Thứ Tư, 30 tháng 4, 2014

Từ Đà Nẵng nhìn về Hà Nội


Thành phố Đà Nẵng văn minh, người dân thanh lịch. Có được điều đó là nhờ vào cái tâm, cái tài của người lãnh đạo...
Đà Nẵng – thành phố đáng sống
Ngày ông Nguyễn Bá Thanh rời Đà Nẵng để lên nhận chức Trưởng Ban Nội chính Trung ương, tôi đọc báo, xem tivi thấy được người dân thành phố này kính mến ông Thanh nhiều lắm. Khi đó, ai cũng tỏ ra nuối tiếc vì thành phố thiếu đi một con người “máu lửa”, dám nghĩ dám làm...
Nhắc đến Đà Nẵng, người ta thường nghĩ ngay đến chương trình “5 không, 3 có”, đã làm nên thương hiệu và bản sắc riêng của thành phố trong suốt những năm qua. 5 không - đó là không có hộ đói, không có người mù chữ, không có người lang thang xin ăn, không có người nghiện ma túy trong cộng đồng, không có giết người cướp của. Qua 5 năm tích cực triển khai kể từ năm 2000, kết quả đạt được vô cùng mỹ mãn.
Sau khi "5 không" đã ổn, Đà Nẵng “dấn” thêm bước nữa đó là triển khai chương trình "3 có" - Có nhà ở, có việc làm, có nếp sống văn hóa, văn minh đô thị. Do triển khai tích cực và có cách làm hiệu quả mà bình quân hằng năm Đà Nẵng đã giải quyết công ăn việc làm cho 30 - 32 nghìn lao động, hơn 9.000 căn hộ được dành cho những người thiếu chỗ ở.
Ở Đà Nẵng, tất cả các bệnh viện lớn nhỏ trong TP, người ra vào đều được giữ xe miễn phí. Ngân sách TP sẽ chi trả khoản này. Với 2.000 đồng/lượt gửi xe máy miễn phí thì có gì phải nói, nhưng với người nghèo thì khác, có người nhà nằm viện ngày ra vào hàng chục lượt, 1 tháng tiền gửi xe cũng là một khoản không nhỏ. Với người nghèo bị suy thận, hàng tuần đôi ba lượt phải vào bệnh viện chạy thận nhân tạo, họ lấy tiền đâu mà chữa bệnh.
Cảm thông khó khăn đó của người dân, năm 2011, TP đã cấp ngân sách cho Bệnh viện Đa khoa Đà Nẵng mua 10 máy chạy thận, và người nghèo sẽ được chữa trị miễn phí 100%. Có ai đếm được niềm vui của người bệnh được cứu tính mạng từ một chính sách xã hội nhân bản như thế.
Và còn rất nhiều chuyện khác biệt đã tạo nên một Đà Nẵng văn minh, hiện đại, xanh sạch đẹp như ngày hôm nay mà ông nguyên Bí thư thành ủy Nguyễn Bá Thanh cho rằng đó chỉ là “ba cái chuyện lẻ tẻ”.
Nhưng với những việc làm đặc biệt kể trên cùng với những chính sách “hổng giống ai” như: không tuyển công chức học tại chức, không thu tiền gửi xe trong các bệnh viện, không cho bán hàng bên bờ biển, vận động thành công Nhà nước và nhân dân cùng làm các công trình công cộng, đối thoại định kỳ với các tổ chức tôn giáo; đi tiên phong giải quyết nhà ở cho đối tượng có thu nhập thấp hay kiên quyết từ chối 2 dự án lớn về sản xuất thép và giấy để quyết tâm xây dựng thành thành phố xanh sạnh đẹp, vì môi trường... cùng biết bao việc làm có ý nghĩa khác không thể kể hết ra đây, thì “ba cái chuyện lẻ tẻ” đó xứng đáng được nhiều địa phương trong cả nước học tập để sao cho mỗi người dân khi nói về quê hương của mình đều ánh lên vẻ tự hào như Đà Nẵng đã làm được ngày hôm nay.
Hà Nội, thành phố của những tiêu cực?
Là người dân Hà Nội, tôi chứng kiến những đổi thay của Hà Nội suốt hơn nửa thế kỉ nay, thấy buồn! Tôi không phải không nhìn thấy những mặt “lớn lên” của Hà Nội nhưng mặt Hà Nội nhỏ đi, thấp kém đi, thậm chí " lùn" đi thì nhiều quá.
Nếu ai đang sinh sống ở Hà Nội hoặc đã từng đến đây có thể nhận thấy rõ, Hà Nội “lộn xộn” như thế nào. Từ "chuyện vặt" như gửi xe thôi vậy mà hầu như ở chỗ nào cũng “chặt chém”.
Cứ hễ có hội hè là các bãi trông giữ xe mọc lên xung quanh như nấm với giá vé “cắt cổ”. Người trông xe thì sẵn sàng dùng nắm đấm với bất kỳ ai thắc mắc về giả cả, bất chấp sự có mặt của lực lượng công an.
Việc này đã tồn tại bao năm nay, người dân ai cũng biết nhưng lãnh đạo Hà Nội thì dường như không biết, hoặc có biết nhưng cố tình làm ngơ?
Đường xá ở thủ đô thì quy hoạch lủng củng, đêm ngày bụi mù mịt và lúc nào cũng trong tình trạng bị đào bới. Nhà cửa thì méo mó, sẹo sọ, chỗ thò ra, nơi lại thụt vào. Nhiều con đường lầy lội cần sửa thì bao năm vẫn để nguyên, nhưng có nơi vỉa hè đang đẹp vẫn cho người đến đào lên để… lát lại.
Ở Hà Nội, đâu đâu chúng ta cũng có thể bị móc túi, cũng dễ dàng bắt gặp những ông, bà già, trẻ em đi bán hàng rong. Ăn xin thì có hầu hết ở khắp Hà Nội. Nạn "chặt chém" khách du lịch từ lâu cũng là nỗi kinh hoàng của những du khách khi đến đây.
Và còn nhiều lắm những chuyện buồn tại thủ đô...
Dẫu biết rằng Hà Nội là thủ đô, một thành phố lớn, đông dân và có nhiều vấn đề đặc thù hơn những thành phố khác. Tuy nhiên tôi cho rằng, không thể lấy lý do “đông dân, phức tạp, khó quản lý” để biện hộ cho những mặt yếu kém trên. Cái chính ở đây là lãnh đạo thành phố có tích cực, có quyết tâm như lãnh đạo TP. Đà Nẵng đã làm hay không thôi.
Cuối cùng tôi xin kể câu chuyện khi tôi đi du lịch ở Đà Nẵng. Trong lúc đi chợ có dùng túi ni-lon, bác xe ôm chở tôi nhắc: "Ở bãi biển, chị đừng vứt túi ni-lon bừa bãi, bác Chủ tịch thành phố yêu cầu vậy đó".
Vậy ra, một người lao động bình thường như bác xe ôm ở Đà Nẵng cũng có ý thức bảo vệ thành phố của họ xanh - sạch - đẹp. Họ có được ý thức tốt như thế chính là nhờ vào cái tâm, cái tài của người lãnh đạo.
Theo GIÁO DỤC VIỆT NAM
______________________________
Xem thêm:

