Thứ Hai, 19 tháng 9, 2011

Nhà trường thất bại thì cả xã hội thất bại

Dịch giả Phạm Anh Tuấn


SGTT.VN - “Dân tộc nào có những nhà trường tốt nhất, dân tộc đó sẽ đứng trên các dân tộc khác, hôm nay chưa vào vị trí ấy thì là ngày mai” – thông điệp của Jules Simon, triết gia kiêm chính trị gia người Pháp khiến Phạm Anh Tuấn tâm đắc đến mức âm thầm bỏ công sức dịch những tác phẩm mang tư tưởng canh tân giáo dục.
Là con trai nhà giáo dục Phạm Toàn, sự tương đồng trong quan điểm sống đã giúp họ trở thành hai người bạn trên cùng trận tuyến đầy gian khó để làm thay đổi tư duy giáo dục. Theo Phạm Anh Tuấn, đổi mới giáo dục chính là cứu trẻ em, những người có thể làm thay đổi định mệnh dân tộc.

Với việc dịch tác phẩm Dân chủ và giáo dục của John Dewey, dường như anh muốn thay đổi hẳn cách nghĩ về trẻ em trong nhà trường?
John Dewey là nhà giáo dục có ảnh hưởng rất lớn tới trường học cho tới tận ngày hôm nay ở rất nhiều nước, thật tiếc là Việt Nam không nằm trong số đó. Trường học là của trẻ em chứ không phải của người lớn. Giáo dục không phải là chuẩn bị cho trẻ em cuộc sống tương lai.
Giáo dục là bản thân cuộc sống. Nhà trường áp dụng lối dạy áp đặt, nhồi sọ, học vẹt, học suông, thì trong trường hợp tốt nhất cũng chỉ có thể cung ứng cho xã hội những cá nhân giỏi chuyên môn thật đấy song mang tư cách của kẻ nô lệ. Nhà trường phải là nơi để trẻ em tập sống cuộc sống dân chủ, nhà trường là một xã hội dân chủ thu nhỏ. Một xã hội muốn trở thành xã hội dân chủ thì cuộc sống nhà trường phải dân chủ.

Khi xã hội bất ổn, nhà trường thường quay sang đổ lỗi cho giáo dục gia đình, theo anh điều đó có đúng không?
Xã hội bây giờ giống như một sới vật khổng lồ, người ta lao vào kiếm sống, kiếm tiền bằng mọi cách cốt sao cho thật nhanh, thu được thật nhiều món lời. Có cảm tưởng như ai cũng sợ mất phần, ai cũng sợ không đến lượt mình hoặc đến lượt mình thì hết phần. Hầu như chẳng ai còn tin ai nữa. Lẻ tẻ trong những gia đình nho nhỏ vẫn còn tình thương yêu có thật, đó là tình mẫu tử, tình phụ tử… nhưng nói thật nhé, trong chừng mực nào đó cái tình cảm ấy là tự nhiên, có thể tìm thấy ngay cả ở loài động vật bậc thấp! Để tạo ra những giá trị mới mẻ, nếu nhà trường không làm thì ai làm? Gia đình là định mệnh tự nhiên, còn nhà trường là nơi có thể chủ động tạo ra năng lực yêu thương, năng lực cảm thông, tạo ra tri thức. Trẻ con không thể chọn cha mẹ, may nhờ rủi chịu, nhưng nhà trường phải là nơi mang đến cơ hội công bằng cho tất cả, để thay đổi số phận. Nếu nhà trường thất bại thì cả xã hội thất bại. Bản chất của sự rối loạn hiện nay là do nhà trường không hoàn thành nhiệm vụ của mình. 50 học sinh là 50 số phận, nhưng nhà trường là số phận chung, nếu nhà trường làm đúng thì sẽ giúp các em vượt qua số phận cá nhân. Học chính là để vượt qua số phận cá nhân.

Với gần mười tác phẩm đã dịch, không dừng lại ở những tác phẩm triết học mang tính luận đề như Cách mạng học tập, Văn hoá và bá quyền... anh còn bước sang lĩnh vực văn chương như Chuyện của Paco. Được đào tạo căn bản về tiếng Pháp, vì sao anh lại chọn dịch tác phẩm của một nhà văn Mỹ?
Trường học là của trẻ em chứ không phải của người lớn. Giáo dục không phải là chuẩn bị cho trẻ em cuộc sống tương lai. Giáo dục là bản thân cuộc sống.
Chỉ là tình cờ thôi. Sau khi bản dịch ra đời, tôi có viết liền mấy bài giới thiệu về tác giả Larry Heinemann và tác phẩm của ông cùng một chút hiểu biết của tôi về văn học Mỹ. Nhờ dịch Chuyện của Paco mà tôi được kết thân với nhà văn Mỹ L. Heinemann. Được dịch một tác phẩm mà tác giả còn sống, lại được gặp trực tiếp ông ấy, có điều gì đó thật thú vị. Tôi gọi L. Heinemann là “người kể chuyện của nước Mỹ”. L. Heinemann có thú nhận là ông có nhiều điểm chung nhất với nhà văn Bảo Ninh: cả hai đều là những người lính trong cuộc chiến Việt Nam, cả hai sau khi xuất ngũ đều theo học một lớp sáng tác ngắn ngày và sau đó cho ra mắt tác phẩm đầu tay với lối viết không thi vị hoá chiến tranh. Chuyện của Paco, giống như trường hợp Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, thoạt đầu đã gây sốc cho độc giả. Nhưng L. Heinemann nói rằng ông không đi lính để trở thành nhà văn mà ngược lại. Sau Chuyện của Paco với giải thưởng Sách quốc gia của Mỹ năm 1986 dành cho thể loại hư cấu, L. Heinemann hầu như không viết nữa. Hiện ông dạy học tại đại học Texas A&M và lúc rảnh rỗi thì chơi… golf.
Tôi học tiếng Pháp ở đại học sư phạm và thực tế là tôi tiếp xúc với rất nhiều người Pháp. Nhưng tôi thấy khó thân với người Pháp. Người Mỹ rất chân thật, không điệu đàng. Và họ có khả năng sống sót, thoát hiểm rất giỏi. Như anh chàng Paco trong Chuyện của Paco.

Không chỉ dừng lại ở vai trò một dịch giả, anh còn nỗ lực rất nhiều trong việc “quảng bá tri thức” với những bài viết mạnh mẽ, đánh động dư luận?
Mổ xẻ tác phẩm dưới nhiều góc cạnh, nỗ lực quảng bá tư tưởng của cuốn sách do mình dịch để nhiều người cùng biết, cùng hiểu là việc làm hữu ích của người dịch sách chân chính. Tôi học được điều này từ nhà nghiên cứu triết học Bùi Văn Nam Sơn.

Từng kiếm sống bằng rất nhiều nghề, bây giờ lại chọn cách tồn tại như một dịch giả tự do, theo anh, giữ được sự độc lập cho chính mình trong hoàn cảnh hiện nay có khó không?


Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên:
“Phạm Anh Tuấn đúng là con của Phạm Toàn, những con người có ý chí vươn đến tầm cao văn hoá. Quen biết với Phạm Toàn trước, thỉnh thoảng tôi nghe ông bạn vong niên nói về con trai mình với giọng bằng hữu, như người bạn nói về bạn thân, điều đó chứng tỏ tầm vóc của Phạm Anh Tuấn. Là người thầm lặng, ít giao du, nhưng gần đây, qua những bài viết của mình trên báo chí, diễn đàn văn hoá… anh đã xuất hiện như một người có ý kiến riêng chất lượng, có con đường riêng. Tôi quý anh vì điều đó”.

Nhà triết học Bùi Văn Nam Sơn:
“Gần mười đầu sách biên soạn và dịch thuật của Phạm Anh Tuấn đều xoay quanh một chủ đề: giáo dục, mà chủ yếu là giáo dục trẻ em, cái gốc và chỗ khởi đầu của tất cả. Tôi nghe thấy trong công trình của anh, cũng như của thân phụ anh – dịch giả và nhà giáo Phạm Toàn, tiếng kêu thống thiết của văn hào Lỗ Tấn: “Hãy cứu lấy các em!” Dịch phẩm Dân chủ và giáo dục (John Dewey) của anh hai lần được tôn vinh cho thấy dư luận bao giờ cũng biết trân trọng những người lấy giáo dục và dịch thuật làm số mệnh và sứ mệnh của mình”

Về đời sống vật chất thì không khó khăn lắm, nhưng trong xã hội hiện đại, quả thật rất khó để giữ được sự độc lập, vì tốc độ giao tiếp, truyền thông vô cùng nhanh, phổ giao tiếp thì rộng, xã hội lại là “đa thần tượng” hoặc đa ảo tưởng. Tự do là khởi đầu của mọi sự, không tự do thì không có gì. Nếu một người không tìm được giá trị cho riêng mình thì không thể có tự do. Đọc sách, thưởng thức cuộc sống chính là cách để có tự do. Đánh mất thói quen đọc sách theo tôi là đánh mất tự do, lỗi đó không phải do xã hội, mà do chính mình.
Cuộc đời tôi hầu như là tự học. Hồi bốn hay năm tuổi gì đó, ở nơi sơ tán, chiều chiều bố hay dẫn tôi ra sông Đáy, vừa đi ông vừa dạy tôi tiếng Pháp theo kiểu truyền khẩu. Sau khi tốt nghiệp sư phạm ngoại ngữ khoa Pháp, tôi làm việc tại công ty xuất nhập khẩu sách báo (Xunhasaba), được đi nước ngoài nhiều. Một dạo tôi bỏ Việt Nam sang Đức làm việc, đó là thời gian tôi học nhiều trong cuộc sống. Bố tôi thường đùa là tôi làm 36 nghề rẻ tiền, có thời còn làm thợ khoá…
Hồi còn sinh viên, hiểu biết có là mấy, lại không có từ điển gì cả, bố tôi đã “hành hạ” tôi bằng cách cho dịch những tài liệu triết học rất khó. Nhờ lăn lộn, va chạm mà trưởng thành. Trong con người tôi từ bé đã có mầm mống nổi loạn, không đồng ý với cái hiện tại. Cái đó cũng rất nguy hiểm. Lại được tiếp xúc nhiều với những con người có tư tưởng, những nhân vật có chủ kiến không giống đa số người cùng thời. Hồi tôi còn nhỏ, nhà tôi giống như một thứ “salon” tụ tập nhiều trí thức, văn nghệ sĩ. Không khí đó giống như thứ mưa dầm ngấm lâu, gây ảnh hưởng vô thức tới tôi, một đứa trẻ như tôi rất dễ nhập tâm, âu cũng là định mệnh gia đình.

