Văn Sự (1890-1950, quê Bến Tre) chuyên buôn bán hột xoàn, đá quý.

Hưởng ứng phong trào Minh Tân cổ võ thương nghiệp để phát triển nước nhà, thương nhân Sự đã mở mang thành công tiệm buôn bán đá quý mà ngay cả giới buôn bên Paris cũng hợp tác làm ăn.

Trong bản kêu gọi cử tri bỏ phiếu cho mình ứng cử hội viên Phòng Thương mại Sài Gòn, ông Sự đã viết những lời tha thiết đến đồng bào: "Kính gửi Thương nhân đồng bào... Là một thương nhân, định cư ở thành phố Sài Gòn đã nhiều năm, tôi luôn tỏ ra trung thành và chân thành với khách hàng, đồng thời cạnh tranh gay gắt với thương nhân nước ngoài, để bảo vệ và làm cho thương mại An Nam chúng ta phát triển thịnh vượng...".