Về “quê” Nhật

Phan Minh Ngọc
(TBKTSG Online) - Tưởng rằng sẽ khó có một ngày nào đó tôi sẽ quay trở lại Nhật trong tư cách của người đi du lịch, đúng hơn là về chơi thăm lại “quê”, nơi tôi đã sống, học và làm việc hơn chục năm có lẻ, với nhiều gắn bó thân thiết. Thế mà rốt cuộc nhân kỳ nghỉ xuân của cậu con trai, cả nhà lại quyết định đi nghỉ ở Nhật một cách khá vội vàng.
Điểm dừng đầu tiên là thành phố Fukuoka, sau chặng bay dài từ Singapore. Fukuoka là nơi có trường Đại học Kyushu mà tôi đã gắn bó đến 6 năm làm nghiên cứu sinh và giảng dạy.
Bước chân ra khỏi máy bay, ấn tượng ập đến là hình ảnh những nhân viên mặt đất đứng đợi ở cửa máy bay, từ nhân viên an ninh đến người quét dọn đều cúi người chào và cảm ơn hành khách. Trong đời, nhớ lại thì có lẽ chỉ có mỗi ở Nhật mới có chuyện này.
Tiếp theo đó là ấn tượng về sự sạch sẽ đến tinh khiết như trong bệnh việnh ở sảnh đến, ở những ô cửa kính trong suốt và khung cửa không một dấu ố, han gỉ, ở nhà vệ sinh lắp các bệ xí tự động xịt rửa hoàn toàn, không một vết nước loang trên sàn, một chút mùi “lạ” nào. Kỳ lạ là trong suốt những năm tháng tôi ở đó, những điều này tôi không mấy nhận ra, mà chỉ thấy được sau nhiều năm sống xa nước Nhật, đi nhiều nơi đây đó, đông tây đủ cả, kể cả “thiên đường” xanh sạch là Singapore mà tôi đang trú ngụ.
Có lẽ khi ở Nhật, người ta coi chuyện sạch sẽ là đương nhiên phải thế nên không mấy để ý, không thấy quý trọng. Nói lan man một chút về chuyện này, sự sạch sẽ tự thân đến từ ý thức của từng người Nhật, giữ vệ sinh cho cả người khác, chứ không chỉ cho bản thân mình. Bởi vậy, bạn sẽ ngạc nhiên là hầu như không thấy các thùng rác ở hầu hết mọi nơi công cộng và để vứt rác ở Nhật người ta phải mua các túi ny lon đựng rác giá vài chục xu mỗi cái và chỉ được vứt vào một số ngày cố định, tùy theo loại rác và địa điểm.
Đây là điều khác biệt lớn so với Singapore, nơi sự sạch sẽ đến từ hình phạt lơ lửng trên đầu nếu bị bắt quả tang làm bẩn môi trường, và người ta có xu hướng sẽ vất rác ở những nơi “khuất mắt trông coi”, là điều mà tôi không ít lần chứng kiến. Ngay như trong khu chung cư chúng tôi ở, buổi tối thường nghe tiếng vèo vèo của những túi rác được nhà nào đó trên đầu ném xuống dưới đến độ mà chính quyền phải dán thông báo rằng ném rác từ tầng cao xuống là một tội hình sự và họ sẽ theo dõi bằng camera, tuy không mấy tác dụng làm người ta sợ.
Điều khá ngạc nhiên nữa với người đã rời Nhật khá lâu như tôi là giá cả ở Nhật hầu như chẳng hề thay đổi trong cả chục năm qua. Những suất ăn trưa tại các nhà hàng cũng vẫn từng đó tiền. Giá bán tại các máy tự động nhan nhãn bên đường vẫn chỉ từng đó cho các loại đồ ăn thức uống hệt như hồi tôi còn ở đó. Từng thứ, từng thứ một dồn đến làm cho người ta có cảm giác như thời gian đã ngừng trôi ở Nhật trong suốt thời kỳ thiểu phát vừa qua.
Ra khỏi cửa nhà ga, đã thấy bà mẹ nuôi người Nhật đứng đón chờ ở đó với câu nói đại ý là con đã về đấy à, vốn dành cho những người thân sống trong cùng một mái nhà. Cảm xúc ùa về như ngày gia đình tôi từ biệt bà để rời khỏi Fukuoka tưởng như vĩnh viễn. Mọi thứ diễn ra cứ như một bộ phim quay chậm với những hình ảnh dường như mới xảy ra ngày hôm qua, gần gũi, thân quen đến nao lòng. Bà cũng chính là một lý do chính mà gia đình tôi quyết định gấp gáp trong chuyến đi này, khi được tin bà bị tái phát căn bệnh ung thư máu từ năm 2007, không lâu sau ngày chúng tôi rời Nhật.
Thỉnh thoảng qua những cuộc điện thoại giữa Singapore và Nhật, bà vẫn nửa đùa nửa thật nói là tại chúng tôi bỏ đi nên bà mới mắc bệnh. Gặp lại bà, tôi thở phào nhẹ nhõm vì trông thần thái của bà khá tốt, mặc dù mới trải qua một đợt điều trị dài, và tôi đã tưởng tượng đến một hình dạng tiều tụy hơn với sự gặp gỡ muộn màng không thể tha thứ. Thế mới biết sức sống mạnh mẽ của bản thân bà và chất lượng của nền y tế Nhật là thế nào.
Nhà bà mẹ nuôi nằm ở một huyện của tỉnh Fukuoka nên nhà cửa và đường sá thông thoáng hơn trong trung tâm thành phố, với mọi thứ bên đường, trên không và trong lòng đất đều trong sự ngăn nắp, tinh tươm tưởng như không thể hơn được, mặc dù nhiều tòa nhà, đường sá và công trình vẫn trong diện mạo cũ kỹ như trước.
Tuy nhiên, nếu để ý từ chiếc ô tô, từ các thiết bị trong nhà, ngoài đường, ở trên giá của các siêu thị sẽ thấy rằng sự tiện lợi của cuộc sống được các nhà sản xuất chế tạo của Nhật liên tục chăm sóc kỹ càng, tỉ mỉ đến từng chi tiết nhỏ nhặt nhất.
Ví như cái nồi cơm điện, nếu ở Việt Nam hay Singapore, giỏi lắm thì cũng chỉ có chừng hơn chục mẫu được bày trên kệ ở mỗi cửa hàng điện máy, nhưng ở Nhật thì người ta sẽ hoa mắt vài chục chủng loại của nhiều hãng, với đủ loại hình dạng, với những công nghệ nào là mạ platinium, mạ titan, lòng nồi hình cầu hay hình trụ, mỏng hay dầy như cái nồi gang, có áp suất để nước sôi ở nhiệt độ cao. Nó nhiều đến độ có cảm tưởng người Nhật đã nghĩ ra, đã cải tiến tất cả những gì có thể nghĩ được, làm được. Đến hoa quả bày trong siêu thị, người ta cũng dán nhãn chỉ độ chín của chúng để người dùng biết mà xài.
Điều khá ngạc nhiên nữa với người đã rời Nhật khá lâu như tôi là giá cả ở Nhật hầu như chẳng hề thay đổi trong cả chục năm qua. Những suất ăn trưa tại các nhà hàng cũng vẫn từng đó tiền. Giá bán tại các máy tự động nhan nhãn bên đường vẫn chỉ từng đó cho các loại đồ ăn thức uống hệt như hồi tôi còn ở đó. Từng thứ, từng thứ một dồn đến làm cho người ta có cảm giác như thời gian đã ngừng trôi ở Nhật trong suốt thời kỳ thiểu phát vừa qua.
Tạm biệt gia đình bà mẹ nuôi sau một vài bữa cơm gia đình với những món ăn dân dã mang đậm phong cách làng quê nông nghiệp trước đây với cá và rau là món chính và thời gian đắm chìm trong làn khói hơi nước mờ ảo của những nhà tắm “onsen” (nhà tắm nước khoáng nóng), chúng tôi lên tầu nhanh đi Nagasaki, thành phố tôi đã ở 4 năm đầu tiên khi đến Nhật để học tiếng và lấy bằng thạc sĩ.
Lại những cuộc gặp gỡ được nối lại sau mười mấy năm với nhiều bạn bè Nhật, già có, trẻ có mà sự thay đổi nếu có thường chỉ thấy ở những sợi tóc đã bạc hơn chứ sự thân quen thì dường như vẫn thế. Tuy vậy, có những cuộc gặp để lại nhiều suy nghĩ day dứt với nước Nhật hơn. Tỷ như có người bạn đã lớn tuổi mà vẫn chưa lập gia đình, vì công việc bận rộn mà lương lại giảm đi so với trước, trong khi bố mẹ già và đổ bệnh, buộc phải quanh quẩn ở Nagasaki để chăm sóc. Câu chuyện của bạn là một câu chuyện thu nhỏ về nước Nhật hiện tại với nạn thiểu phát, dân số già hóa nhanh chóng.
Cũng có bạn gần xa về chuyện người Việt Nam đã đông lên gấp bội kể từ ngay tôi rời khỏi Nagasaki, đại đa số là những người sang học tiếng Nhật hoặc tại các trường dạy nghề. Những trường này thường “đem con bỏ chợ” với những lời hứa tốt đẹp về việc vừa học vừa làm giàu bên Nhật mà thực tế thì theo các bạn, đến ngay cả người Nhật bây giờ cũng khó kiếm được việc làm (bạn bảo các trường này sẽ nhận được tài trợ của Chính phủ Nhật tính trên mỗi đầu sinh viên này nên ra sức quảng cáo để nhận được càng nhiều người càng tốt).
Các bạn nhắn nhủ rằng sẽ khó mà học được cái gì nếu sang Nhật mà không có học bổng, để rồi suốt ngày chúi mũi vào kiếm việc và làm việc cực nhọc, để rồi sa vào các tệ nạn như báo chí đã đưa. Các bạn nói làm tôi chỉ biết cười buồn mà thấm thía cho thân phận của nhiều đồng bào mình.
Trên đường quay trở lại Fukuoka để chuẩn bị về Singapore, tôi lại phải chứng kiến những dòng người làm công ăn lương của Nhật trong đồng phục công sở lũ lượt đi lại ở sân ga và bến tàu mặc dù đã tối khuya. Chợt thấy mình may mắn không phải ở lại Nhật và sống trong cảnh làm việc chăm chỉ của đàn kiến thợ bất kể sớm hôm, không gặp mặt và nói chuyện với con đến cả mấy

Xã hội dân sự, có gì mà ngại?