Trần Trọng Vũ từng viết về cha mình – nhà thơ Trần Dần: “Thời ấy, sống ngay cạnh nhau, trong cùng một căn hộ, nhưng mỗi người trong phòng của mình, không có những chia sẻ thân thiết. Vì nỗi cô đơn của mỗi người quá lớn”… đó phải chăng cũng là tâm trạng của anh?
Đúng thế. Trong gia đình tôi, ba anh em là ba tính cách. Hai em tôi không học gì ở bố một cách công khai. Chỉ có tôi ôm lấy cái nghiệp của bố mình. Nhiều khi quá mệt mỏi vì chiến đấu, tranh cãi, chỉ thấy ông tủm tỉm cười. Khi bố tôi dịch tác phẩm của Phạm Quỳnh, ông Phạm Tuyên cảm động lắm.
Bố tôi và tôi đối với nhau vừa xa vừa gần. Quả thật có những điều người ngoài biết, mà con cái không biết. Bố tôi bắt đầu làm giáo dục từ quãng năm 1967 sau khi ông hết ảo tưởng hoạt động văn chương. Trong chiến tranh chống Mỹ, ông thường xuyên đi vào khu Bốn (có lần ông tha về nhà một quả đạn bi “lép” to như quả dứa bự, nhiều năm trời tôi thấy nó được đặt trên chiếc bàn làm việc duy nhất ở trong nhà tôi). Sau năm 1975, ông cùng Nguyễn Trường biên soạn bộ sách dạy tiếng Việt cho học sinh miền núi (bộ sách được tổng liên đoàn lao động Việt Nam tặng bằng lao động sáng tạo năm 1981 và UNESCO châu Á trao giải nhì năm 1984). Thời gian đó ông thường xuyên đi các tỉnh miền núi phía Bắc. Một hoặc hai tháng ông mới về nhà một lần, dịch tài liệu kiếm tiền đưa cho vợ nuôi con rồi lại đi, như một sự chạy trốn. Ít khi bố con ngồi nói chuyện với nhau…

Nhìn lại con đường của cha mình, anh tâm đắc điều gì?
Cuộc đời tình cờ cho tôi có dịp quan sát ở phạm vi gần trường Thực nghiệm giáo dục phổ thông được thành lập năm 1978 của GS.TS Hồ Ngọc Đại. Khi tôi dịch Dân chủ và giáo dục thì tôi có cảm giác như sống lại nhiều năm trước đó. Thật kỳ lạ là tôi chẳng mất nhiều thời gian để hiểu triết lý giáo dục của John Dewey. Điều mà một sinh viên ngồi ở giảng đường nhiều năm chưa chắc đã hiểu thì tôi hiểu ngay từ phút đầu tiên. Cái đó gọi là sự may mắn của tôi.
Hồ Ngọc Đại và trường thực nghiệm của ông có điều gì đó về triết lý giáo dục rất tương đồng với John Dewey và trường thực nghiệm Dewey ở Chicago hơn 80 năm trước. Tương đồng cả trong sự phản ứng của giới làm giáo dục và xã hội đối với công trình thực nghiệm của hai người. Bố tôi làm giáo dục với nhiều chất mơ mộng của một người viết văn. Hồ Ngọc Đại chỉ độc làm có một công việc dạy học cho trẻ em. Tôi hay gọi ông là một nhà giáo dục “nguyên chất”. Cả hai đều vô cùng vất vả với nền giáo dục của đất nước. Họ đã làm rất nhiều, nói lên nhiều điều nhưng mà hình như người ta chẳng muốn nghe, thậm chí còn muốn phá. Sau khi dịch Dân chủ và giáo dục tôi đã viết nhiều bài và phát biểu cũng nhiều về John Dewey và bao giờ cũng liên hệ với Hồ Ngọc Đại. Hiện nay Hồ Ngọc Đại có vẻ như được “tái thừa nhận” nhưng quỹ thời gian của ông đã cạn, người thì thiếu. Vả chăng Hồ Ngọc Đại lúc này cũng không “kịp” có một bộ sách giáo khoa để mà tranh đấu một cách cụ thể.
Bố tôi sau một thời gian “nghỉ ngơi” thì năm 2009 ông thành lập nhóm Cánh Buồm và ngày 3.10 tới, nhóm của ông sẽ trình xã hội 16 đầu sách bậc tiểu học (từ lớp 1 đến lớp 5). Một nhóm gồm chục người, làm việc không có lương, chỉ trong hai năm mà làm được việc đó thì quả là một thành công không thể phủ nhận.

Cha và con cùng “nổi loạn” trong một nhà có khó sống không?
Chỉ là nổi loạn trong tư tưởng thôi. Đấu tranh là tự nhiên, không đấu tranh thì sao phát triển được. Ở đại học, chẳng hạn, người sinh viên phải được hoàn toàn tự do bày tỏ bất kỳ vấn đề gì… miễn là theo cách ôn hoà. Đừng xuống đường phá phách, đập phá cửa hiệu, đốt xe cộ… là được. Không nên cấm đoán, chặn hết các nẻo đường, thủ tiêu hết các phương tiện để tiến lên… Trong gia đình thì gia phong, truyền thống là cái nền, cái đà, nhưng người ta không sống mãi với cái đó. Tôi rất thích câu kết trong Cánh đồng bất tận của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, rằng trẻ con nhiều khi cũng phải biết tha thứ cho người lớn.

Có bao giờ anh rơi vào cảm giác tuyệt vọng? Làm thế nào anh có thể vượt qua?
Tự do là khởi đầu của mọi sự, không tự do thì không có gì. Nếu một người không tìm được giá trị cho riêng mình thì không thể có tự do. Đọc sách, thưởng thức cuộc sống chính là cách để có tự do.
Có một dạo thời còn trẻ, tôi suýt tìm đến cái chết. Cảm giác này kéo dài khá lâu. Những người mẫn cảm, có thiên tư viết lách bao giờ cũng có một nỗi ám ảnh mà người bình thường gạt bỏ rất dễ. Tình yêu, cái chết là một nỗi ám ảnh với tôi, như một chất vải đã dệt nên mình, một cơ chế nào đó trong con người hành hạ mình, rất sợ hãi, cố làm cái khác cho quên đi. Tâm trạng đó kéo dài nhiều tiếng đồng hồ trong một ngày, ảnh hưởng đến sinh hoạt của mình. Lúc ấy, tôi thích ở một mình. Tự tìm thấy hạnh phúc một mình, tôi thích nghe nhạc cổ điển dù không hiểu hết. Tôi còn nhớ bố tôi đã từng bán cả cái giường duy nhất trong nhà, bán cả chiếc xe đạp đang đi để có tiền mua chiếc máy quay đĩa của Cộng hoà Dân chủ Đức. Hồi đó, ở Hà Nội máy quay đĩa rất hiếm, bố tôi còn thuê đóng thêm một cái thùng để đặt chiếc máy vào gọi là để “cộng hưởng”. Âm nhạc quả thật là một đời sống thứ hai, nó vào người nghe rất nhanh, có thể chữa trị, xua tan mọi buồn phiền mà không cần nhiều kiến thức.

Thực hiện: Kim Yến
Chân dung hội hoạ: Hoàng Tường

Thứ Sáu, 16 tháng 9, 2011

Tượng đài Remember Them: Champions for Humanity có Thiền sư Nhất Hạnh

 Bùi Văn Phú
Tượng đài “Remember Them: Champions for Humanity” vinh danh những người tranh đấu cho dân quyền và nhân bản trên thế giới đã được khánh thành tại Fox Square Park ở thành phố Oakland, California
 
Lễ khánh thành đã diễn ra vào trưa ngày thứ Ba 6/9/2011 với sự tham dự của đại diện chính quyền liên bang, thành phố và các tổ chức bảo trợ. Bà dân biểu liên bang Barbara Lee đang giới thiệu điêu khắc gia Mario Chiodo sau khi tượng đài được mở ra

Trên tượng đài là 25 nhân vật, còn sống và đã qua đời, đã tranh đấu cho những lý tưởng nhân bản trong đó có Mục sư Martin Luther King Jr. (thứ hai từ bên phải) và phu nhân là bà Coretta Scott King luôn ở bên cùng nhiều người khác như Frederick Douglass, Cesar Chavez, Maya Angelou, Rosa Park, Elie Wiesel, Oskar Schindler…

Thánh Gandhi là một nhà tranh đấu trong tinh thần hoà bình được tạc tượng

Tổng thống Franklin Deleno Roosevelt (bên trái), Mẹ Teresa, Thiền sư Nhất Hạnh và Tộc trưởng da đỏ Joseph

Thiền sư Nhất Hạnh được vinh danh là người vận động cho những giải pháp hoà bình trong chiến tranh Việt Nam và sau biến cố 11/9/2001 đã thỉnh cầu Hoa Kỳ dùng ngoại giao thay vũ khí ở Afghanistan và Iraq

Trên 500 quan khách và cư dân thuộc đủ mọi sắc dân đã đến dự lễ khánh thành có trình tấu của giàn nhạc giao hưởng Oakland Symphony, ban hợp ca học sinh và phần đọc thơ của các thi sĩ. Điêu khắc gia Chiodo có ý tưởng thực hiện tượng đài sau khi chứng kiến biến cố 11/9.

© 2011 Buivanphu
________






   6 phản hồi


Trần Đình Hoành, on Tháng Chín 12, 2011 at 11:20 chiều said:

Thiền sư Nhất Hạnh đúng là trường hợp bụt nhà không thiêng. Ở hải ngoại thì mấy chục năm nay luôn luôn có phong trào chửi bới thiền sư từ các nhóm chống cộng cực đoan, vì thiền sư luôn giảng dạy hòa bình. Về nước thì chỉ lập Thiền Viện Bát Nhã một thời gian là bị đóng cửa.
Nhưng thế giới mấy mươi năm nay vẫn xem thiền sư là vị thầy về Thiền và hòa bình của thế giới.
Điều đó nói gì về trí tuệ của chúng ta?
Chúa Giêsu cũng bị chính dân Do thái giết và cho đến ngày nay Kitô giáo vẫn rất thiểu số ở Do Thái.
Phật Thích Ca thì cũng như thế. Tại Ấn Độ ngày nay, phật giáo vẫn rất thiểu số.
Hình như người nhà không thể chấp nhận được một người trong nhà mình có thể là thánh.

haixuanhxh, on Tháng Chín 13, 2011 at 1:26 sáng said:

Tôi được nghe thiền sư Thích Nhất Hạnh giảng về thiền ở chùa Quán Sứ, Hà Nội hình như vào năm 2005 hồi ông về nước để xuất bản một số đầu sách. Được đọc một hai tác phẩm ông viết về đạo Phật, về thiền… nhưng tôi thích nhất bài tuỳ bút “Bông hồng cài áo” ông viết về mẹ, với những câu mở đầu: “Ý niệm về mẹ thường không thể tách rời ý niệm về tình thương. Mà tình thương là một chất liệu ngọt ngào, êm dịu và cố nhiên là ngon lành. Con trẻ thiếu tình thương thì không lớn lên được. Người lớn thiếu tình thương thì cũng không “lớn” lên được. Cằn cỗi , héo mòn…”. Nay ông được tạc tượng xếp ngang hàng với những Gandhi, Mẹ Teresa Calcutta
Martin Luther King… Chúc mừng thiền viện Làng Mai.

Quỳnh Linh, on Tháng Chín 13, 2011 at 5:30 sáng said:

Dear anh Hoành,
Em nghĩ về Thiền Sư Thích Nhất Hạnh, cũng không đến nỗi bụt nhà không thiêng đâu ạ. Vì em thấy ở Việt Nam lưu truyền nhiều sách, đĩa giảng bài của ông. Và với một kẻ “ngoại đạo” như em thì ông là thiền sư duy nhất em … nhớ tên.

Trần Đình Hoành, on Tháng Chín 13, 2011 at 6:44 sáng said:

Hi QL,
Thiền sư Nhất Hạnh và anh cũng có một chút duyên.
Vào khoảng nhưng năm 1997-2000 anh, thỉnh thoảng trên VNForum do anh sáng lập và quản lý, viết bài khuyến khích nhà nước VN cho in sách của thiền sư Nhất Hạnh ở VN và mời thiền sư về nước, vì thiền sư là vị sư nổi tiếng số 2 trên thế giới về Phật giáo, là một viên ngọc rất quý cho VN. (Người số một là Đạt Lai Lạt Ma 14).
Loạt bài đó có vẻ như có hiệu quả vì khoảng năm 2000 bắt đầu có một vài sách của Thiền sư in ở VN.
Cũng vào khoảng đó, có thể là 1998, 1999, nhóm của thiền sư Nhất Hạnh có lẽ là có liên lạc với chính phủ VN để thiền sư trở về VN, nhưng sao đó mà việc không thành, và trên New York Times anh đọc được một bài nói về nhóm của thiền sư Nhất Hạnh chỉ trích chính phủ VN vị phạm tự do tôn giáo và nhân quyền, blah blah… Lúc anh đọc bài báo đó, anh nghĩ là có lẽ bài báo đó do các đệ tử ngớ ngẩn của thiền sư, nhất là đệ tử hàng danh gia ở Mỹ, hơn là do thiền sư, vì tác phong như vậy rất là “cao bồi Mỹ”, chẳng phải Thiền.
Khoảng chừng một năm sau đó (có lẽ cuối 1999 ) ni cô Chân Không (cánh tay phải của thiền sư Nhất Hạnh) gia nhập VNforum của anh và đặt một câu hỏi cho Forum: Thiền sư Nhất Hạnh muốn về VN giảng đạo, nhưng chính phủ VN kiểm soát tất cả mọi vấn đề: thời gian, nơi chốn, người tham dự… Thiền sư hoàn toàn không có quyền chủ động gì hết, vậy thì mọi người trogn VNForum nghĩ là Thiền sư nên phản ứng thế nào?
Có một hai bạn, và người chính là anh trả lời, đại khái thế này: Việc của sư ông là giảng dạy giáo pháp tại Việt Nam, vì nước Việt rất có lợi khi nghe được sư ông giảng dạy. Còn dạy ở đâu, giờ nào, ai nghe, chính phủ VN (và hệ thống an ninh run lập cập) của chính phủ quan tâm, sao sư ông lại có thể để chuyện đó thành vấn đề của sư ông?
Cũng nói thêm là ở hải ngoại lúc đó, chỉ có một group của người Việt duy nhất–ngoài Làng Mai của sư ông–công khai khuyến khích và ủng hộ việc sư ông về Việt Nam là VNForum.
Sau đó khoảng hơn một năm, 2001 thì phải, thiền sư Nhất Hạnh và tùy tùng về VN lần đầu tiên.
Các chi tiết anh viết trên đây có thể sai lạc thời gian một chút xíu. Nhưng anh muốn ghi lại đây làm tài liệu lịch sử vì archive điện tử của VNForum hình như đã bị hư hại và mất mát khá nhiều.
Không biết là Kiều Linh (Caroline Valverde) có nhắc đến việc này trong luận án tiến sĩ 2003 (và quyển sách mới sắp in) của Kiều Linh không, vì luận án TS đó và quyển sách đang in một phần lớn là ảnh hưởng của Vnforum về các chuyển biến chính trị Vn thời đó. (Anh có đọc luận án đó, nhưng quên rồi. Kiều Linh hiện đang dạy Asian Studies tại University of California–Davis).

phonglan, on Tháng Chín 14, 2011 at 5:54 sáng said:

Dear Anh Hòanh !
Theo em biết thì thiền sư Nhất Hạnh được khá nhiều dân Việt nam mến mộ, và luôn gọi là Sư ông,em cũng ngộ tính không từ tác phẩm ”con đường của Bụt” của thiền sư.Tuy nhiên thật buồn là vụ việc ở làng Mai đã làm cho nhiều người đau lòng ,có lẽ vì Phật giáo ở VN vẫn còn mang tính lễ hội ,cầu cúng,chưa hướng cho con người quay thực lại bên trong để sửa đổi bản thân.Em cũng có thời gian thâm nhập vào đời sống của các sư trong các chùa ở VN ,giao tiếp với các thầy và có biết một số sư có quan điểm :giải thóat chứ không cầu cúng,buôn thần bán thánh lại bị coi là nổi dậy , và bị phản ứng từ chính những người có cấp sắc trong hội Phật giáo .Nên việc thiền sư Nhất Hạnh không thành công ở VN ,đúng như anh Hòanh đặt câu hỏi: Điều đó nói gì về trí tuệ của chúng ta ?


Nhưng thật may là vẫn còn những sư chân tu, đem sự nghiệp giải thóat của con người lên hàng đầu chứ không chú trọng cầu cúng,lễ bái ,những người mà em thấy cực kì dũng cảm ,em thấy cũng mừng nữa là hầu hết lớp trẻ, thậm chí có nhiều em còn đang học phổ thông ,đều ủng hộ những sư có tư tưởng giải thóat và các sư này đã có ảnh hưởng rất tích cực đến các em.Em hi vọng là giới trẻ với tâm huyết và sức lực mạnh mẽ có thể làm thay đổi đất nước trong tương lai.
Tuy nhiên em thấy cách tư duy tích cực của Đọt chuối non vẫn tòan diện hơn lại phù hợp với xã hội hiện đại so với cách chỉ đi đến chùa.

Thiện Châu, on Tháng Chín 14, 2011 at 1:42 chiều said:

Mình là một người Công giáo, nhưng kể từ khi được nghe các bài giảng của Thiền sư Nhất Hạnh, mình hiểu sâu sắc hơn và rất tâm đắc với một số triết lý Phật giáo. Có thể chính quyền không welcome Thiền sư, nhưng mình tin là fan hâm mộ và đệ tử của Thiền sư ở VN không hề ít đâu nha. Thật hãnh diện khi thấy gương mặt VN của Thiền sư trên tượng đài!








Thứ Năm, 15 tháng 9, 2011

Chuyện dang dở

Toàn văn bài phỏng vấn GS.Ngô Bảo Châu

Trong cuộc đời mình, mỗi chúng ta thường xuyên phải đối mặt với lựa chọn : tiếp tục bấu víu vào những kế hoạch còn dang dở hay là buông cho nó trôi đi theo dòng chảy của thời gian. Duy trì cái blog Thích Học Toán là một trong những chuyện như thế.
Có bao nhiêu thứ với ta là gắn bó nhưng ta vẫn phải coi nó như vĩnh viễn thuộc về miền của ký ức. Sức có hạn, nếu trái tim không để những thứ nặng nề ở lại phía sau thì đôi chân làm sao mà “rảo bước với thời gian”.
Nhưng tình thân của nhiều bạn đọc với blog Thích Học Toán đã làm cho người coi chùa ấm lòng. Hôm nay blog được mở lại để đáp lại cái tình đó. Nhưng chúng ta sẽ giữ gìn để nó không lại trở thành một hòn đá níu bước chân ta.
Sổ tay Thích Học Toán không nhận nhận xét của độc gỉả. Quả cũng hơi tiếc vì nhận xét của độc giả là phần thưởng lớn nhất cho người viết blog. Nhưng có một số bạn đọc nhầm lẫn giữa nhận xét và tranh cãi, còn chủ blog thì không thích tranh cãi. Người khôn chỉ cần nói với nhau một lời là hiểu.
Một chuyện nhỏ dang dở khác mà cũng nhân tiện đây ta cho vĩnh viễn đi về qua khứ. Dưới đây là một bài phỏng vấn do TT Thích Nhật Từ đề nghị cho báo Đạo Phật ngày nay. Không biết vì lý do gì mà cuối cùng hình như không được in. Chép lại đây có lẽ là thích hợp nhất. Dưới đây là toàn văn bài phỏng vấn, ĐPNN (Đạo Phật ngày nay) đặt câu hỏi, NBC (Ngô Bảo Châu) trả lời.
**********
ĐPNN: Sau khi được bổ nhiệm là giám đốc khoa học của Viện nghiên cứu cao cấp về Toán từ ngày 9-3-2011, được biết đây là mùa hè đầu tiên, GS làm việc tại Việt Nam. Với cương vị này, trách nhiệm và chiến lược của GS trong việc phát triển toán học tại nước nhà ra sao? Những khó khăn nếu có?
NBC: Chào thầy Thích Nhật Từ. Vâng thưa thầy, hè năm nay Viện nghiên cứu cao cấp về Toán (VIASM) đã có những hoạt động khoa học đầu tiên. Bên cạnh việc cùng nhau tìm hiểu một số vấn đề toán học ít được nghiên cứu ở Việt Nam, chúng tôi cố gắng tạo ra một nếp làm việc cho những hoạt động khoa học khác của VIASM sau này. Tất nhiên là vạn sự khởi đầu nan, nhưng tôi rất hy vọng VIASM sẽ là một nguồn sức sống mới cho toán học Việt Nam.
ĐPNN: GS có phải là Phật tử? Việc tìm hiểu về đạo Phật của GS thế nào?
NBC: Gia đình tôi theo Phật nhưng tôi không phải là phật tử theo nghĩa toàn vẹn nhất, mặc dù có lẽ văn hóa Phật giáo có thấm sâu vào con người tôi như nhiều người Việt nam khác.
ĐPNN: Đạo Phật đã ảnh hưởng thế nào đối với cuộc sống của GS?
NBC: Có lẽ đó là sự nhận thức sâu sắc về giá trị của cuộc sống của con người cũng như của mọi sinh linh từ đó dẫn đến sự trân trọng cuộc sống của người khác và của chính mình.
Có lẽ đó còn là một thái độ tương đối bình thản trước mọi biến cố của cuộc sống. Thường thì người ta đạt được sự bình thản này sau khi một phần lớn của đời mình đã trôi qua, văn hóa Phật giáo có thể giúp ta bình thản ngay cả khi một phần lớn của cuộc đời có lẽ còn ở phía trước.
Có lẽ sự nhận thức về tính vô thường của thế giới và của cả con người đã giúp tôi rất nhiều để có một sự cân bằng trong cuộc sống. Một bên ta không thể buông xuôi trách nhiệm với xã hội, với những người thân thiết, với bản thân mình, một bên ta vẫn hiểu rằng cái quan trọng ngày hôm nay, ngày mai có thể sẽ không còn quan trọng nữa.
ĐPNN: Giáo sư đã từng đọc kinh Phật? Nếu có thì đó là kinh gì? Ảnh hưởng của bài kinh đó đối với cuộc sống của giáo sư thế nào?
NBC: Tôi được đọc kinh phật mỗi lần đến thăm bà ngoại tôi. Ngoại tôi tụng kinh hàng ngày. Khi còn là sinh viên tôi có đọc một số sách về lịch sử Phật giáo.
Trải nghiệm quan trọng nhất của tôi với Phật giáo là lần đi thăm di tích Ajanta bên Ấn độ. Đó là những hang đá nơi những người tu hành đã sống từ thế kỷ thứ sáu. Những bức bích họa rất lớn trên vách hang miêu tả cuộc đời của Thích Ca Mầu Ni đã làm tôi xúc động đến ứa nước mắt.
ĐPNN: Là một nhà khoa học toán, giáo sư đánh giá thế nào về các điều minh triết Phật dạy về con người và vũ trụ?
NBC: Triết lý Phật giáo cho con người một nhân sinh quan rộng rãi, giải phóng nhiều định kiến. Đấy là một tố chất cơ bản của nhà khoa học.
Có những nhà khoa học có uy tín đi tìm những điểm chung giữa triết lý tôn giáo trong đó có Phật giáo và Cơ đốc giáo và khoa học hiện đại. Cá nhân tôi thấy những cố gắng này có phần khiên cưỡng.
ĐPNN: Khi tự đặt cho mình biệt hiệu “Hòa thượng Thích Học Toán” hẳn giáo sư đã thể hiện phần nào thiện cảm với Phật giáo, cụ thể hơn là tu sĩ Phật giáo? Ý tưởng của việc chơi chữ này là gì?
NBC: Công việc nghiên cứu khoa học có nhiều điểm chung với cuộc sống của những nhà tu hành. Nghiên cứu khoa học cơ bản cũng có tính thoát ly khỏi cuộc sống trần tục. Tôi chọn biệt danh “Hòa thượng Thích Học Toán” để cho trò chuyện toán học trên blog được thân thiện hơn, để câu chuyện toán học thoát ra khỏi hình thức phổ biến khoa học. Sau khi một số Phật tử có nhắn với tôi không nên đùa với chức danh Hòa thượng, tôi cũng không dùng nó nữa. Tôi cũng không có ý tạo thêm những sự bực bội không cần thiết.
ĐPNN: Gần đây, Giáo sư đặt trang blog cá nhân (thichhoctoan.wordpress.com) ở chế độ riêng tư, một hình thức của đóng cửa đối với độc giả quý mến giáo sư? Đâu là lý do cho việc này?
NBC: Sau sự kiện giải thưởng Fields, blog của tôi có khá nhiều người đọc. Tôi nhận ra rằng cách viết hài hước mà tôi chọn cho blog cũ nay không còn phù hợp nữa. Tôi vẫn giữ ý định mở lại một trang blog mới và viết lại nhiều bài theo một phong cách nghiêm túc và có hệ thống hơn.
ĐPNN: Là người sống và làm việc tại Pháp, trung tâm của văn minh châu Âu và hiện nay giảng dạy tại đại học Chicago, Hoa Kỳ, giáo sư có suy nghĩ gì về mô hình giáo dục đại học Việt Nam trong xu thế toàn cầu hóa?
NBC: Có một khoảng cách khá lớn về chất lượng giữa giáo dục đại học ở Việt Nam và ở các nước phát triển. Vì dư luận xã hội đã quá tiêu cực với chất lượng giáo dục cho nên tôi thấy không cần phân tích thêm. Cái cần và khó hơn nhiều là tìm ra giải pháp. Có lẽ giải pháp tốt nhất là để cho mỗi ngôi trường, mỗi người thầy tìm ra giải pháp riêng cho mình. Nói cách khác là trường đại học và các giáo sư đại học cần được chủ động hơn trong chương trình và qui chế tuyển sinh. Bên cạnh đó, cơ quan quản lý cần làm thêm nhiều điều tra để so sách chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học giữa các trường để dựa vào đó mà có chính sách đầu tư hỗ trợ. Những thông tin này cũng cần được công bố rộng rãi để học sinh sinh viên cũng như phụ huynh có thông tin chính xác hơn cho việc chọn trường học. Việc nới quản lý từ trung ương để tăng tính chủ động cho những người trực tiếp làm công việc đào tạo và nghien cứu có thể dẫn đến bất cập ở chỗ này chỗ khác, nhưng tôi tin vào khả năng tự điều chỉnh của cuộc sống. Sự tự điều chỉnh sẽ nhanh hơn nếu thông tin được rộng đường.
ĐPNN: Toán học có thể giúp gì cho việc quy hoạch đô thị Việt Nam? Kinh nghiệm của Pháp và Mỹ trong lãnh vực này thế nào?
NBC: Ở nước ta, việc quy hoạch giao thông trong các đô thị vẫn dựa nhiều vào cảm tính, nên hay thay đổi. Những hệ thống có độ phức tạp cao như giao thông đô thị thực ra rất cần được thử nghiệm và thiết kế dựa trên những mô hình toán học.
ĐPNN: Là người lập gia đình và có con ở tuổi đôi mươi, đâu là bí quyết duy trì “hạnh phúc gia đình” của giáo sư sau gần 20 năm chung sống?
NBC: Thưa thầy, cuộc sống gia đình nào cũng có lúc sóng gió. Để sống với nhau, mỗi người cần hiểu những người mình yêu để mà sống vui với chính con người họ. Mỗi gia đình còn có một động lực rất lớn để tồn tại đó là con cái và việc nuôi dưỡng, giáo dục con cái.
ĐPNN: Tháng bảy trong Phật giáo là mùa báo hiếu công ân sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ như hai vị Phật trong nhà, Gs có thể chia sẻ vài kỷ niệm đẹp mà hai đấng sinh thành đã giành cho Gs thời trẻ?
NBC: Cha mẹ tôi luôn dành hết cho tôi mọi sự yêu thương, ưu tiên việc nuôi dưỡng giáo tục tôi hơn tất cả. Vợ chồng tôi cũng cố gắng làm như vậy với các con, nhưng chắc chắn là không thể được như ông bà.
Khi còn nhỏ, mẹ tôi dậy tôi rằng xấu nhất là nói dối. Bây giờ tôi vẫn tin và cũng dậy các con tôi như thế.
ĐPNN: Với vai trò làm cha của ba đứa con hiếu thảo và thành công, xin GS chia sẻ kinh nghiệm làm cha của mình?
NBC: Tôi không nghĩ các con tôi đặc biệt thành công hoặc là mình là một người bố kiểu mẫu để có thể tự tin chia sẻ kinh nghiệm với người khác. Công việc bận rộn không cho tôi có nhiều thời gian để gần gũi với con cái như tôi mong muốn mà thời gian là cái mà trẻ nhỏ cần nhất ở cha mẹ. Có lẽ người lớn nên bớt thời gian xem TV, lướt web, tụ tập bạn bè để có thêm thời gian chơi với con, học với con, cùng đọc sách với con. Những cái đó có ích cho trẻ hơn là việc bỏ tiền ra cho con đi học thêm hay những khóa rèn luyện “kỹ năng sống”.
ĐPNN: Theo GS, hạnh phúc là gì? Và đâu là cách thức giáo sư giữ gìn và phát triển hạnh phúc có được?
NBC: Đối với tôi, cái hạnh phúc lớn nhất là cảm giác mình đang sống. Cảm giác đó bao gồm cả vị ngọt và vị đắng. Nó xuất phát quan hệ với những người thân thiết, bạn bè, công việc và xã hội, từ miếng cơm ta ăn, từ miếng nước ta uống, từ không khí ta đang thở.
Để có hạnh phúc, có lẽ không có cách nào khác là yêu cuộc sống như chính nó. Để bất hạnh, có lẽ không có cách nào tốt hơn là đi đuổi theo những ảo ảnh.
ĐPNN: Theo GS, “để sống một cuộc sống có ý nghĩa,” người ta phải làm gì?
NBC: Tôi e mình không đủ thông tuệ để trả lời câu hỏi này của thầy một cách đầy đủ. Phần nhỏ của câu trả lời mà tôi biết là để sống một cuộc sống có ý nghĩa, ta nên tránh làm những việc vô nghĩa.