Nguyễn Vạn Phú
(TBKTSG Online) - Diễn đàn Kinh tế mùa xuân 2014 là một diễn đàn về kinh tế, nơi tập hợp các chuyên gia chủ yếu trong lãnh vực kinh tế để thảo luận chuyện kinh tế. Thế nhưng điều đọng lại với tôi là người theo dõi sự kiện này lại là phát biểu của cựu Bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển về… xã hội dân sự.
Ông nói và được báo VnEconomy trích đăng: “Tôi nghĩ, đã đến lúc thừa nhận xã hội dân sự. Bản chất của nhà nước mang tính quan liêu, và để khắc phục quan liêu thì cần phát huy vai trò của xã hội dân sự”.
Có lẽ với nhiều người khác, điều ngạc nhiên với họ là vì sao phải thừa nhận xã hội dân sự trong khi nó tồn tại khách quan bất kể ý thức chủ quan của bất kỳ ai.
Ông Tuyển, một lần nữa, lại nói ngay vào bản chất của vấn đề “xã hội dân sự” tại Việt Nam: “Hiện nay ta đang cấm kỵ dùng cụm từ xã hội dân sự, tôi đồ rằng chúng ta kỵ cụm từ này cũng như từng kỵ thể chế kinh tế thị trường vì coi đó là cấu trúc kinh tế của kinh tế tư bản. Và bây giờ mình đang coi xã hội dân sự là sản phẩm của nền chính trị tư sản. Đã đến lúc phải thấy xã hội dân sự là sản phẩm của sự phát triển dân chủ, mà sự phát triển dân chủ có tính quy luật”.
Đúng là trong một thời gian dài, không hiểu do đâu, vì ai mà khái niệm “xã hội dân sự” trở thành một “taboo [điều cấm kỵ]” trên các phương tiện thông tin đại chúng chính thống, có dùng thì phải biến báo thành từ khác như xã hội công dân. Ở đây có lẽ phải nói ngay một điều có thể trở thành nguyên tắc ngay được: Nên chấm dứt chuyện cấm bằng lệnh miệng hay truyền miệng; nó vừa “tam sao thất bổn” vừa dễ bị kẻ xấu lợi dụng, nó đi ngược lại nguyên tắc công khai minh bạch của quản lý nhà nước. Giả dụ “xã hội dân sự” là điều không được bàn luận thì phải dựa trên một cơ sở pháp lý nào đó, bằng văn bản hẳn hoi, chứ như thời gian qua, nếu ai đó cất công đi tìm hiểu vì sao “xã hội dân sự” được ông Tuyển khẳng định là đang bị cấm kỵ thì có lẽ sẽ không ai tìm ra.
Thực tế, nhiều bài viết của những người đảm nhận các trọng trách trong lãnh vực văn hóa tư tưởng vẫn sử dụng, vẫn bàn về “xã hội dân sự” một cách bình thường, thậm chí còn xem đó là một góc độ để phát huy nền chính trị dân chủ ở nước ta. Tôi lấy ví dụ một cách ngẫu nhiên bài của TS Đỗ Minh Cương (Ban Tổ chức Trung ương) đăng trên tạp chí Cộng sản có đoạn: “… thực hiện sự đồng thuận giữa chế độ chính trị với xã hội dân sự, giữa các tổ chức chính trị với các tổ chức xã hội và đoàn thể nhân dân để hạn chế các tệ nạn của bộ máy công quyền (quan liêu, tham nhũng, lãng phí...) và phát huy được năng lực tự quản, tính chủ động, tích cực về chính trị của nhân dân.” (NV nhấn mạnh).
Hay một đoạn trích khác của tác giả Trần Ngọc Hiên cũng đăng trên tạp chí Cộng sản: ”Sự ra đời Nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự là kết quả tất yếu do nghiên cứu phát triển của kinh tế thị trường. Ở đâu có kinh tế thị trường thì ở đó phải có Nhà nước pháp quyền xã hội dân sự. Ba bộ phận đó cấu thành hệ thống của một thể chế kinh tế chính trị, mà sự hoàn thiện của hệ thống thể chế hoàn toàn chỉ dựa vào sự liên hệ tương tác với nhau giữa ba bộ phận. Đó chính là quá trình phát triển chế độ dân chủ. Không hình thành hệ thống với ba bộ phận và không có quy chế liên hệ tương tác thì thể chế kinh tế chính trị chỉ dừng lại ở mong muốn chủ quan, kinh tế thị trường sẽ trở nên hoang dại. Thể chế Nhà nước sẽ sa vào quan liêu, tham nhũng nặng nề”. (NV nhấn mạnh).
Chừng đó cũng đủ thấy con ngáo ộp “xã hội dân sự” bị cấm đoán bằng con đường nào đó chỉ là ý muốn của những cá nhân nào đó, do không hiểu rõ vấn đề, lại lo sợ khi thấy người ta lạm dụng cụm từ này vào nghĩa khác.
Nhưng nếu gặp trường hợp cứ cho là có sự lợi dụng cụm từ “xã hội dân sự” vào chuyện kích động người dân vì mục đích hay động cơ được xem là xấu thì tại sao không để những tiếng nói phản biện tranh luận lại để cuối cùng mọi người hiểu đúng về vai trò của xã hội dân sự trong quá trình phát triển đất nước?
Có rất nhiều cách hiểu, cách nhìn về xã hội dân sự nhưng với tôi đây chỉ là nơi mà con người cùng nhau thiết lập các mối quan hệ không bị chi phối bởi luật lệ chính thống nữa. Chuyện bác sĩ nhận phong bì, chuyện giáo viên o ép học sinh học thêm, chuyện ca sĩ ăn mặc phản cảm… làm sao luật lệ nhà nước bao quát cho hết được. Vì thế mới đẻ ra những hội đoàn như y sĩ đoàn để duy trì giềng mối đạo đức trong giới bác sĩ và từ đó bảo vệ cho cả cộng đồng y bác sĩ, như nghiệp đoàn giáo chức để cùng nhau thỏa thuận những ranh giới đạo đức mà người thầy đúng nghĩa không được vượt qua, như hội nghề nghiệp của các diễn viên, nghệ sĩ để cùng nhau giữ lấy thanh danh… Cái đó có gì là xấu? Có gì phải lo ngại? Có gì phải cấm đoán.
Đó còn là nơi người dân giám sát hoạt động của nhà nước, của quan chức coi thử có phục vụ lợi ích cho toàn xã hội hay chỉ lo cho một nhóm lợi ích nào đó. Đó còn là nơi các quan điểm khác nhau cọ xát để tìm ra chân lý vì không ai có thể độc quyền về chân lý mãi mãi. Ở góc độ này, dù muốn dù không xã hội dân sự vẫn đang hoạt động mạnh mẽ qua sự phản biện của công luận hay báo chí trước các vấn đề của xã hội. Kinh tế thị trường luôn ưu ái cho người có tài sản; nhà nước luôn có xu hướng sử dụng quyền lực để tiện lợi cho việc quản lý nên dễ rơi vào chỗ lạm quyền; quan chức thì dễ rơi vào cạm bẫy quyền lực và tiền bạc. Vì vậy nền kinh tế thị trường mà không có sự lớn mạnh của một xã hội dân sự để làm cái thắng cho sự tham lam, lạm quyền, tham nhũng thì đúng là nền kinh tế ấy sẽ chỉ là biểu hiện của một dạng chủ nghĩa tư bản hoang dã.
Xã hội dân sự – thật sự có gì mà phải ngại?

Cà phê Sài Gòn xưa

Hồi xửa hồi xưa … có một Sài gòn người ta gọi cà phê là “cà phe”, đi uống cà phê là đi uống “cà phe” với giọng điệu rất là ngộ nghĩnh. Tiếng Tây gọi cà phê là Café, tiếng Anh là Coffee nhưng mấy xì thẩu Chợ Lớn thì gọi là “cá phé”. Vậy thì café, coffee, cà phê, cà phe hay là cá phé muốn gọi sao gọi nhưng ai cũng hiểu đó là món thức uống màu đen có hương vị thơm ngon, uống vào có thể tỉnh người nếu uống quá đậm có thể thức ba ngày không nhắm mắt…
 phacaphe
TRỞ VỀ THẬP KỶ 50: CÀ PHÊ VỚ
Năm một ngàn chín trăm… hồi đó người Sài gòn chưa ai biết kinh doanh với nghề bán cà phê cả. “Xếp sòng” của ngành kinh doanh…có khói nầy là do các xếnh xáng A Hoành, A Coón, chú Xường, chú Cảo…chủ các tiệm hủ tíu, bánh bao, há cảo, xíu mại. Vô bất cứ tiệm hủ tíu nào vào buổi sáng cũng có bán món cá phé, cà phê, cà phe đi kèm để khách có thể ngồi đó hàng giờ nhăm nhi bàn chuyện trên trời dưới đất.
ca phe sg xua
Hồi đó chẳng ai biết món cà phê phin là gì đâu? Các chú Xường, chú Cảo, A Xứng, A Hía chỉ pha độc một loại cà phê vớ. Một chiếc túi vải hình phểu được may cặp với một cọng kẻm làm vành túi và cán. Cà phê bột đổ vào túi vải (gọi là bít tất, hay vớ đều được). Vì chiếc vợt cà phê nầy hơi giống như chiếc vớ dùng để mang giày nên “dân chơi” gọi đại là cà phê vớ cho vui. Chiếc vớ chứa cà phê nầy sau đó được nhúng vào siêu nước đang sôi, lấy đũa khuấy khuấy vài dạo xong đậy nắp siêu lại rồi… “kho” độ năm mười phút mới có thể rót ra ly mang ra cho khách. Chính cái “quy trình” pha chế thủ công đầy phong cách Tàu nầy mà dân ghiền cà phê còn gọi nó là cà phê kho bởi chỉ ngon lúc mới vừa “kho nước đầu”. Nếu ai đến chậm bị kho một hồi cà phê sẽ đắng như thuốc Bắc.
Cham People in Chau Doc
Có mấy khu vực có những con đường qui tụ rất nhiều tiệm cà phê hủ tíu. Ở Chợ Cũ có đường Mac Mahon (đọc là đường Mạc Má Hồng, nay là đường Nguyễn Công Trứ) có rất nhiều tiệm cà phê kho từ sáng đến khuya. Khu Verdun – Chợ Đuỗi (nay là Cách Mạng Tháng Tám cũng đáng nể bởi cà phê cà pháo huyên náo suốt ngày.
ca phe sg
Ở bùng binh Ngã Bảy (góc Điện Biên Phủ và Lê Hồng Phong bây giờ) có một tiệm cà phê hủ tíu đỏ lửa từ 4 giờ sáng cho đến tận 12 giờ đêm. Còn nếu ai đi lạc vào khu Chợlớn còn “đã” hơn nhiều bởi giữa khuya vẫn còn có thể ngồi nhăm nhi cà phê, bánh bao, bánh tiêu, dà – chả – quải đến tận sáng hôm sau.
CÀ PHÊ HỦ TÍU TÀU
Sách phong thủy Tàu thường khuyên không nên cất nhà ở ngã ba, ngã tư đường vì dễ bị nạn xui xẻo nhưng các chú Xường, chú Hía, A Hoành, A Koón… thì đều chọn các nơi nầy làm chổ kinh doanh. Tuy Sài gòn, Chợ lớn, Gia Định, Phú Nhuận, Đa Kao có hàng trăm tiệm cà phê, hủ tíu Tàu nhưng nhìn chung chúng đều có một “mô – típ – made in China” khá giống nhau, tức là quán nào ở phía trước cửa cũng có một xe nấu hủ tíu được làm bằng gỗ thiết kế một cách cầu kỳ. Phần trên của xe được trang trí bằng những tấm kính tráng thủy vẽ những nhân vật Quan Công, Lưu Bị, Triệu Tử Long, Trương Phi trong truyện Tam Quốc Chí khá vui mắt.
ca phe hu tieu
Bên trong quán hoặc xếp bàn tròn hoặc vuông. Khách vừa vào trong gọi “cá phé”, song mấy tay phổ ky vẫn bưng ra một mâm nào bánh bao, xíu mại, há cảo, dà chá quải đặt trên bàn. Khách dùng hay không cũng chẳng sao “pà – con – mà!”.
quan hu tiu
UỐNG CÀ PHÊ PHẢI BIẾT CÁCH
Như đã nói ở trên, hồi đó không có cà phê ta mà chỉ có cà phê Tàu. Vì thế uống cà phê Tàu phải có một phong cách riêng.
Cà phê được mang ra dân ‘sành điệu” hồi đó ngồi chân dưới chân trên, sau khi khuấy nhẹ cho tan đường bèn đổ ly cà phê ra cái đĩa đặt phía dưới. Chưa uống vội, khách chậm rãi mồi điếu thuốc rít vài hơi để chờ cà phê nguội.
quan-cho-lon
Ông Sáu “ trường đua” nay đã 80 kể rằng hồi ông còn là một chú nhóc nài ngựa ở trường đua Phú Thọ ông cũng uống cà phê theo phong cách nầy, tức uống bằng đĩa chớ không uống bằng ly. Bàn tay phải nhón lấy cái đĩa đưa lên miệng và húp sì sụp: “Uống vậy mới khoái, mới đúng kiểu của dân từng trải”, ông Sáu “trường đua” nói với vẻ tự hào. Ông còn kể cho tôi nghe chuyện ông từng ăn mảnh ở mấy tiệm hủ tíu bánh bao hồi năm sáu chục năm về trước với giọng khoái trá: “Hồi đó tao làm nài ngựa. Hôm nào ngựa thắng độ thì nài được chủ ngựa thưởng cho bộn tiền. Hôm nào ngựa thua thì coi như đói. Không sao, 73 gần trường đua có một tiệm hủ tíu cà phê. Vào búng tay chóc chóc gọi cà phê. Cứ cho mấy thằng phổ ky mang bánh bao xíu mại ra bày trên bàn. Đợi đến khi nó mang cà phê ra rồi bỏ chạy sang bàn khác thì nhanh tay gở miến giấy phía dưới cái bánh bao ra và khoắng ngay cái nhân phía trong tọng vào miệng rồi đậy bánh lại như cũ. Thế là chỉ tốn ly cà phê vài xu mà đã có cái nhân bánh bao to đùng ngon lành trong bụng rồi”.
Theo ông Sáu “trường đua” thì các chủ tiệm cà phê hủ tíu hồi đó rất chiều khách. Sì sụp húp cà phê bằng đĩa xong muốn ngồi bao lâu cứ ngồi, hết trà cứ hô lên “xà dẵm” là có người mang ra bình trà mới, uống chừng nào chán thì đi. Khi được hỏi tại sao dân “sành điệu” lại không uống bằng ly mà lại… húp cà phê bằng đĩa, ông sáu “trường đua” lắc đầu nói không biết chỉ biết dân “sành điệu” chơi vậy mình cũng bắt chước chơi vậy thôi, vậy mới là… sành điệu! CÀ PHÊ PHIN HAY CÀ PHÊ ‘NỒI TRÊN CỐC”
ca phe phin
Dòng cà phê… vớ cà phê kho lững lờ trôi như thế hằng thế kỷ của thiên kỷ trước là như thế, cứ vào tiệm hủ tíu mà uống cà phê đổ ra đĩa rồi sì sụp húp thì được xem như đó là phong cách của dân chơi sành điệu.
Một người tên ông Chín “cù lủ”, một tay bạc bịp nay đã hoàn lương cho rằng dân cờ bạc, dân giang hồ hồi đó chẳng đời nào bưng ly mà uống như ngày nay. Kẻ ngồi nghiêm túc, nâng ly lên uống như uống rượu bị các đàn anh “húp” đĩa xem khinh bằng nửa con mắt, coi như hạng… “bột” lục hục thường tình không đáng kết giao.
Nhưng rồi cái quan điểm húp cà phê trên đĩa mới… “sang” cũng đến lúc phải lụi tàn, vì bị chê là kiểu uống bẩn, uống thô vụng khi trào lưu cái phin “filtre” bắt đầu xuất hiện và đã làm biến dạng cái kiểu uống cà phê trong tiệm hủ tíu.
Vào thập niên 60 Nhà hàng Kim Sơn (nằm trên góc Lê Lợi – nguyễn Trung Trực) mở cú đột phá ngoạn mục bằng cách bày bàn ghế ra hàng hiên dành cho các văn nghệ sĩ trẻ chiều chiều ra đó bàn chuyện văn chương và… rửa con mắt. Hồi đó cà phê Kim Sơn chỉ có một đồng một cốc bằng giá vé xe buýt dành cho học sinh. Mặc dù chủ quán Kim Sơn lúc đó vẫn là người Hoa nhưng đã tiếp thu phong cách cà phê hè phố của dân Pari (Pháp).
caphe viahe sg
Theo lý thuyết, những giờ uống cà phê là những giờ thư giản hoàn toàn, vừa nhăm nhi từng ngụm nhỏ cà phê dặc sánh vừa ngắm quang cảnh sôi động đông vui của đường phố. Thuở ấy con đường Lê Lợi vẫn còn những hàng me. Vào những ngày me thay lá, dưới ánh nắng chiều phớt nhẹ, lá me vàng khô rơi tản mản như hoa “com – phét – ti” lấp lánh làm cho đường phố trở nên… “mộng mị” và thơ…
duong pho sg
Kim Sơn biết tận dụng ưu thế chiếm lĩnh một góc ngã tư, tầm nhìn rộng bao quát để khai thác dịch vụ cà phê hè phố. Cái phin đã trở nên quen thuộc, cao cấp hơn cái vợt cái vớ của cà phê kho trên cái siêu đất “phản cảm” xưa.
Thời điểm nầy những nhà văn, nhà báo, các nhà doanh nghiệp tên tuổi cũng có những quán cà phê sang trọng xứng tầm với địa vị của họ. Những La Pagode, Brodard, Givral, Continental là nơi gặp gỡ, giao lưu của giới thượng lưu Sàigòn.
CÀ PHÊ TÂY
Cà phê La Pagode khách không ngồi ghế sắt ghế gỗ mà ngồi trên những salon bọc da để phóng tầm mắt nhìn ra con đường Catinat (nay là Đồng khởi) con đường đẹp và sang nhất của Sàigòn. Cách La Pagode độ trăm mét Nhà hàng Continental cũng mở một không gian cà phê sang trọng đúng phong cách “Phăng – se”. Đối diện Continental là tiệm cà phê Givral nơi nổi tiếng với những món bánh ngọt tuyệt hảo. Tiệm tràn ngập ánh sáng bởi những khung cửa kính nhìn ra Nhà Hát Lớn (nay là Nhà Hát TP) với một bầu trời khoáng đãng. Những nhà báo, văn nghệ sĩ thường ghé đây uống cà phê trước khi tỏa đi khắp nơi cho công việc riêng của họ.
la_pagode
givral 2
Còn một quán cà phê với một phong cách phương Tây như bàn ghế, trang trí nội thất sang trọng cũng nằm trên con đường nầy là quán cà phê Brodard. Với một phong cách cũng gần giống với La Pagode, không gian Brodard yên tĩnh, ánh sáng thật nhạt để khách có thể thả hồn êm ả bên tách cà phê nóng hổi quyện hương thơm.
quan brodard
Có thể nói từ giai đoạn nầy người Việt Nam ở Sàigòn “thức tĩnh” trước thị trường buôn bán cà phê mà từ lâu họ đã bỏ quên và đã để cho các chú Hoành, chú Koón, chú Xường… tự do khai thác.
Khi qua tay người Việt quán cà phê không còn luộm thuộm những cái ‘đuôi” mì, hủ tíu, hoành thánh, xíu mại, há cảo, bánh bao… nữa mà nó thuần túy chỉ có cà phê nhưng được chăm chút một cách tỉ mỉ hơn, biết tạo ra một không gian tao nhã hơn, thu hút hơn…
CAFÉTÉRIA CA NHẠC
Để gần gủi hơn, thu hút khách hơn và cũng mang tính giải trí hơn, một số nơi đã ổ chức hình thức phòng trà ca nhạc theo dạng Cafétéria.
Cafétéria rộng thoáng hơn những “Tháp ngà” La Pagode, Brodard, Givral, Continental… nơi đây không phải chổ để trầm tư, bàn luận chuyện đời mà hoàn toàn là chổ vui chơi giải trí.
kem bach dang
Trên đường Bùi Viện đầu những năm 60 mọc ra một cái quán với tên là Phòng trà Anh Vũ. Tuy là phòng trà nhưng có thiết kế một sân khấu nhỏ vừa cho một ban nhạc bỏ túi đệm đàn cho những ca sĩ tăm tiếng được mời đến trình diễn như Bạch Yến, Mai Hương, Duy Trác, Cao Thái… Lúc đó phòng trà Anh Vũ là điểm hẹn của nhiều người dân Sàigòn cũng như những văn nghệ sĩ sinh sống tại đây. Con đường chật hẹp Bùi Viện bổng đêm đêm sáng lên rực rở ánh đèn Anh Vũ, người xe tấp nập đông vui.
Một Cafétéria khác theo cách của Anh Vũ cũng đã mọc lên bên cạnh rạp Ciné Việt Long (trên đường Cao Thắng) với tên Phòng trà Đức Quỳnh. Ca sĩ kiêm nhạc sĩ tóc dài Đức Quỳnh là chủ nhân của cái Cafétéria nầy. Đức Quỳnh với cây Piano và giọng ca trầm ấm của ông và những ca sĩ Minh Hiếu – Thanh Thúy, Phương Dung đã thu hút một số đông người yêu nhạc đêm đêm đến đây vừa giải khát vừa giải trí một cách tao nhã.