Chủ Nhật, 11 tháng 9, 2011

It's really weird! - Những điều kỳ lạ liên quan tới bi

Để tưởng niệm 10 năm biến cố 9/11 (9/11/2001), mời quý bạn đọc những điều kỳ lạ sau đây liên quan tới biến cố 9/11. Bản phiên dịch tiếng Việt ở phần cuối. Chúc quý bạn một cuối tuần lễ vui vẻ.
JB
------------------------------------ It's Really Weird! -------------------------------------------

Try this when you get to the bottom I did and it is weird.
This is actually really freaky!! (mainly the end part, but read it all first)
1) New York City has 11 letters
2) Afghanistan has 11 letters.
3) Ramsin Yuseb (The terrorist who threatened to destroy the Twin Towers in 1993) has 11 letters.
4) George W Bush has 11 letters.

This could be a mere coincidence, but this gets more interesting:
1) New York is the 11th state.
2) The first plane crashing against the Twin Towers was flight number 11.
3) Flight 11 was carrying 92 passengers. 9 + 2 = 11
4) Flight 77 which also hit Twin Towers, was carrying 65 passengers. 6+5 = 11
5) The tragedy was on September 11, or 9/11 as it is now known. 9 + 1+1 =11
6) The date is equal to the US emergency services telephone number 911. 9 +1 + 1 = 11

Sheer coincidence..?! Read on and make up your own mind:
1) The total number of victims inside all the hi-jacked planes was 254. 2 +5 + 4 = 11.
2) September 11 is day number 254 of the calendar year. Again 2 + 5 + 4=11.
3) The Madridbombing took place on 3/11/2004. 3 + 1 + 1 + 2 + 4 = 11.
4) The tragedy of Madrid happened 911 days after the Twin Towers incident.

Now this is where things get totally eerie:
The most recognized symbol for the US, after the Stars & Stripes, is the Eagle. The following verse is taken from the Quran, the Islamic holy book:
"For it is written that a son of Arabia would awaken a fearsome Eagle. The wrath of the Eagle would be felt throughout the lands of Allah while some of the people trembled in despair still more rejoiced: for the wrath of the Eagle cleansed the lands of Allah and there was peace."
That verse is number 9.11 of the Quran. unconvinced about all of this Still .?!

Try this and see how you feel afterwards, it made my hair stand on end:
Open Microsoft Word and do the following:
1. Type in capitals Q33 NY. This is the flight number of the first plane to hit one of the Twin Towers.
2. Highlight the Q33 NY.
3. Change the font size to 48.
4. Change the actual font to the WINGDINGS What do you think now?!!

Q33 NY

Q33 NY

Bạn hãy thử những điều này cho đến dưới cùng. Tôi đã làm và thấy nó rất là lạ.

Những điều này thực sự là kỳ quái! (Chủ yếu là phần cuối cùng, nhưng hãy đọc những điều đầu tiên trước)
1) thành phố New York có 11 chữ cái
2) Afghanistan có 11 chữ cái.
3) Ramsin Yuseb (khủng bố đe dọa phá hủy tháp đôi vào năm 1993) có 11 chữ cái.
4) George W Bush có 11 chữ cái.

Điều vừa rồi có thể là một sự trùng hợp ngẫu nhiên, nhưng điều sau đây sẽ thú vị hơn:
1) New York là tiểu bang thứ 11.
2) Chiếc máy bay đầu tiên đâm vào tòa tháp đôi là chuyến bay số 11.
3) 11 chuyến bay chở 92 hành khách. 9 + 2 = 11
4) Chuyến bay 77 cũng đâm vào tòa tháp đôi, chở 65 hành khách. 6 +5 = 11
5) Thảm kịch xảy ra ngày 11 tháng 9, 9 / 11 và bạn biết là. 9 + 1 +1 = 11
6) Ngày trùng hợp với số điện thoại khẩn cấp 911 số điện thoại. 9 +1 + 1 = 11

Vẫn là sự trùng hợp ngẫu nhiên ..? Tiếp tục đọc và bạn tự suy nghĩ:
1) tổng số nạn nhân bên trong tất cả các máy bay bị cướp 254. 2 +5 + 4 = 11.
2) ngày 11 tháng 9 là ngày thứ 254 của năm dương lịch. Một lần nữa 2 + 5 + 4 = 11.
3) Madridbombing đã xảy ra vào ngày 2004/03/11. 3 + 1 + 1 + 2 + 4 = 11.
4) Bi kịch của Madrid đã xảy ra 911 ngày sau khi biến cố tháp đôi.

Bây giờ đây là nơi mà mọi thứ trở nên hoàn toàn kỳ lạ:
Biểu tượng của Hoa Kỳ được công nhận nhiều nhất, sau các ngôi sao & lằn kẻ, là chim đại bàng. Câu sau đây được lấy từ Kinh Qur'an, các cuốn sách thánh Hồi giáo:
"Vì đã được ghi chép rằng một đứa con trai của Ả Rập Xê-út sẽ đánh thức một con đại bàng. Cơn thịnh nộ của con đại bàng sẽ được cảm nhận trên khắp các vùng đất của Allah trong khi một số người run lên trong tuyệt vọng vẫn vui mừng: cơn thịnh nộ của con đại bang sẽ làm sạch các vùng đất Allah và có sự hòa bình. "
Câu Đó là số 9,11 của Kinh Qur'an.
Bạn vẫn chưa bị thuyết phục vì tất cả những điều trên?

Hãy thử điều này và xem bạn cảm thấy thế nào, nó đã làm tôi dựng tóc gáy:
Mở Microsoft Word và làm như sau:
1. Đánh chữ hoa Q33 NY. Đây là số chuyến bay của máy bay đầu tiên đã đâm vào những tòa tháp đôi.
2. Tô đậm (highlight) NY Q33.
3. Thay đổi kích thước font chữ đến 48.
4. Thay đổi font chữ là Wingdings và bây giờ bạn nghĩ gì?

Q33 NY

Q33 NY









Thứ Ba, 6 tháng 9, 2011

"Tôi đi học"

Hôm nay, hơn 22 triệu học sinh trên cả nước náo nức đến trường đón năm học mới 2011 - 2012. Nhân ngày khai trường trường, Bee.net.vn mời độc giả cùng nhớ lại những cảm xúc của chính mình về ngày đầu đến trường qua tác phẩm "Tôi đi học" của nhà văn Thanh Tịnh.
Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường.
Tôi không thể nào quên được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng.
Những ý tưởng ấy tôi chưa lần nào ghi lên giấy, vì hồi ấy tôi không biết ghi và ngày nay tôi không nhớ hết. Nhưng mỗi lần thấy mấy em nhỏ rụt rè núp dưới nón mẹ lần đầu tiên đến trường, lòng tôi lại tưng bừng rộn rã.
Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên tôi thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học.