Rồi tiếp theo là cà phê Cafétéria Jo Marcel, trên đường Hai Bà Trưng, Đêm Màu Hồng trên đường Tự Do (nay là đường Đồng Khởi) thi nhau mọc lên đẩy “Nền văn hóa ẩm thực” cà phê lên một tầm cao hơn, tức vừa uống cà phê vừa được thưởng thức những ca khúc do các ca sĩ, nhạc sĩ có tiếng trình bày.
vu truong tu do 2
Một Phòng trà ca nhạc khác cũng khó quên chính là phòng trà Bồng Lai nằm trên sân thượng của Nhà hàng Kim Sơn mở cửa hàng đêm từ 9 giờ tối. Ở đây khách thường xuyên được nghe giọng ca vàng đương thời, ấy là ca sĩ Anh Tuyết với bài hát “Anh đèn Màu”.
Cũng như ca sĩ Cao Thái nổi tiếng với bài “Mexico”, ca sĩ Anh Tuyết mỗi lần trình diển “Anh đèn Màu” là bà hát với những dòng nước mắt. Nội dung ca khúc là nói về tâm trạng của người nghệ sĩ là ca hát để người mua vui để rồi khi ánh đèn màu tắt người nghệ sĩ lại một mình giữa cô đơn… Có lẽ do cái nội dung u buồn ấy đụng chạm vào nỗi lòng của bà nên bà rất ít khi chịu hát nhạc phẩm ấy. Nhưng hầu như đêm nào cũng có người yêu cầu, trừ những người thân quen bắt buộc phải đáp ứng, còn thì Anh Tuyết xin lỗi từ chối khéo.
LẠI QUAY VỀ CÀ PHÊ VỚ ĐÔNG VUI
Những ngày đầu sau khi thanh bình, Sàigòn lại rộ lên phong trào cà phê hè phố. Những quán cốc che tạm tấm bạt bên lề đường với những chiếc ghế gỗ lùn làm chổ tụ họp của các thanh niên vui đón những ngày hạnh phúc mới.
Vòng quanh Hồ con Rùa, xuống đến Phạm Ngọc Thạch, quẹo qua Nguyễn Đình Chiểu có hàng mấy chục “túp lều” cà phê như thế mọc lên san sát bên nhau.
Trên đường Trần Quốc Thảo gần Hội Văn Nghệ TP, một số anh em văn nghệ cũng mở quán cà phê cóc bên vệ đường để anh em hội tụ, gặp gở sau khi chiến tranh đã kết thúc.
Chỉ là cà phê hè phố nhưng đông vui, uống một cốc cà phê siêu, cà phê vớ nhưng thoải mài ngồi cả ngày cũng chẳng ai rầy rà. Sau khi hết tiếng súng nổ, hết hỏa châu đầy trời, hết bắt lính, thanh niên, sinh viên Sài gòn vui vẻ chào đón những ngày cách mạng đông vui ngoài phố. Và các ‘quán cốc liêu xiêu một câu thơ” bên các vĩa hè là chổ dừng chân để… “tám” đủ thứ chuyện trên trời dưới đất.
ca phe le duong
Chỉ có ai ở tuổi thanh niên vào thời điểm lịch sử có một không hai đó mới thấy được cái thú ngồi quán cà phê bụi lụp xụp mà hầu như đường nào cũng có. Có người còn có thuốc Ruby, Con Mèo để phì phàbên ly cà phê vớ nhưng để… phiêu bồng hơn một số lớn thanh niên chơi… “bốc – lăn – se” tức thuốc vấn. Anh nào cũng thủ sẵn một bọc trong túi xách để sẳn sàng bày ra cho bạn bè tha hồ vừa bốc vừa lăn vừa se vừa liếm vừa dán rồi phì phèo nhả khói
Cà phê quán cóc (nhảy nay chổ nầy mai chổ khác như cóc nhảy ấy mà) thời ấy được coi như thời huy hoàng lãng mạn nhất của nền… văn hóa ẩm thực cà phê cóc Sàigòn. Ban ngày đã rộn ràng như thế đến đêm bên những ngọn đèn dầu lù mù loanh quanh những con đường trong thành phố cũng có những quán cóc để dân mê cà phê, mê hòa bình được tận hưởng những giờ phút, sảng khoái, thanh bình, yên ả nhất của đời mình.
SÀIGÒN DĨ VÃNG VÀ SÀIGÒN BOLSA
Sàigòn một thuở là Hòn ngọc Viễn Đông, một Paris lấp lánh khắp cõi Châu Á, tới hôm nay, đã mang tên khác, nhưng người ta vẫn quen gọi tên cũ chính danh là Sàigòn. Một thành phố mãi mãi vẫn mang tên là Sàigòn. Sàigòn của muôn đời. Sàigòn trong trái tim người đang sống ở thành phố đó hay lưu lạc khắp năm châu thế giới..
Người Sàigòn không nhất thiết phải sinh ra tại đó, có bao nhiêu đời Ông Bà Cha Mẹ từng lập nghiệp lâu năm bền vững. Một người, bất cứ ai, cũng có thể nhận chính mình là dân Sàigòn, dù chỉ ở đây một ngày, một tuần hay một tháng, một năm. Chỉ sống một ngày ở Sàigòn, nhưng yêu Sàigòn mãi mãi, và mang Sàigòn ở trong tim, như một phần của thân xác, linh hồn mình. Chỉ như vậy thôi, người ta có thể ngẩng cao đầu, tự hào vỗ ngực tuyên xưng, tôi chính là dân Sài gòn.
Tóm lại, Sàigòn là của tất cả mọi người suốt giải giang sơn, từ Bắc qua Trung tới Nam. Sàigòn như một hiền mẫu, dang vòng tay ôm thương yêu quảng đại tới con người tứ xứ, không phân biệt Bắc, Trung, Nam và ngay cả người ngoại quốc nữa.
Một người Pháp sinh ra ở Paris, bỗng dưng một hôm tuyên bố, từ nay tôi không còn là một Parisien, cư dân ở Paris nữa. Tôi là người Sàigòn và sẽ ở lại đây cho tới cuối đời. Thế là dân Sàigòn bèn gọi chàng Tây là anh Hai, hoặc anh Tư gì đó. Tinh thần người Sàigòn là như vậy đó, thiệt là cởi mở và phóng khoáng.
Một nhạc sỹ sáng tác nhạc gửi: “Sàigòn ơi! Ta hứa rằng ta sẽ trở về” . Rồi chàng cũng đã trở về thật, sau hơn chục năm xa cách. Nhưng chàng khám phá ra mình thực sự mất Sàigòn trong thực tại. Thế nên, nếu có sự trở lại, thì chỉ còn một hành hương về Sàigòn trong quá khứ với ngọc ngà dĩ vãng..
Hãy cùng trở về Sàigòn từ một ký ức xa tắp mù khơi. Sàigòn của những thập niên 1950 từ hơn nửa thế kỷ trước. Sàigòn với các hộp đêm, sòng bài Đại Thế Giới, Chợ Lớn, một Las Vegas thu nhỏ. Tại đây có đủ loại sòng bài và cách chơi khác nhau, lại có chỗ giải trí như xe nhỏ chạy bằng điện húc nhau đùa rỡn, hiện nay Las Vegas vẫn còn trò chơi này. Khu văn nghệ khác như phòng trà vũ trường. Con đường Trần Hưng Đạo Galliéni, Đồng Khánh chạy dài từ Sàigòn tới Chợ Lớn dài vun vút dẫn khách tới sòng bài, lưu thông hàng ngàn chiếc xe hơi nối đuôi nhau, đèn pha sáng chói, chẳng khác gì đại lộ Champs Elyseé tại Paris.
maxim
Đường Richaud Phan Đình Phùng quả thật văn nghệ với quán cà phê Gió Nam nỗi tiếng vì cô hàng café tuyệt sắc giai nhân. Nàng có nước da trắng xanh liêu trai với mái tóc thề ngây thơ nữ sinh. Nhân vật đã đi vào truyện Duyên Anh, qua bao chàng trai say đắm, tranh đua nàng, từ trí thức đến du đãng yên hùng. Cũng tại đường Phan Đình Phùng với quán phở Con Gà sống thiến cùng hai kiều nữ con chủ quán, nổi danh tài sắc. Yến Vỹ cùng chị, cả hai để mái tóc bồng rối như minh tinh Brigitte Bardot. Bao thực khách đến chẳng phải phở ngon, nhưng vì Yến Vỹ đẹp lại hát hay. Thì ra ngoài quán café, nhà hàng phở giai nhân cũng khiến một chàng Cử Văn Khoa phải vào nhà thương điên vì tình si. Phan Đình Phùng còn thêm café quán Luật Khoa và cơm gà Xing Xing, với những giai nhân lai Pháp, càng làm thêm Sàigòn có một chút Paris.
Sàigòn by night đã là những phòng trà ca nhạc và vũ trường khiến màn đêm Thành Đô trở nên lung linh ảo huyền, như một ngàn lẻ đêm huyền thoại. Nổi bật nhất từ cuối thập niên 50 là phòng trà ca nhạc Anh Vũ. Nơi đây khởi đi cho nhiều danh ca sau này. Thanh Thúy ở tuổi mượt mà thanh xuân đôi tám đã hát từ Anh Vũ, làm mê say bao tao nhân mặc khách. Người ta mê Thanh Thúy vì có lối trình diễn độc đáo bên giọng ca trầm buồn. Thanh Thúy vừa hát vừa đưa tay vuốt làn tóc buông rơi, sau đó gây chú ý là tự vuốt đôi chân ngọc tuổi dậy thì, có lúc nàng lại vưốt cây micro nữa, khiến các chàng trai sởn da gà vì sốt nóng lạnh. Ban CBC thuở Anh Vũ đã là ban nhạc kích động nhỏ nhất thế giới, với tuổi khoảng sáu, bảy mà thôi. Thảm kịch cũng xảy ra cho phòng trà Kim Điệp Sàigòn, khi một chàng Tây lai bị giết. vì dám cặp kè với người đẹp Tuyết Không Quân. Tuyết là một giai nhân nổi tiếng sát phu qua hai đời chồng bị tử nạn trong chiến tranh. Phòng trà Kim Điệp sau vụ ấu đả vì ghen tuông. bị đóng cửa để trở thành Nhà sách.
Quán café trà thất đẹp nhất Sàigòn phải kể là Quán Gió, sau thành “Hầm Gió”, thiết trí sâu dưới đất, như một hầm rượu bên Âu châu. Người đẹp ngồi cash, bên một thùng rượu làm thành cái bàn khá ngoạn mục. Ca sỹ Thanh Lan thường có buổi trình diễn tại đây
Chính những phòng trà đêm Sàigòn đã đưa nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn lên đỉnh cao. Nhiều ca khúc phản chiến cấm hát ở Đài phát thanh nhưng tại phòng trà thì vẫn được trình diễn tự do.
QuanVan-KhanhLyTrinhCongSon1967
Vũ trường, phòng trà Sàigòn còn ghi lại một thiên tình sử đẫm lệ, khi nữ ca sỹ Diệu Anh kiều diễm hát hay, đã tự tử vì . . . bị một nam ca sỹ bỏ rơi. Chàng trai bạc tình sau đó vì buồn và hối hận đã bỏ hát vài năm. Đêm Sàigòn trà thất vũ trường còn ghi đậm cây si thường xuyên Mai Thảo và Hồng Dương, để viết thêm những tình sử lâm ly với hai nữ danh ca khác.
Đêm Sàigòn bạc vàng, bạc triệu với Lệ Thu và Khánh Ly, những tiếng hát vàng ròng cả nghĩa trắng lẫn nghĩa đen, vì lương tháng hai nữ danh ca này lên tới một triệu. Trong khi đó, lương một Đốc sự, Phó Quận trưởng tới năm 1975 chỉ có 33 ngàn đồng một tháng.
Vũ trường thơ mộng nhất Sàigòn là Mỹ Phụng ngay tại bến Bạch Đằng. Thuở đó cuối thập niên 50 đầu 60, người ta thích đi Mỹ Phụng vì ban đêm có gió sông Sàigòn mát dịu lại thêm nữ danh ca Lệ Thanh. Nàng chuyên hát những tinh khúc ướt át, trong điệu slow tắt đèn, mờ ảo như “Dang dở ” “Nỗi Lòng”. Tiếng hát mê đắm Lệ Thanh đã thu hồn một Bác Sỹ trở thành phu quân của nàng.
Đêm Sàigòn ngọc ngà dĩ vãng khiến người ta khó quên được vì những dạ vũ Bal Famille có khi kéo dài từ đêm suốt sáng. Ai có ngờ cô bé Mai đen 16 tuổi, thường đi với bé Phú, sau này lại trở thành ca sỹ Khánh Ly nổi danh cho tới nay. Phú mệnh danh là Phú chuột, trắng trẻo, mũm mĩm xinh như thỏ con, thường nhảy cùng Mai với đám bạn trai. Mai nhảy có khi bỏ cả giày cao gót giữa đêm vui đã gần rạng sáng.
Thuở ấy, người đi dạ vũ phải trầm trồ khen ngợi tài nhảy của Tony Khánh, thường nhảy cặp với vợ. Mỗi lần Khánh cùng phu nhân ra sàn nhảy, mọi người đều ngừng khiêu vũ để thưởng thức tài nghệ bậc sư biểu diễn. Sau đó là pháo tay nổ ròn như ngày Tết.
saigon by night
Hòn ngọc Viễn Đông Sàigòn từ thập niên 50 nay đã trên nửa thế kỷ, Sàigòn đã đổi tên. Người Sài Gòn đã bay xa, lập thành bao nhiêu Little Sàigòn rải rác khắp hải ngoại . Và dân Sàigòn năm xưa, những chàng trai hào hoa phong nhã, bao giai nhân ca sỹ lừng danh, nay đã thất thập cổ lai hy, hay gần mấp mé tuổi hạc. Thế nhưng trái tim chằng bao giờ già. Bởi vậy nói như Thi sỹ Thanh Tâm Tuyền ta gọi tên ta, Sàigòn cho đỡ nhớ. Hỡi những Đêm Mầu Hồng, Queen Bee, Arc En Ciel, Mỹ Phụng, Tự Do . . . Những đêm vui thắp sáng kỷ niệm, những ngày xuân mãi mãi xanh tươi, để làm thành một Thủ Đô Sàigòn bất tử, ta yêu lắm và yêu mãi mãi. Sàigòn trong lời nhạc của Ngô Thụy Miên, thì dù Em của ta có đi khắp thế giới Paris, Vienne, cũng chẳng thể tìm đâu đẹp hơn Sàigòn của ta ngày hôm qua dĩ vãng cũng như Sàigòn mai sau.
Biên soạn từ nguồn lophocvuive.com. Ảnh sưu tầm.

Hòa giải: Câu chuyện có thể có hồi kết


Chúng ta cần thừa nhận những uẩn khúc rất đời - những câu chuyện tí hon mà vì hoàn cảnh chiến tranh đã được hấp thụ vào câu chuyện lịch sử vĩ đại của một dân tộc anh hùng - để mỗi người dù ở phía nào đều thấy chân dung của mình trong đó.
Xem loạt bài Hòa hợp để yêu thương

Vài tháng trước một học giả Pháp có tên Francois Guillemot xuất bản một cuốn sách về “phụ nữ Việt Nam trong các cuộc nội chiến".
Ông ta lý luận chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ của Việt Nam là “nội chiến” vì khi đó trong chính nước Việt, giữa người Việt với nhau cũng có nhiều phe phái nổi lên tranh giành quyền lực.
Lý luận đó đã dấy lên một cuộc tranh luận nảy lửa trên diễn đàn Nghiên cứu Việt Nam tại Mỹ về bản chất cuộc kháng chiến chống Mỹ. Như rất nhiều cuộc tranh cãi khác trong giới trí thức về chủ đề này, phần đông sẽ kết luận rằng, việc Mỹ giúp Pháp, rồi dựng lên chính quyền Ngô Đình Diệm và sau đó trực tiếp đổ quân vào Việt Nam là việc làm nếu không được coi là bành trướng đế quốc thì cũng là trái đạo đức. Tuy nhiên, với những tiếng nói ít ỏi vang lên, chẳng hạn như Guillemot, cũng không khỏi khiến ta chạnh lòng suy ngẫm về những gì đã xảy ra trên đất nước Việt Nam  qua bao thập kỷ chiến tranh.
Hòa giải, hòa hợp, 30/4
Quảng Trị năm 1972, thành phố hoang tàn và đổ nát. Ảnh: Nick Út
Trong bất kì cuộc kháng chiến nào, việc chống can thiệp của nước ngoài, ở bất kì nơi đâu không riêng gì Việt Nam, đều có yếu tố nội bộ  Thứ nhất là bao giờ cũng có những kẻ đầu cơ trục lợi, giặc chưa đến đã hàng, không những đầu hàng mà còn giúp ngoại bang bóc lột chính dân mình, miễn  sao vinh thân phì gia. Số này sẽ chống lại bất kì người bản xứ nào muốn đứng lên .
Trong số những người còn lại thì hầu như bất kỳ ai khi đứng trước sự an nguy của đất nước, của gia đình và bản thân cũng đều sẽ đặt ra câu hỏi, “theo ai, làm gì, như thế nào.” Dù ta có muốn tin rằng mỗi người Việt là một cấu thành tuyệt đối của tổ quốc Việt Nam thiêng liêng và sẵn sàng hi sinh đến giọt máu cuối cùng để chống lại sự đô hộ của nước ngoài, trong thực tế mỗi người Việt khi quyết định tham gia (hay không tham gia) vào cuộc kháng chiến chống Mỹ đều đã đắn đo hết những thiệt hơn, hết lẽ phải trái, giữa cái chung và cái  riêng. Đó cũng là lẽ thường. Con người mà.
Nhưng chiến tranh càng kéo dài, càng khốc liệt thì lựa chọn của con người ta càng bị thu hẹp khi mà “đứng giữa” trở thành tiêu chí xa xỉ, khi  cuộc sống được quy nạp chỉ còn hai tiêu chí  "bên này – bên kia”. Tính chất của cuộc chiến, một bên là cường quốc số 1 thế giới về mọi mặt chống lại một bên là nước nhỏ và nghèo, khiến cho việc tập hợp khối đại đoàn kết dân tộc trở thành một khối vững chắc là điều tối cần, càng làm cho lằn ranh giữa tốt (nghĩa là theo ta) và xấu (theo địch) trở nên rõ ràng hơn.
Có điều khi chiến tranh đã kết thúc thì hệ thống “phân loại nhị phân” kiểu này đã không còn thích hợp để nói lên tính đa dạng và nhiều trắc ẩn của cuộc kháng chiến cũng như của từng con người đã phải sống trong thời “nồi da xáo thịt” đó, đặc biệt càng không giúp ích gì cho việc hàn gắn vết thương chiến tranh mà dân ta đã phải chịu đựng cả thế kỉ qua (nếu tính từ những cuộc khởi nghĩa từng vùng/miền chống Pháp từ đầu thế kỉ 20).
Hòa giải, hòa hợp, 30/4
Những công trình mới ở TP.HCM. Ảnh: Đinh Tuấn
Trong một cuộc thảo luận gần đây tại Trung tâm Wilson (thủ đô Washington) về việc chính phủ Mỹ sử dụng các bài học rút ra từ chiến tranh Việt Nam trong quá trình hoạch định chính sách đối ngoại, một phụ nữ Mỹ gốc Việt run giọng (không rõ vì xúc động hay vì cáu giận) nhắc đi nhắc lại một câu “nước Mỹ không thua Cộng Sản, Nixon có thể tiếp tục cuộc chiến nhưng quyết định bỏ rơi đồng minh (Sài Gòn)…” tới mức chủ tọa phải ngắt lời và yêu cầu bà ngồi xuống. Với những người như bà, những người cho rằng việc Mỹ nên tiến hành chiến tranh ở Việt Nam dù với bất kỳ tên gọi gì hoặc thủ đoạn nào, thì việc hòa giải hòa hợp là điều bất khả thi.
Cụm từ “Hòa giải” chính nó đã mang nghĩa “hai phía”. Ta không thể vì mục đích hòa giải mà chấp nhận xuyên tạc tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến vì mục tiêu thống nhất đất nước.
Tuy nhiên chính ta cũng phải thừa nhận đã có những bước đi không sáng suốt khiến cho việc hòa giải thời kỳ đầu đã trở thêm khó khăn.. 
Nếu tỉnh táo nhìn nhận thì ta phải thấy trong số những người ở lại một phần là do không di tản kịp nhưng có rất nhiều người ở lại là do họ  hi vọng vào sự khoan hồng của chính quyền mới. Chính sách cải tạo đã đẩy những con người này từ chỗ muốn hoàn lương sang chỗ cay đắng, và từ đó gia đình họ dù ở nước ngoài hay ở Việt Nam đều mang ấn tượng rất xấu.
Tai hại hơn, họ và những người vượt biên những năm 70, 80 trở thành phương tiện truyền thông (tích cực) về hình ảnh (tiêu cực) của Việt Nam đối với thế giới bên ngoài, đặc biệt là ở Mỹ. Ai đã làm việc với chính phủ Mỹ để xóa bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam, bình thường hóa quan hệ hai nước, hoặc tăng cường hợp tác… đều hiểu rất rõ rằng những người Việt tị nạn sang Mỹ sau năm 1975 đóng một vai trò vô cùng lớn trong việc vận động hành lang nhằm phá cho bằng được bất kì động thái nào giữa hai nước tiến tới một mối quan hệ hữu nghị.
Còn những thế hệ sau, sinh ra ở Mỹ, thì hoặc là hoàn toàn mù mờ về gốc gác Việt hoặc nếu có quan tâm thì cũng mang những mặc cảm nặng nề. Về mặt tinh thần, rõ ràng không ai được lợi từ việc mỗi người hay cả dân tộc đeo đẳng sự hận thù, cay đắng.
Về mặt chính trị, ta cũng không có lợi khi mà hàng trăm nghìn người Mỹ gốc Việt – trong con mắt người Mỹ thì họ là đại diện “xác thực” nhất cho hai chữ “Việt Nam” – lại chỉ có những hành động và lời nói đầy kỳ thị về nước Việt.
Về mặt kinh tế ta càng không được lợi lộc gì. Theo nghiên cứu của các nhà xã hội học, người tị nạn/nhập cư, dù xuất phát từ bất kì quốc gia nào, đều là nhóm năng động và có khả năng thích nghi cao hơn so với mặt bằng dân số của nước đó. Điều này càng đúng với cộng đồng người Việt tại Mỹ, phần lớn đều thành công. Một lượng lớn tài năng và chất xám của con người Việt thể hiện ở những nhà khoa học và kinh tế học, những bác sỹ, kỹ sư người Mỹ gốc Việt đang ở lại phục vụ nước Mỹ, hoặc liên kết hợp tác với… nước khác chứ không phải Việt Nam. Thật đáng tiếc.
Còn ở trong nước, việc hàn gắn vết thương chiến tranh càng cần thiết. Không phải tẩy trắng lịch sử mà phải vẽ một bức tranh không chỉ có hai màu trắng và đen về cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Chúng ta cần thừa nhận những uẩn khúc rất đời - những câu chuyện tí hon mà vì hoàn cảnh chiến tranh đã được hấp thụ vào câu chuyện lịch sử vĩ đại của một dân tộc anh hùng - để mỗi người dù ở phía nào đều thấy chân dung của mình trong đó. Dân tộc ta giỏi đánh giặc nhưng cũng đầy lòng bao dung.
Ta đã có tự do, hòa bình, ta đã đổ quá nhiều xương máu để giành được điều đó. Không có lý gì mỗi chúng ta không thể nắm lấy tay những người Việt thiện chí khác để cùng nhau xây dựng một trang sử mới cho dân tộc.
  • Minh Nguyệt (Từ Mỹ)