Tôi không lội qua sông thả diều như thằng Quý và không ra đồng nô hò như thằng Sơn nữa.
Trong chiếc áo vải dù đen dài tôi cảm thấy mình trang trọng và đứng đắn.
Dọc đường tôi thấy mấy cậu nhỏ trạc bằng tôi, áo quần tươm tất, nhí nhảnh gọi tên nhau hay trao sách vở cho nhau xem mà tôi thèm. Hai quyển vở mới đang ở trên tay tôi đã bắt đầu thấy nặng. Tôi bặm tay ghì thật chặt, nhưng một quyển vở cũng chì ra và chênh đầu chúi xuống đất. Tôi xóc lên và nắm lại cẩn thận. Mấy cậu đi trước ôm sách vở thiệt nhiều lại kèm cả bút thước nữa. Nhưng mấy cậu không để lộ vẻ khó khăn gì hết.
Học sinh lớp 1 trường tiểu học Thịnh Hào - Hà Nội trong Lễ khai giảng. Ảnh: VOV
Tôi muốn thử sức mình nên nhìn mẹ tôi:
- Mẹ đưa bút thước cho con cầm.
Mẹ tôi cúi đầu nhìn tôi với cặp mắt thật âu yếm:
- Thôi để mẹ nắm cũng được.
Tôi có ngay cái ý kiến vừa non nớt vừa ngây thơ này: chắc chỉ người thạo mới cầm nổi bút thước.
Ý nghĩ thoáng qua trong trí tôi nhẹ nhàng như một làn mây lướt ngang trên ngọn núi.
Trước sân trường làng Mỹ Lý đầy đặc cả người. Người nào áo quần cũng sạch sẽ, gương mặt cũng vui tươi và sáng sủa.
Trước đó mấy hôm, lúc đi ngang làng Hòa An bẫy chim quyên với thằng Minh, tôi có ghé trường một lần.
Lần ấy trường đối với tôi là một nơi xa lạ. Tôi đi chung quanh các lớp để nhìn qua cửa kính mấy bản đồ treo trên tường. Tôi không có cảm tưởng gì khác là nhà trường cao ráo sạch sẽ hơn các nhà trong làng.
Nhưng lần này lại khác. Trước mặt tôi, trường Mỹ Lý vừa xinh xắn vừa oai nghiêm như cái đình Hòa Ấp. Sân nó rộng, mình nó cao hơn những buổi trưa hè đầy vắng lặng. Lòng tôi đâm ra lo sợ vẩn vơ.
Cũng như tôi, mấy cậu học trò mới bỡ ngỡ đứng nép bên người thân, chỉ dám nhìn một nửa hay dám đi từng bước nhẹ. Họ như con chim con đứng trên bờ tổ, nhìn quãng trời rộng muốn bay, nhưng còn ngập ngừng e sợ. Họ thèm vụng và ước ao thầm được như những học trò cũ, biết lớp, biết thầy để khỏi phải rụt rè trong cảnh lạ.
Sau một hồi trống thúc vang dội cả lòng tôi, mấy người học trò cũ đến sắp hàng dưới hiên rồi đi vào lớp. Chung quanh những cậu bé vụng về lúng túng như tôi cả. Các cậu không đi. Các cậu chỉ theo sức mạnh kéo dìu các cậu tới trước. Nói các cậu không đứng lại càng đúng hơn nữa. Vì hai chân các cậu cứ dềnh dàng mãi. Hết co lên một chân, các cậu lại duỗi mạnh như đá một quả banh tưởng tượng. Chính lúc này toàn thân các cậu cũng đang run run theo nhịp bước rộn ràng trong các lớp.
Ông đốc trường Mỹ Lý cho gọi mấy cậu học trò mới đứng lên trước lớp ba. Trường làng nhỏ nên không có phòng riêng của ông đốc. Trong lúc ông đọc tên từng người, tôi cảm thấy như quả tim tôi ngừng đập. Tôi quên cả mẹ tôi đang đứng sau tôi. Nghe gọi đến tên, tôi tự nhiên giật mình và lúng túng. Sau khi đọc xong mấy mươi tên đã viết sẵn trên mảnh giấy lớn, ông đốc nhìn chúng tôi nói sẽ:
- Thế là các em đã vào lớp năm. Các em phải cố gắng học để thầy mẹ được vui lòng, và để thầy dạy chúng em được sung sướng. Các em đã nghe chưa? (Các em đều nghe nhưng không em nào dám trả lời. Cũng may đã có tiếng dạ rang của phụ huynh đáp lại).
Ông đốc nhìn chúng tôi với cặp mắt hiền từ và cảm động. Mấy cậu học trò lớp ba cũng đua nhau quay đầu nhìn ra. Và ngoài đường cũng có mấy người đứng dừng lại để nhìn vào. Trong những phút giây này chúng tôi được người ta ngắm nhìn nhiều hơn hết. Vì vậy đã lúng túng chúng tôi càng lúng túng hơn.
Ông đốc lấy cặp kính trắng xuống rồi nói:
- Thôi, các em đứng đây sắp hàng để vào lớp học.
Tôi cảm thấy sau lưng tôi có một bàn tay dịu dàng đẩy tôi tới trước. Nhưng người tôi lúc ấy tự nhiên thấy nặng nề một cách lạ. Không giữ được chéo áo hay cáng tay của người thân, vài ba cậu đã từ từ bước lên đứng dưới hiên lớp. Các cậu lủng lẻo nhìn ra sân, nơi mà những người thân đang nhìn các cậu với cặp mắt lưu luyến. Một cậu đứng đầu ôm mặt khóc. Tôi bất giác quay lưng lại rồi dúi đầu vào lòng mẹ tôi nức nở khóc theo. Tôi nghe sau lưng tôi, trong đám học trò mới, vài tiếng thút thít đang ngập ngừng trong cổ. Một bàn tay quen nhẹ vuốt mái tóc tôi.
Ông đốc nhẫn nại chờ chúng tôi.
- Các em đừng khóc. Trưa này các em được về nhà cơ mà. Và ngày mai các em lại được nghỉ cả ngày nữa.
Sau khi thấy hai mươi tám cậu học trò sắp hàng đều đặn dưới hiên trường, ông đốc liền ra dấu cho chúng tôi vào lớp năm. Một thầy trẻ tuổi, gương mặt hiền từ, đang đón chúng tôi vào cửa lớp. Trong thời thơ ấu tôi chưa bao giờ xa mẹ tôi như lần này. Tôi cũng lấy làm lạ vì có những hôm đi chơi suốt cả ngày với chúng bạn ở đồng làng Lệ Xá, lòng tôi vẫn không cảm thấy xa nhà hay xa mẹ tôi chút nào hết.
Một mùi hương lạ xông lên trong lớp. Trông hình gì treo trên tường tôi cũng thấy lạ và hay hay. Tôi nhìn bàn ghế chỗ tôi ngồi rất cẩn thận rồi tự nhiên nhận là vật riêng của mình. Tôi nhìn người bạn tí hon ngồi bên tôi, một người bạn tôi chưa hề biết, nhưng lòng tôi vẫn không cảm thấy sự xa lạ chút nào. Sự quyến luyến ấy tự nhiên và bất ngờ quá đến tôi cũng không dám tin là có thật. Một con chim con liệng đến đứng trên bờ cửa sổ, hót mấy tiếng rụt rè rồi vỗ cánh bay cao.
Tôi đưa mắt thèm thuồng nhìn theo cánh chim. Một kỷ niệm cũ đi bẫy chim giữa cánh đồng lúa bay trên bờ sông Viêm sống lại đầy dẫy trong trí tôi.
Nhưng những tiếng phấn của thầy tôi gạch mạnh trên bảng đen đã đưa tôi về cảnh thật. Tôi vòng tay lên bàn chăm chỉ nhìn thầy viết và lẩm bẩm đọc:
Bài tập viết: Tôi đi học!

Hãy chia sẻ cảm xúc của bạn trong ngày đầu tiên đi học qua phản hồi dưới đây. Hoặc hãy gửi những bức ảnh khai trường của người thân, em, con bạn cùng lời chú thích về bức anh qua địa chỉ email tkts@bee.net.vn để cùng Bee.net.vn "khai trường".

Thanh Tịnh (Rút từ tập truyện ngắn Quê mẹ, 1941)



Các con đi học. Ảnh: HM.
Đã 7 năm kể từ khi Luck 5 tuổi, lần đầu đi học mẫu giáo bên Arlington, được bố mẹ đưa đón tận nơi, cu cậu thích vô cùng.
Nhưng hôm sau xe bus của trường đón trước cổng nhà. Thấy bố mẹ không lên cùng, cu cậu khóc thét lên đòi xuống, vì cứ nghĩ sẽ bị đưa đi đày biệt xứ ở đâu đó.
Cô lái xe da đen, hình như quen chuyện này, thấy bố đẩy được con lên xe, đóng cửa luôn lại, mặc cho Luck lăn lộn trên sàn. Thế là hôm đó, nước Mỹ nuốt chửng thằng bé con vào cái dạ dày tham lam của đám cao bồi.
Chiều đón cậu về từ xe bus, Luck bước xuống cười tươi. Hỏi đi học có thích không. Thích lắm bố à, được chơi nhiều đồ chơi, cô giáo yêu, không bị mắng, không nóng như ở VN. Có đi xe bus ngày mai không. Có chứ, con thích xe bus hơn vì được đi đón các bạn khác, vui lắm.
Nghỉ cuối tuần, cu cậu hỏi, sao nhà mình không đến trường. Có lẽ nó yêu trường lớp hơn ở nhà.
Thế mà hôm nay Luck đã vào lớp 5, sắp tròn 11 tuổi. Con trai chững chạc hơn. Biết tự chọn quần áo, giầy, tất cho hợp gam mầu, vuốt ve đầu tóc. Không cho bố húi tóc cua mà phải có mái, rẽ ngôi. Vào hàng McDonald gọi Big Mac (cho người lớn) vì không ăn loại “happy kid meal – xuất ăn trẻ có kèm đồ chơi” dù cu cậu vẫn thòm thèm món đồ chơi lạ miễn phí.
Luck tới trường cũng không vui vì đang thích mấy trò chơi trên máy tính ở nhà. Biết phải ở lại sau giờ học tại trường từ 4:00 giờ chiều đến 6:00 giờ, cậu càng buồn.
Nhưng bố giải thích, bố mẹ phải đi làm, kiếm tiền nuôi con ăn học, không thể đón con sớm hơn. Luck có vẻ nghe theo, không thấy xị mặt.
Rồi Luck hỏi, bao giờ con được ở nhà một mình. Khi nào con vào cấp 2, khi 12 tuổi con ạ và chỉ được 2 tiếng thôi. Cảnh sát biết bố mẹ để con ở nhà một mình sẽ phạt luôn cha mẹ, bắt con vào nhà bảo trợ xã hội. Bao giờ con được lái xe. 16 tuổi. Chắc cu cậu đang nghĩ đến ngày ngồi sau tay lái một mình.
Lúc con ngồi vào chỗ tập trung đợi cô giáo đến đón vào lớp mới, bố mẹ chào và dặn dò con bằng tiếng Việt, cu cậu phản ứng “Can you speak English? – Bố nói bằng tiếng Anh được không?” vì có cậu bạn ngồi bên đang tán gẫu. Nghe xong, mình choáng, tưởng nghe nhầm. Bố thằng Mỹ con, đồ mất dạy.
Cu Bin đã gần hết tự kỷ cho dù cách trả lời câu hỏi vẫn vớ vẩn. Hỏi, con biết học ở lớp nào chưa thì nói luôn “I know, I know – con biết, con biết”. Nhưng bảo chỉ lớp nào thì cậu tịt luôn. Hóa ra trả lời bừa.
Nhớ cách lần cậu vào trường mẫu giáo, toàn đuổi đánh các bạn. Mấy lần bị nhà trường gọi khẩn cấp. Bố đang họp quan trọng ở VP mà cô giáo điện thoại như ra lệnh “Đề nghị anh đến đón Bin về. Chúng tôi không thể bảo cháu nghe lời”.
Chuyển về Vienna, Bin được học trong một lớp đặc biệt về giao tiếp, bồi dưỡng thêm tiếng Anh và cách trả lời Yes or No. Tiến bộ trông thấy. Cu cậu vào lớp 1 bình thường và hôm nay Bin vào lớp 3, cùng trường với anh Luck, dù kết quả học tập chỉ đạt trung bình.
Một hôm mình cáu cái gì đó liền văng “shit – c*t”, Bin nhìn mình với con mắt rất lạ “Are you saying bad word – Bố nói từ bậy à”. Hứa cho đi ăn kem nhưng quên mất, Bin tra vấn “Dad, are you lying? – Bố nói dối con à”. Bố hiểu con đã gần hết tự kỷ vì “nhân dân” đã biết nói lên sự thật về “lãnh đạo dối trá”.
Bin viết bằng tay trái, không như bố nó, viết báo lề phải, viết blog lề trái, thành ra toàn đi chân giữa, đến nỗi suýt ngã.
Hôm nay tới trường cu cậu cũng chả vui vì không được ở nhà chơi game. Rồi cậu lầu bầu “I hate school. I like New York, I like New Mexico – con ghét trường, thích đi NY,NM”.
Các con càng lớn càng xa dần bố mẹ, muốn tự lập, muốn đứng riêng một mình. Mình chợt nhận ra, cái xe bus của nước Mỹ hồi nào đón con đã “nuốt” các con lúc nào không biết.
Chuyện Tổng Cua du học
Viết thêm một đoạn thời tại sao Tổng Cua du học, các bác xem, biết đâu có người giống mình.