Ba lăm năm hòa hợp để yêu thương

Ba mươi lăm năm sau ngày thống nhất đất nước, giang sơn thu về một mối, VietNamNet khởi đăng loạt bài với chủ đề: Hoà hợp dân tộc bằng tình thương yêu. Chúng ta sẽ cùng nhìn lại những thành quả đã đạt được và những gì còn có thể làm được để gạch ngang quá khứ, khép kín thương đau, vạch đường tương lai để muôn người Việt Nam như một tiến về phía trước... sự kiện nóng
Đã xa rồi ký ức chiến tranhĐã xa rồi ký ức chiến tranh
Vươn lên từ đổ nát do chiến tranh, Việt Nam đã trải qua bước đổi thay mạnh mẽ. Thế hệ thứ nhất- những người trực tiếp chứng kiến giờ cũng không còn nói nhiều về cuộc chiến, họ bình tĩnh hơn mỗi khi nhớ về hồi ức. Còn giới trẻ- những người sinh sau ngày 30/4/1975, chiến tranh là câu chuyện xảy ra đã lâu trong lịch sử.
Cùng một dân tộc hà cớ gì không thể hoà hợpCùng một dân tộc hà cớ gì không thể hoà hợp?
"Với Mỹ, chúng ta sẵn sàng "gác" quá khứ, để hợp tác, nhìn về tương lai, thì không lý do gì, người cùng một dân tộc, cùng một tổ quốc, mà không thể hòa hợp, đoàn kết với nhau để xây dựng tương lai cho đất nước mình" - Nguyên Phó Chủ Tịch Nước Nguyễn Thị Bình nói.

Nuôi thù hận, cản trở hòa hợp là có tội với tương lai
"Nếu ai đó trong chúng ta dù từng đứng từ phía nào mà vẫn nuôi lòng thù hận, cản trở hòa hợp dân tộc thì sẽ dần trở nên lạc lõng và thật sự có lỗi với tương lai của chính con cháu mình - nhà ngoại giao kỳ cựu Võ Văn Sung nói.



GS. Cao Huy Thuần: "Dân tộc không có sông Ngân"
Đã gọi là dân tộc, sao còn phân biệt ngoài với trong? Sao còn chia năm xẻ bảy hạng người Việt này với hạng người Việt khác?





Bao dung và hòa hợp- nhìn từ dân trí và hội nhập
Nếu không tranh thủ đoàn kết, cùng nhau xây dựng đất nước thì làm sao tránh được nghèo nàn lạc hậu, làm sao tránh được vị thế của nước nhược tiểu.


Muốn hòa hợp, phải tin nhau
Thành viên Chương trình WHF của Nhà Trắng cho rằng, hòa giải phải được xây dựng dựa trên lòng tin. "Thử đặt mình vào địa vị của phía bên kia, để hiểu, thông cảm và bỏ qua, cùng tiến về phía trước".


Bắc nhịp cầu xóa hố sâu ngăn cách
Bắc nhịp cầu xóa hố sâu ngăn cách
Nhiều người lặng đi khi vị tướng còn mang quân hàm từ bàn chủ tọa bỗng bước nhanh tới và bắt tay diễn giả thật chặt... Diễn giả ấy, ông Nguyễn Hữu Hạnh, nguyên là chuẩn tướng, phụ tá Tổng Tham mưu trưởng Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Còn vị tướng đang mang quân hàm chính là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, thượng tướng Phan Trung Kiên.

Những đòi hỏi mới của thời cuộc
Tháng 4/1975 sẽ mãi mãi đi vào lịch sử dân tộc là thời điểm thống nhất đất nước. Nhân dịp 30 năm ngày đất nước về một dải "từ mũi Cà Mau đến địa đầu Móng Cái", nguyên thủ tướng - "lão tướng" Võ Văn Kiệt đã có cuộc trao đổi với phóng viên tuần báo Quốc Tế (Bộ Ngoại giao) về những kỷ niệm ngày tiếp quản Sài Gòn và những bức xúc trước thời cuộc. Ông cho rằng chúng ta phải nhanh chân, đừng tự ru ngủ mình...
Việt Nam từ chiến tranh đến hoà bình dưới ống kính của Nick Út
Vừa gặp chúng tôi, Nick Út đã hồ hởi mở ngay laptop "khoe" những bức ảnh tươi rói ông vừa chụp cảnh đường phố Sài Gòn. "Nick Út là quê hương, Nick Út là Việt Nam, bạn bè tôi đều nói vậy. Ngày mai tôi sẽ đưa ảnh Việt Nam lên Facebook", Nick Út khoe.

Lenin với hoà hợp dân tộc
Lenin từng nói rất thẳng rằng: "Đối với chúng ta, một "chuyên gia khoa học và kỹ thuật" dù là chuyên gia tư sản nhưng thạo công việc của mình, thì cũng vẫn mười lần quý hơn người đảng viên cộng sản huênh hoang, ngày hay đêm, bất cứ lúc nào cũng chỉ sẵn sàng viết "các đề cương", đề ra "các khẩu hiệu", đưa ra các điều hoàn toàn trừu tượng. Hãy biết nhiều sự kiện hơn nữa, hãy bớt những lời tranh luận mệnh danh là có tính nguyên tắc cộng sản chủ nghĩa đi".

Chiến dịch Hồ Chí Minh giữa lòng Paris
Phải lấy ngọn cờ đại đoàn kết, không phân biệt quá khứ, không phân biệt quốc tịch, nhằm hướng về Tổ quốc đã độc lập thống nhất và tùy khả năng từng người, từng tập thể mà góp phần xây dựng đất nước "đàng hoàng hơn, to đẹp hơn".



Trải lòng của những người về cội nguồn, khép thương đau
Biến cố năm 1975 khiến không ít kiều bào lần đầu tiên quay về nước đã phải đối mặt với nhiều rào cản.Nhưng dần dà, họ nhận ra đã "mọc rễ" trên mảnh đất quê hương. Và nay, lứa con cháu họ cũng đang hướng về nguồn cội.

Chuyện của Tổng trưởng Quốc phòng chế độ cũ
Đại tướng Võ Nguyên Giáp, lần đầu tiên gặp ông Nguyễn Hữu Có đã cầm tay mà nói: "Chào mi, ta với mi lúc trước hai đứa hai chiến tuyến nhưng nay ta đã là hai anh em".

Một ngày tháng Tư thăm nghĩa trang quân đội chế độ cũ
Ba mươi lăm năm nhìn lại.Thời gian đã đủ lâu để những người đang sống thấy thấm thía nỗi đau ngăn cách. Quyết định dân sự hóa nghĩa trang quân đội cũ xem ra đã là một bước tiến khá dài cho mục tiêu hoà hợp dân tộc, hàn gắn lòng người.

Trí thức chế độ cũ góp sức cải tổ ngành Ngân hàng
Kết quả tốt đẹp của chuyến đi đã tạo nên một nguồn cảm hứng khiến chúng tôi làm việc hăng say hơn. Anh Ba Châu vào gặp anh em và đề nghị xây dựng đề cương về cải cách hệ thống Ngân hàng với mục tiêu là biến hệ thống ngân hàng từ một cấp thành hai cấp. Chúng tôi vui vẻ nhận lời.

Nhóm Thứ Sáu và lần đầu gặp ông Sáu Dân
Trước hơn hai mươi quan chức, Nhóm Thứ Sáu quả quyết: "Việc ngăn sông cấm chợ đã làm lệch lạc hệ thống giá cả trong nền kinh tế; Việc cải cách tiền lương là đúng, nhưng những biện pháp không phù hợp tiếp theo đã triệt tiêu hiệu quả của cuộc cải cách tiền lương. Cuộc cải cách giá - lương - tiền có thể đã thành công nếu Nhà nước không đổi tiền".