Dáng quê. Ảnh: Nguyễn Văn Hành, bạn học Lương V Tụy.
Thời học ở Lương Văn Tụy (Ninh Bình khóa 1968-1970) với anh chàng Chuối Ngự, Ích Duệ, rồi cả lão “Hầu Thiên Hạ” hay “thổi” ra thơ, lão Cua cũng thuộc loại bình thường. Đại loại trường khoảng 1000 học sinh thì lão đứng thứ 21. Tại sao đứng thứ 21 thì chịu.
Chả là bọn lớp đặc biệt (A0) của tỉnh cũng ở đó. Dân kiêu binh toán có tới 15 đứa, mình không thể so được. Trong trường có vài đứa giỏi hơn Cua. Cua làm bí thư chi đoàn, hơi giỏi văn, khá ngoại ngữ, thỉnh thoảng giải được bài toán đố. Đại loại không dốt, không giỏi mà cũng chẳng xuất sắc.
Nhà trường chọn đi thi học sinh giỏi miền Bắc chẳng qua do Cua chữ đẹp, viết giấy khen được. Văn người ta hay nhưng chữ gà bới nên bị trừ điểm. Văn mình dở ẹc nhưng được cái chữ sáng sủa nên được châm chước. Không tin cứ xem blog HM, văn vớ vẩn nhưng trình bày bắt mắt, hay xuống dòng cho dễ đọc, được nhiều người cho 5 sao. Ở đời ăn nhau cái son phấn biết đắp đúng chỗ.
Lý lịch trích ngang như thế, cộng với ông anh vừa đi chiến trường, nên Tổng Cua được chọn đi thi nước ngoài ở Hà Nội. Mà thi tới 4 môn: toán, văn, lý, hóa. Toán trượt là cái chắc vì 5 bài, Cua chỉ “bò” được 2 bài rưỡi. Nhà quê đọ thế nào với dân gà nòi thành phố.
Thôi thì lấy lý, hóa kéo lại chút vì mình học thuộc lòng. Môn Văn có thể “ăn”, cố gắng viết dài, viết dai (4 tờ phê đúp!), ca ngợi Tổ quốc hết lời, chứ không viết “dại” như bây giờ.
Đi thi Hà Nội về thì bố hỏi, con làm được mấy bài. Vốn thuộc câu “học tài, thi phận” mà mình chẳng tài, nhưng phận thì có, nên thở dài “Con đi gắp cứt trâu thôi”. Bố mẹ chả dọa, không học thì đời hót cứt.
Không hiểu trời phù hộ độ trì thế nào mà khoảng giữa tháng 7, thím Ân người cùng xóm, chạy hốt hoảng ra chợ Trường Yên tìm mẹ Cua “Trời ơi, nhà bác Ba có phúc. Thằng Cua được chọn đi học nước ngoài. Giấy báo đây này”. May, không thì làm bạn với đôi sọt làng Cổ Nhuế.
Hóa ra giấy báo đi du học đã nằm ở UB xã cả tuần, nhưng họ quyết định “trầm” đi. Sau này ra khỏi biên chế, lấy lại hồ sơ, mới biết lời phê vào lý lịch của ông chủ tịch “Gia đình thành phần cơ bản, không có nợ máu với nhân dân. Cho đi đại học trong nước, không cho đi nước ngoài”. Không hiểu lý do gì mà lại cấm đi vượt biên.
Nhưng bà chị họ làm thư ký UB tìm ra giấy báo đi đại học trong ngăn kéo, bóc ra và xem trộm. Thế là chàng Cua lên đường ra Hà Nội, chuẩn bị du học.
Đi chào cả làng, từ xóm trên đến xã dưới, ai cũng mừng, bác cho 5 hào, nhiều bà đang làm cỏ dưới ruộng cũng giúi 1 đồng lấy từ trong túi đầy mồ hôi. Đồng bạc hồi đó to lắm. Nguyên đi chào bà con mà được tới 48 đồng, bằng mấy tháng lương cán bộ hồi 1970.
Mẹ Cua đội chiếc nón mê, áo nâu vá chằng chịt, tiễn con suốt dọc đường đê ra cầu Gián Khẩu. Nước mắt ngắn dài, bà bảo “Con đi, nhớ học giỏi, đừng quên cha mẹ”.
Cũng lạ, thời đó con trai chẳng ai nghĩ đến nắm tay bố mẹ lúc chia tay. Mà y cũng chẳng khóc, dù đã quay đi, kẻo sợ lệ rơi, mất thế đàn ông. Mình đi rồi, bà còn đứng mãi, đợi đến khi chiếc xe khuất hẳn sau ngọn núi Khuốt. Nhớ cảm giác thương bà đến tận bây giờ. Sau ngần ấy năm, lưng mẹ đã còng xuống vì thời gian trĩu nặng.
Xe chạy rồi, mình thầm hứa, thế nào cũng về quê với người dung dưỡng mình. Nhưng lòng người dễ đổi thay, chả ai nói trước được điều gì. Lũ trẻ con, đi nam quên bắc, đi tây chẳng nhớ ta, về ta toàn nhớ tây, mới thành ra loại người chẳng ra gì.
Mới đó mà đã 40 năm, lão Cua chẳng nghĩ đến con đường quê ngày ấy mẹ tiễn con. Nếu có về làng cũng như người khách qua đường.
Nhớ xe bus bên cầu Gián Khẩu đã nuốt mất đứa con của làng quê xóm Tụ An. Bây giờ đến lượt xe bus ở Arlington “làm gỏi” mấy thằng cu nhà Cua.
Lạ thay, mỗi lần tiễn con đến trường lại nghĩ đến ngày xưa. Hình như mỗi năm chúng một lớn và đang tìm cách xa rời tổ ấm. Âu cũng là lẽ ở đời của người làm cha làm mẹ.

Hiệu Minh. 5-09-2011. Ngày khai trường của hai con.

Thứ Sáu, 2 tháng 9, 2011

TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA



Hồ Chí Minh

Hỡi đồng bào cả nước,

Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.
Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.
Bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi.
Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.
Thế mà hơn tám mươi năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta.
Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.
Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.
Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.
Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.
Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.
Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.
Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều.
Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.
Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn, trở nên bần cùng.
Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên.
Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.
Mùa thu năm 1940, phát-xít Nhật đến xâm lăng Đông - Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng trị đến Bắc kỳ hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói.
Ngày 9 tháng 3 năm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp hoặc bỏ chạy hoặc đầu hàng. Thế là chẳng những chúng không bảo hộ được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng dã man bán nước ta hai lần cho Nhật.
Trước ngày mồng 9 tháng 3, biết bao lần Việt minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật. Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng, lại thẳng tay khủng bố Việt minh hơn nữa.
Thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng.
Tuy vậy, đối với nước Pháp, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo. Sau cuộc biến động ngày mồng 9 tháng 3, Việt minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật, và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ.
Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp.
Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một trăm năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mưới thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa.
Bởi thế cho nên, chúng tôi, Lâm thời Chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam.
Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng, kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp.
Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Tê-hê-răng và Cựu-kim-sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam.
Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát-xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do ! Dân tộc đó phải được độc lập !
Vì những lẽ trên, chúng tôi, Chính phủ Lâm thời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:
Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.

Nguồn: http://www.cpv.org.vn/



Chẳng biết cách gọi ngày Quốc khánh là tết Độc lập có tự lúc nào, nhưng ngày lễ đặc biệt này không chỉ dừng ở phạm vi một ngày kỉ niệm lịch sử. Nó còn là ngày hội, là dịp để tổ chức các hoạt động vui chơi, giải trí, sum họp gia đình. Nó trở thành một ngày tết kết hợp được cả hai yếu tố cổ truyền và hiện đại.
Còn nhớ thời chiến tranh và cả thời bao cấp sau này, cuộc sống dù rất gian khổ thiếu thốn, nhưng đến ngày Tết Độc lập, ai cũng có quà, gọi là tiêu chuẩn tết. Những món quà ấy so với thời nay thật bé mọn nhưng trong hoàn cảnh lúc bấy giờ nó ý nghĩa biết bao. Người nhà nước thì là gói trà, bao thuốc. Ở thôn quê, hợp tác xã cũng đã chuẩn bị cho dân ăn tết bằng việc mổ trâu, mổ bò. Chẳng nhiều nhặn gì đâu, cả đội sản xuất chỉ mổ có mỗi một con bò thì lấy đâu ra làm nhiều nên phải chia theo định suất, mỗi suất hai ba lạng gì đó. Thế là trưa mồng 2-9, nhà nào cũng đụng dao đụng thớt, đầu làng cuối xóm râm ran, kể cũng vui thật. Trẻ con chơi ngoài đường, ngày thường thì mê mải quên hết tất cả nhưng hôm nay ở đâu cũng phảng phất mùi thịt bò kho thơm nức cho nên vừa chơi, vừa ngóng đợi người lớn gọi về ăn cơm. Quanh năm nhút với cà, chỉ có ngày tết như thế này hay giỗ chạp mới biết đến tí thịt, nên không chỉ bọn trẻ mà cả người lớn cũng thấy háo hức.
Tết Độc lập bây giờ đã khác, không còn cảnh chia thịt, phân quà nữa. Có lẽ vì đời sống đã khá hơn chăng? Vì không còn cảnh quanh năm đợi tết để được ăn ngon, mặc đẹp? Người ta dành ngày nghỉ lễ cho gia đình, vui chơi giải trí hoặc đi du lịch.

31-8-2011

Nguyễn Duy Xuân




Lễ kỷ niệm. Ảnh: HM

Nhân ngày 2-9, Đại sứ quán Việt Nam tại Washington DC đã mở tiệc chiêu đãi. Tổng Cua từng dự nhiều lần và lần nào cũng giống nhau tại khách sạn Marriot Wardman Park. Có lần thấy cả biểu tình chống người tham dự. Xe mình đi qua còn bị “đả đảo Tổng Cua”.
Mấy năm nay các bác mải làm ăn nên chả ai tới nữa. Hay là do có visa dài hạn về VN mánh mung, du lịch, bồ bịch nên không tụ tập đông người.
Chương trình thường bắt đầu bằng bài phát biểu của đại sứ bằng tiếng Việt, có phiên dịch ra tiếng Anh. Đó là một sự dập khuôn buồn tẻ và chán ngắt.
Ngày xưa ông Nguyễn Tâm Chiến ít nói, thỉnh thoảng đá vài câu tiếng Mẽo. Bác Lê Công Phụng (Cục trưởng Cục Phục vụ Ngoại giao đoàn) khá hơn, hay đọc diễn văn bằng tiếng Anh, tuy nghe đằng sau lưng cũng biết là người Việt chính hiệu.
Kiểu vừa nói vừa dịch rất mất thời gian, bà con đến dự đang đói nên ít người nghe. Hội trường ồn ào, mất hết sự nghiêm trang của buổi chiêu đãi, dù được tổ chức trong khách sạn 5 sao ở DC.
Nhưng hôm nay thật khác, nên Tổng Cua mới viết entry này.
Đại sứ và phu nhân đón khách. Ảnh: HM
Ông Đại sứ mới Nguyễn Quốc Cường phang tiếng Anh lầu lầu. Bài diễn văn ngắn gọn và giọng Đại sứ khá truyền cảm nên người nghe rất chăm chú. Nếu có tiếng rì rầm chỗ nào đó thì đích thị là bà con ta, vốn không thích nghe đít-cua.
Bọn trẻ vốn hiếu động mà cũng ngồi im để nghe xem bác ấy nói gì. Nói tiếng Anh mà trẻ con hiểu là thành công rồi.
Lần đầu tiên mình thấy một buổi lễ chào mừng 2-9 được tổ chức trang trọng và người nghe hiểu được thông điệp chính của buổi lễ. Đại sứ và cả phu nhân dùng tiếng Anh lưu loát, rõ là dân ngoại giao được đào tạo bài bản.
Sinh năm 1959, tân Đại sứ Việt Nam tại Mỹ có bằng cử nhân Đại học Ngoại giao, Việt Nam khóa 1976 – 1981. Ông có bằng thạc sỹ Quan hệ quốc tế tại Đại học Tufts, Hoa Kỳ (1996 -1997).
Đại sứ Cường từng công tác tại Vụ Trung Quốc, Bộ Ngoại giao, Bí thư thứ hai, Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc (9/1990 – 12/1993). Như vậy ông Cường vừa hiểu Mỹ và rõ cả Trung Quốc.
Trong bối cảnh quan hệ tay ba Mỹ-Trung-Việt có nhiều điều tế nhị thì đây là một nước cờ cao của ông Bộ trưởng Phạm Bình Minh khi cử một vị Đại sứ có lý lịch trích ngang như thế sang DC.
Người tới dự tin là quan hệ Mỹ-Việt sẽ được nâng lên như người tiền nhiệm Lê Công Phụng từng mong rằng, sau 15 năm phát triển, đã đến lúc hai nước Việt – Mỹ phải tính đến việc nâng quan hệ lên một đỉnh cao hơn, đó là quan hệ đối tác chiến lược.
Diễn giả đã thu hút người nghe. Ảnh: HM
Của đáng tội, Tổng Cua mải chụp ảnh linh tinh nên không nhớ Đại sứ nói gì mà chỉ nghe được hai từ “strategic partnership – đối tác chiến lược”.
Trong bài phát biểu đáp từ, Thứ trưởng Thương mại Mỹ Sanchez cũng nhắc tới hai từ quan trọng này. Như vậy, thông điệp mà vị tân Đại sứ mang tới Hoa Kỳ đã hoàn toàn rõ.
Trong giờ chiêu đãi, Tổng Cua có mon men đến chào vị đại sứ và phu nhân. Bà phu nhân nhỏ nhắn, ăn mặc sành điệu của dân ngoại giao, chào khách bằng tiếng Anh trôi chảy. Mình phang tiếng Việt thì bà cứ nói tiếng Anh rất tự tin.
Mình khen thật lòng cả hai ông bà còn khá trẻ, giỏi ngoại ngữ, thì bà phu nhân cười “We are making a difference – Chúng tôi mang đến sự khác biệt”, rất thú vị. Đúng là buổi lễ hôm nay đã tạo ra sự khác biệt.
Hỏi Đại sứ Cường là trong nhiệm kỳ ba năm ông cho cái gì là quan trọng nhất. Ông Cường nói “Thì tôi nói rồi, ông Sanchez cũng nhắc lại, đó là strategic partnership”.
Hỏi làm thế nào và như thế nào là “đối tác chiến lược”, nhà ngoại giao kỳ cựu không nói gì. Người ngoại giao im lặng nghĩa là câu trả lời rồi. Đúng lúc ấy có vị khách tới chào xã giao và cuộc “phỏng vấn” kết thúc.
Chợt nhớ ra vị tân Đại sứ Vũ Quang Minh tại Anh quốc, sinh năm 1964, cũng giao tiếp tiếng Anh với Nữ Hoàng trôi chảy, được BBC viết hẳn một bài khen hết lời.
Trong lịch sử sứ quán tại Hoa Kỳ, ông Nguyễn Tâm Chiến xong nhiệm kỳ cũng hưu. Lê Công Phụng cũng không ngoại lệ. Nghe nói rất nhiều vị đi làm Đại sứ nghĩa là CIO – Career Is Over, sự nghiệp coi như kết thúc.
Trưởng phân xã TTXVN tác nghiệp. Ảnh: HM
Hy vọng ông Bộ trưởng trẻ Phạm Bình Minh, con trai Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch, sẽ giải quyết dứt điểm chuyện cử Đại sứ đi công cán như một phần thưởng trước khi hạ cánh. Vì rằng, sắp hưu nên người già giữ mình hơn lớp trẻ, ít để lại dấu ấn cá nhân của mỗi nhiệm kỳ.
Cán bộ trẻ bao giờ cũng mong thăng tiến nên họ sẽ làm khác. Riêng điều này thì tôi hoàn toàn đồng ý với bà phu nhân Đại sứ “We are making a difference”. Tổng Cua cho đó là tín hiệu tốt lành của ngành ngoại giao Việt Nam.
Nghe nói phía Việt Nam đang tác động để Barack Obama thăm Hà Nội trong năm 2011.
Bây giờ là tháng 9. Còn 3 tháng nữa để ông Nguyễn Quốc Cường làm nên sự khác biệt đầu tiên.
Xin chúc Đại sứ thành công.

HM. 2-9-2011

Vài hình ảnh khác

Bà con VK tới dự. Ảnh: HM

Cây nhà lá vườn. Ảnh: HM

Nụ cười hạnh phúc mừng ngày độc lập. Ảnh: HM

Thứ Năm, 1 tháng 9, 2011

Đố Vui Việt Sử

“Đố Vui Việt Sử” là một tập thơ lục bát gồm có một trăm câu đố về lịch sử và văn học sử Việt Nam đề ra bởi luật sư Đào Hữu Dương và hai trăm câu thơ trả lời của giáo sư Nguyễn Xuân Vinh.

Dụng ý của hai tác giả là dùng một thể thơ thật nhẹ nhàng và hấp dẫn để nhắc nhở các thanh thiếu niên ôn lại những trang sử Việt Nam và nuôi dưỡng tinh thần nhớ nước, thương nòi ở nơi đất khách. Tập thơ in ra lần đầu ở San Diego, vào năm 1985, đã được gửi tặng các trường dậy Việt ngữ. Cuốn sách này cũng được Trung Tâm Việt Ngữ Văn Lang ở San Jose, CA in lại để làm tài liệu dậy tiếng Việt.

******************************************************

Câu hỏi của Đào Hữu Dương

1. Vua nào mặt sắt đen sì?
2. Vua nào trong buổi hàn vi ở chùa?
3. Tướng nào bẻ gậy phò vua?
4. Tướng nào dùng bút đánh lừa Vương Thông?
5. Ngựa ai phun lửa đầy đồng?
6. Voi ai nhỏ lệ ở giòng Hóa Giang?
7. Kiếm ai trả lại rùa vàng?
8. Súng ai rền ở Vũ Quang thủa nào?
9. Còn ai đổi mặc hoàng bào?
10. Nữ lưu sánh với anh hào những ai?
11. Nhà thơ lên đoạn đầu đài?
12. Tướng Tàu chui ống chạy dài Bắc phương?
13. Tướng Nam chẳng thiết phong vương?
14. Rắc lông ngỗng, thiếp nghe chàng hại cha?
15. Anh hùng đại thắng Đống Đa?
16. Đông du khởi xướng bôn ba những ngày?
17. Lũy Thầy ai đắp, ai xây?
18. Hồng-Sơn Liệp-Hộ, triều Tây ẩn mình?
19. Vua Bà lừng lẫy uy danh?
20. Ấu nhi tập trận, cỏ tranh làm cờ?
21. Vua nào nguyên-súy hội thơ?
22. Hùng-Vương quốc-tổ đền thờ ở đâu?
23. Đại vương bẻ gẫy sừng trâu?
24. Rừng Lam khởi nghĩa áo nâu anh hùng?
25. Hại dân bán nước tên Cung?
26. Đục chìm thuyền địch dưới sông Bạch-Đằng?
27. Lý triều nổi tiếng cao tăng?
28. Bình-Ngô ai soạn bản văn lưu truyền?
29. Mười ba liệt sĩ thành Yên?
30. Bỏ quan treo ấn tu tiên thủa nào?
31. Ai sinh trăm trứng đồng bào?
32. Bình-Khôi chức hiệu được trao cho người?
33. Tây-Sơn có nữ tướng tài?
34. Cần-vương chống Pháp bị đầy xứ xa?
35. Tổ ngành hát bội nước ta?
36.. Khúc ngâm Chinh-Phụ ai là tác nhân?
37. Vua nào sát hại công thần?
38. Nhà văn viết truyện Tố-Tâm trữ tình?
39. Thái-Nguyên chống Pháp dấy binh?
40. Hà-Ninh tổng đốc vị thành vong thân?
41. Vua nào mở nghiệp nhà Trần?
42. Nêu gương hiếu tử diễn âm lưu truyền?
43. Công lao văn học Nguyễn-Thuyên?
44. Lừng danh duyên hải Dinh-Điền là ai?
45. Nhà thơ sông Vị, biệt tài?
46. Vua nào chống Pháp bị đầy đảo xa?
47. Ngày nào kỷ niệm Đống Đa?
48. Biên thùy tiễn biệt lời cha dặn dò?
49. Mê-Linh xây dựng cơ đồ?
50. Bến Hàm-Tử bắt quân thù xâm lăng?
51. Húy danh Hoàng-Đế Gia-Long?
52. Tướng nào hương khói Lăng-Ông thủa giờ?
53. Rồng thiêng kết nghĩa Âu-Cơ?
54.. Thánh Trần nay có bàn thờ ở đâu?
55. Đời nào có chức Lạc-Hầu?
56. Tướng Châu-Văn-Tiếp, ở đâu bỏ mình?
57. Danh nho thường gọi Trạng Trình?
58. Cha con cùng quyết hy sinh với thành?
59. Đầm Dạ-Trạch nức uy danh?
60. Sớ dâng chém nịnh không thành, từ quan?
61. Công thần vì rắn thác oan?
62. Ai mời bô lão dự bàn chiến chinh?
63. Vua nào dòng dõi Đế-Minh?
64.. Vĩnh-Long thất thủ, liều mình tiết trung?
65. Ngày nào trẩy hội Đền Hùng?
66. Ngày nào sông Hát, nhị Trưng trẫm mình?
67. Núi nào ngự trị Sơn-Tinh?
68. Sông nào ghép lại bút danh thi hào?
69. Gốc nguồn hai chữ đồng bào?
70. Bôn ba tổ chức phong trào Đông du?
71. Hùm Thiêng trấn đóng chiến khu?
72. Vua nào thành lập Hội Thơ Tao-Đàn?
73. Dẹp Thanh giữ vững giang san?
74. Thiết triều nằm lả khiến tàn nghiệp Lê?
75. Hóa-Giang giữ trọn lời thề?
76. Mười năm kháng chiến chẳng nề gian lao?
77. Móng rùa thần tặng vua nào?
78. Bình Chiêm, Dẹp Tống, Lý trào nổi danh?
79. Dâng vua sách lược “Trị-Bình”?
80. Trạng nguyên tướng xấu ví mình hoa sen?
81. Người Tàu dựng đất Hà-Tiên?
82. Họ Lương chống Pháp, Thái-Nguyên bỏ mình?
83. Quy-Nhơn thất thủ, quyên sinh?
84. Lê Triều sử ký soạn thành họ Ngô?
85. Công thần mà bị quật mồ?
86. “Vân-Tiên” tác giả lòa mù là ai?
87. Đại-Từ nổi tiếng tú tài?
88. Đem nghề in sách miệt mài dạy dân?
89. Dâng vua cải cách điều trần?
90. Sánh duyên công chúa Ngọc-Hân, vua nào?
91. Thi nhân nổi loạn họ Cao?
92. Xây thành đắp lũy, họ Đào là ai?
93. Họ Phan lãnh ấn khâm sai?
94. Phòng khuya vọng tiếng thuyền chài tương tư?
95. Đông y lừng tiếng danh sư?
96. Lời thề diệt địch trên bờ Hóa-Giang?
97. Vân-Đồn ai thắng danh vang?
98. Am mây ẩn dật chẳng màng lợi danh?
99. Mùa xuân nào phá quân Thanh?

Giải đáp của GS Nguyễn Xuân Vinh

1. Vua nào mặt sắt đen sì ?
Tướng Mai-Hắc-Đế, sử ghi chống Đường.

2. Quét chùa mà tướng đế-vương,
Lý-Công, tên Uẩn, xuất đường lên ngôi.

3. Phò vua, chống giặc cõi ngoài,
Đức Trần-Hưng-Đạo dẹp suôi hận lòng.

4. Bút thần đâu sợ Vương-Thông,
Thù cha, Nguyễn-Trãi có công dựng triều.

5. Gậy thần, ngựa sắt cao siêu,
Thiên-Vương Phù-Đổng một chiều thét vang.

6. Voi lầy, nhỏ lệ Hóa-Giang,
Đại-Vương Hưng-Đạo quyết đường dẹp Nguyên.

7. Kiếm thần, lập quốc, báo đền,
Vua Lê trả lại rùa thiêng trên hồ.

8. Vũ-Quang, chống Pháp lập đô,
Súng do Cao-Thắng, phất cờ cụ Phan.

9. Lê-Lai đổi mặc áo vàng,
Để vua Lê-Lợi thoát vòng gian lao.

10. Triệu, Trưng kể lại biết bao
Nữ nhi sánh với anh hào kém chi

11. Ngang tàng cung, kiếm, cầm, thi,
Ông Cao-Bá-Quát sá gì phân thây!

12. Thoát-Hoan, Vạn-Kiếp sa lầy,
Ống đồng chui rúc, từ đây kéo về.

13. Nước Nam, làm quỷ ai thề ?
Tướng Trần-Bình-Trọng chẳng nề Bắc-Vương.

14. Lông ngan làm chước dẫn đường,
Mỵ-Châu, Trọng-Thủy còn vương hận lòng.

15. Đống-Đa thây giặc điệp-trùng,
Quang-Trung Nguyễn-Huệ anh hùng phương Nam.

16. Họ Phan có cụ Sào-Nam,
Bôn ba khởi xướng, luận bàn Đông-Du.

17. Nguyễn-Vương giữ vững cơ đồ,
Lũy xây Trường-Dục, Duy-Từ có công.

18. Nguyễn-Du tạm lánh sơn trung,
Truyện Kiều thi phẩm, anh hùng nổi danh.

19. Triệu-Bà Lệ-Hải Tài-Trinh,
Ngàn năm dân Việt tôn vinh, phụng thờ.

20. Mục đồng tập trận ấu thơ,
Tiên-Hoàng Bộ-Lĩnh phất cờ bông lau.

21. Thánh-Tôn, nguyên súy, công hầu,
Tao-Đàn lập hội, lựa câu họa vần.

22. Đền Hùng, hương khói phong vân,
Lâm-Thao là chốn nhân dân hướng chầu.

23. Phùng-Hưng bẻ gẫy sừng trâu,
Tôn thờ Bố-Cái, sức đâu hơn người.

24. Lam-Sơn áo vải, lòng trời,
Vua Lê khởi nghĩa, muôn đời ghi công.

25. Họ Hồ chính Nguyễn-Sinh-Cung,
Liên-Sô dâng nước, khốn cùng nhân dân.

26. Yết-Kiêu, Dã-Tượng sả thân,
Đục chìm thuyền địch, mấy lần Đằng-Giang.

27. Lý-Triều Vạn-Hạnh cao tăng,
Cùng Từ-Đạo-Hạnh tiếng vang pháp thiền.

28. Bình-Ngô Đại-Cáo sách tuyên,
Văn tài Nguyễn-Trãi lưu truyền mai sau.

29. Thành Yên, liệt sĩ rơi đầu,
Vang danh Thái-Học, lưu sầu Quốc-Dân.

30. Tiên-Du, treo ấn từ quan,
Giáng-Hương, Từ-Thức theo nàng lên tiên.

31. Âu cơ, trăm trứng nở truyền,
Ngàn năm Hồng Lạc, con Tiên, cháu Rồng.

32. Bình-Khôi, chức hiệu Nguyên-Nhung,
Lệnh Bà Trưng Nhị được phong tướng tài.

33. Tây-Sơn lẫm liệt thần oai,
Quần thoa ai sánh tướng Bùi-Thị-Xuân.

34. Cần-Vương vì nước gian truân,
Vua Hàm-Nghi trải tấm thân lưu đầy.

35. Lập ngành Hát Bộ từ đây,
Tổ-sư Đào-Tấn, bậc thầy xướng ca.

36. Đoàn thư, Chinh-Phụ dịch ra,
Trần-Côn trước tác khúc ca ngậm ngùi.

37. Gia-Long từ độ lên ngôi,
Công thần giết hại, nhiều người thác oan.

38. Tố-Tâm, tác giả Song-An,
Chữ Hoàng-Ngọc-Phách, lời than tự tình.

39. Thái-Nguyên chống Pháp, dấy binh,
Lưu danh Đội Cấn, gây tình quốc gia.

40. Pháp quân tiến đánh thành Hà.
Tuẫn trung, Hoàng-Diệu, Chính-Ca một thời.

41. Chiêu-Hoàng nhà Lý truyền ngôi
Cho chồng Trần-Cảnh nối đời làm vua.

42. Diễn âm gương hiếu ngày xưa,
Ghi công Văn-Phức, vốn thừa Lý gia.

43. Hán văn chuyển tiếng nước nhà.
Thơ Nôm, Đường luật chính là Nguyễn-Thuyên.

44. Kim-Sơn, Tiền-Hải, dinh điền,
Uy danh Công-Trứ, tiếng truyền đời sau.

45. Tú Xương, sông Vị, không giầu,
Tiếng thơ cao ngạo, ai rầu mặc ai.

46. Duy-Tân vì nước rời ngai,
Thực dân uy hiếp đưa ngài đảo xa.

47. Mồng Năm kỷ niệm Đống-Đa,
Tháng Giêng chiến thắng, hùng ca Ngọc-Hồi.

48. Tiễn cha, Nguyễn-Trãi nhớ lời
Phi-Khanh còn vẳng núi đồi Nam-Quan.

49. Bà Trưng khôi phục giang san,
Mê-Linh khởi nghĩa, dẹp tan quân thù.

50. Danh Trần-Quang-Khải ngàn thu,
Chương-Dương cướp giáo, bắt tù Hàm-Quan.

51. Nguyễn-Triều, khởi sự gian nan,
Bôn ba Phúc-Ánh, Bắc Nam hợp lòng.

52. Tả-Quân, thờ phụng Lăng-Ông,
Tướng Lê-Văn-Duyệt có công phá thành.

53. Âu-Cơ, tiên nữ giáng trần,
Hợp duyên cùng Lạc-Long-Quân giống Rồng.

54. Đức Trần-Hưng-Đạo phá Mông,
Đền thờ Kiếp-Bạc, tôn sùng khói hương.

55. Ngàn năm thời đại Hùng-Vương,
Lạc-Hầu, Lạc-Tướng, chức thường gọi quan.

56. Tướng Châu-Văn-Tiếp thân tàn,
Vĩnh-Long, Mang-Thít đầu hàng Tây-Sơn !

57. Trạng Trình phong tước Quốc-Công,
Bỉnh-Khiêm họ Nguyễn, vốn dòng Cổ-Am.

58. Hùm thiêng sớm đã về âm,
Tri-Phương cùng với Nguyễn-Lâm giữ thành.

59. Chống Lương, Dạ-Trạch uy danh,
Triệu-Vương, Quang-Phục hiển vinh một thời.

60. Chu hiền xin chém bẩy người,
Vua nghe kẻ nịnh, ông rời chức quan.

61. Vì tay Thị Lộ thác oan,
Công thần Nguyễn-Trãi gia toàn chu di.

62. Diên-Hồng quyết chiến còn ghi,
Đời Trần bô lão kém gì tráng sinh.

63. Tổ Hùng tên hiệu Đế Minh,
Dương-Vương Lộc-Tục, con mình phong vua.

64. Vĩnh-Long chống Pháp đành thua,
Ông Phan-Thanh-Giản, ơn vua tuẫn người.

65. Dù ai buôn bán ngược xuôi,
Đền Hùng trẩy hội mồng Mười tháng Ba,

66. Hàng năm kỷ niệm Hai Bà,
Tháng Hai, mồng Sáu trầm hà Hát-Giang.

67. Tản-Viên che phủ mây vàng,
Sơn-Tinh chuyện cũ đưa nàng lên cao.

68. Tản-Đà, bút hiệu thi hào,
Núi sông hai chữ ghép vào thành tên.

69. Cùng trong một bọc Rồng Tiên,
Trứng trăm con nở, nối truyền đời ta.

70. Đông-Du cách mạng sơn hà,
Bội Châu lừng lẫy tiếng nhà họ Phan.

71. Hùm thiêng Yên-Thế họ Hoàng,
Nổi danh Hoa-Thám giữ vùng chiến khu.

72. Đời Lê bình trị thiên thu,
Thánh-Tôn mới lập hội thơ Tao-Đàn.

73. Thăng-Long giữ vững giang san,
Quang-Trung Nguyễn-Huệ đánh tàn quân Thanh.

74. Ngọa triều, tửu sắc liệt mình,
Uổng cho Long-Đĩnh tan tành nghiệp ê.

75. Hóa-Giang giữ trọn lời thề,
Thánh Trần không thắng không về tới sông.

76. Mười năm kháng chiến thành công,
Ơn vua Lê-Lợi, non sông phục hồi.

77. Kim-Quy chuyện móng ngàn đời,
An-Dương-Vương được Rùa trời ban giao.

78. Bình Chiêm, dẹp Tống, Lý hào,
Câu thơ Thường-Kiệt: Nam trào, Nam cư.

79. Đời Lê, Lương đống tâm tư,
Đắc Bằng, quốc sách dâng thư trị bình.

80. Trạng nguyên họ Mạc thấp mình,
Đĩnh Chi thảo phú ví tình hoa sen.

81. Hà-Tiên Nam Việt cuối miền,
Nhờ tay Mạc-Cửu dựng nên mật trù.

82. Thái-Nguyên chống Pháp, giặc thù,
Ông Lương-Ngọc-Quyến thiên thu tuyệt mình.

83. Quy-Nhơn, Võ-Tánh quyên sinh,
Đài cao đốt lửa, chiếm thành Tây-Sơn.

84. Sĩ-Liên, Sử-Ký Đại-Toàn,
Triều Lê soạn thảo, danh thần họ Ngô.

85. Nguyễn phò, gây dựng cơ đồ,
Tướng Lê-Văn-Duyệt, quật mồ thảm thay.

86. Vân-Tiên, tác giả ai hay ?
Cụ đồ Đình-Chiểu, xưa nay mù lòa.

87. Đại-Từ, cách mạng sơn hà,
Hải-Thần, cụ Nguyễn bôn ba nước ngoài.

88. Thám-Hoa Nhữ-Học, thiên tài,
Học nghề in sách miệt mài dạy dân.

89. Tâu vua, Trường-Tộ điều trần,
Tiếc thay Tự-Đức canh tân không màng.

90. Ngọc-Hân tài sắc vẹn toàn,
Quang-Trung Nguyễn-Huệ điện vàng sánh duyên.

91. Văn tài Bá-Quát vô tiền,
Quốc-Oai treo ấn, cự thiên, kháng đình.

92. Lũy-Thầy, Đồng-Hới, Quảng-Bình,
Duy-Từ nổi tiếng xây thành, khai sơn.

93. Khâm sai Bắc Việt chiêu dân,
Cụ Phan-Kế-Toại, văn thần vua phong.

94. Trương-Chi hát vọng khuê phòng,
Mỵ-Nương nghe tiếng, đem lòng tương tư.

95. Đông-Y Hải-Thượng danh sư,
Dương-An Toàn-Trạch, đề thư dụng truyền.

96. Trận này không phá giặc Nguyên,
Không về sông Hóa, lời nguyền Đạo-Vương.

97. Vân-Đồn thắng địch tuyệt lương,
Quân Nguyên nản chí, công dường Khánh-Dư.

98. Bạch-Vân về ngụ, tâm tư,
Thi văn, lý đoán, ẩn cư Trạng Trình.

99. Quang-Trung thần tốc phát binh,
Mùa xuân Kỷ-Dậu chiếm thành Thăng-Long.