Thăng trầm câu chuyện Giá - Lương - Tiền
"Nhóm Thứ Sáu" không những khẳng định những biện pháp cải cách tiền lương thời đó không phù hợp mà còn cho rằng tình trạng ngăn sông cấm chợ đã làm lệch lạc hệ thống giá cả. Họ còn kiến nghị chấm dứt tức khắc tình trạng ngăn sông cấm chợ mà trước tiên là bãi bỏ các trạm kiểm soát trên các truyến giao thông.

Nhóm Thứ Sáu: Gắn cuộc đời với thời vận dân tộc
Với Nhóm chuyên viên kinh tế Thứ Sáu, sự gắn bó như một duyên phận không cần một hợp đồng hay một hẹn ước. Tuy mỗi người có những cảnh ngộ trong cuộc đời khác nhau, nhưng đều có cùng tâm tư, đó là những băn khoăn trăn trở, lo âu cho vận mệnh và tương lai của dân tộc.
Nhóm Thứ Sáu: Vật vã với Giá - Lương - Tiền
Sau khi chính sách giá lương tiền được thực hiện, nền kinh tế lâm vào cảnh xáo trộn, giá cả tăng từng ngày, trong khi đó tiền mặt khan hiếm, chính quyền các cấp kêu gào kéo giá xuống. Thành uỷ đề nghị Nhóm nghiên cứu chuyên đề nghiên cứu biện pháp làm cách nào để kéo giá xuống.
Từ "ngủ dài cho đỡ đói" tới khu chế xuất đầu tiên của Việt Nam
Đầu thập niên 80, quá trình phát triển của Công ty Cholimex cũng như các công ty bạn là một bước đột phá vào cơ chế bao cấp: tạo ra những mầm tư duy mới về một nền kinh tế thị trường dưới sự lãnh đạo của thể chế xã hội chủ nghĩa.

Đường hòa nhập của những nhân sĩ chế độ cũ (kỳ 2)
Khi được khen viết bài xuất sắc, một thành viên trong Nhóm trả lời: "đừng khen tôi, chẳng qua tôi có nhu cầu phải viết thì viết, cũng giống như con gà mắc đẻ thì phải đẻ trứng vậy thôi. Đẻ ở đâu cũng không hay, đẻ rồi người ta mang đi để làm gì cũng không biết, họ luộc ăn hay đem đi ấp cũng chẳng quan tâm". Có lẽ đây cũng là suy nghĩ chung của các thành viên Nhóm Thứ Sáu.
Đường hòa nhập của những nhân sĩ chế độ cũ
Với những nghiên cứu thầm lặng, Nhóm trí thức này đã đóng góp tích cực vào quá trình đổi mới của thành phố. Họ để lại dấu ấn trong những đột phá về cải cách giá - lương - tiền, cải tổ ngành ngân hàng, đề xuất lập khu chế xuất Tân Thuận...

Dũng cảm, chân thành để hóa giải thù hận

Đoàn kiều bào do Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn dẫn đầu làm lễ tưởng niệm trong chuyến thăm Trường Sa năm 2012. Ảnh: Quê HươngĐoàn kiều bào do Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn dẫn đầu làm lễ tưởng niệm trong chuyến thăm Trường Sa năm 2012. Ảnh: Quê Hương

TP - “Khi tôi đến thắp nhang tại nghĩa trang Biên Hòa, có nhiều người lên án, đòi đưa tôi ra xử lý. Rằng, tại sao một thứ trưởng đương nhiệm, một quan chức cao cấp lại đến thắp hương tại nghĩa trang của quân đội Sài Gòn trước đây. Nhưng nhờ những hành động như vậy mà nhiều người Việt ở hải ngoại chịu gặp, tiếp xúc với tôi”, Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về Người Việt Nam ở Nước ngoài, chia sẻ với Tiền Phong nhân dịp 30/4/2014.
Thù oán kéo dài làm đất nước yếu đi
Đoàn công tác liên ngành sang Mỹ và Canada do Thứ trưởng dẫn đầu trong tháng 3 gặp một số người chống đối khét tiếng. Xin Thứ trưởng cho biết đoàn đã dùng biện pháp gì để thuyết phục họ?
Những người chúng tôi gặp là những người đứng đầu các phong trào chống Cộng, đặc biệt là ở bang Texas và quận Cam ở phía Nam bang California. Thuyết phục những đối tượng đó phải bằng tình cảm, đôi khi cần cả sự dũng cảm khi phải nói những điều rất thật với họ.
Họ nói thẳng với tôi rằng họ đã theo dõi quá trình hoạt động từ trước đến nay của tôi, thấy tôi là người có tấm lòng, có sự cởi mở chân thành nên họ mới đến gặp, để xem “sự chân thành của ông ra sao”.
Trong số những người đến gặp đoàn chúng tôi có cả Thượng nghị sĩ Canada gốc Việt Ngô Thanh Hải và nhiều người cầm đầu các phong trào cực đoan chống đối từ nhỏ đến lớn. Người trẻ tuổi nhất trong số họ cũng đã trên dưới 60, đều là những người đã trải qua cuộc chiến tranh trong nước, rồi đi ra nước ngoài đã gần 40 năm.
Họ cảm thấy những hoạt động chống đối không đem lại lợi ích gì nhưng họ vẫn chống đối vì cảm thấy không có bờ bến nào khác để neo đậu. Lâu nay chúng ta vẫn giữ quan điểm cứng rắn. Cả hai bên cứng rắn với một bên chống đến cùng còn một bên dứt khoát không bắt tay, không khoan hồng, không hòa giải nên cứ xa cách nhau mãi, tạo ra sự hận thù kéo dài giữa một bộ phận cộng đồng người Việt ở nước ngoài với trong nước. Đất nước chúng ta đã thống nhất về mặt địa lý, nhưng trong thực tế nơi này nơi kia lòng dân vẫn chia cắt.
Chia cắt của thế hệ những người trực tiếp tham gia chiến tranh ở hai chiến tuyến đối lập nhau còn dễ hiểu, nhưng không nên để những thế hệ sau này, những người không trải qua chiến tranh mà chỉ nghe cha ông mình nói lại rồi vẫn giữ hận thù. Mối thù oán mãi mãi sẽ làm đất nước yếu đi.
Cả hai bên từng cứng rắn, nhưng đã và đang bắt tay nhau. Chúng ta cần chính sách hòa hợp, hòa giải như thế nào, thưa ông?
Đế quốc Mỹ đã gây ra bao đau thương tang tóc cho nhân dân hai miền Nam Bắc. Thế mà đối với Mỹ chúng ta còn khép lại quá khứ, khép lại một trang sử rất đau thương để nhìn về tương lai hòa bình, ổn định và hợp tác. Vậy tại sao không tha thứ, hòa hợp với những người cùng một dân tộc, cùng một đất nước?
Có thời kỳ họ dựa vào đế quốc Mỹ và mong muốn Bắc tiến để thôn tính miền Bắc nhưng không làm được vì chính đồng minh của họ là người Mỹ cũng bỏ họ. Chúng ta phải chiến đấu giải phóng đất nước. Đó là cuộc chiến không mong muốn và chúng ta đã giành thắng lợi cuối cùng vào năm 1975.
Chúng ta đã thống nhất hai miền Nam Bắc. Những người miền Nam ra đi lúc đó là những người trong chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Họ ra đi vì họ không hiểu chế độ mới sẽ ra sao, họ nghe quá nhiều những điều tuyên truyền bậy bạ ghê gớm về chủ nghĩa Cộng sản. Họ vì lo sợ mà tự ra đi chứ không ai đuổi họ.
Vì thế hiện nay mới có cộng đồng người Việt Nam ở hải ngoại, riêng ở Mỹ có hơn 2 triệu người. Trong số đó, đại đa số là bà con yêu nước và đã về nước, còn lại rất ít những người vẫn nuôi tư tưởng hận thù từ năm 1975 đến giờ.
Bởi vì họ không muốn hiểu về thực tế đất nước và quá nặng với quá khứ. Họ không hiểu thực tế, không hiểu sự chính nghĩa của cuộc chiến tranh mà chúng ta đã giành thắng lợi. Cho nên họ mang nặng sự hằn thù cá nhân, cộng với sự bảo thủ, dẫn đến đối kháng với đất nước.
Chính sách hòa hợp, hòa giải cần bước đi cụ thể, cần tình cảm chân thành dành cho bà con cô bác, những người luôn mặc cảm rằng họ đã mất hết sau cuộc chiến, luôn mặc cảm rằng họ không có đất nước, Tổ quốc Việt Nam nữa bởi vì họ đã phải bỏ Tổ quốc ra đi.
Nếu chúng ta không chủ động hòa giải, không chìa tay, chủ động mở rộng vòng tay với tấm lòng nhân ái thì bà con cô bác vẫn mang tư tưởng mặc cảm, tự ti, đây đó có những người tủi thân vì nghĩ rằng họ bị bỏ rơi, nên càng đi vào con đường cực đoan, sẽ càng bảo thủ, cố chấp hơn nữa.
Thứ trưởng nói rằng, để thể hiện sự chân thành cũng cần lòng dũng cảm lớn. Xin ông nói rõ hơn về điều này?
Nếu chúng ta cũng tự ái, tự thỏa mãn với chiến thắng của mình mà không có những bước đi cởi mở thực sự để hòa giải, hòa hợp thì không bao giờ chữa lành được vết thương chiến tranh trong lòng họ. Sự hận thù, nuối tiếc quá khứ, suy nghĩ lệch lạc về chế độ đương đại ở Việt Nam đã khiến họ càng trở nên cực đoan, bảo thủ.
Một khi họ đã hiểu, đã thay đổi thì ai cũng muốn có cội nguồn, trong sâu thẳm của họ đều có hai chữ Việt Nam. Nhưng để họ trở về như thế nào để họ cảm thấy không tủi thân, không áy náy thì dứt khoát chúng ta phải đặt cho họ nền móng để cho họ trở về với danh dự, với tấm lòng yêu thương đất nước, trở về với mong muốn hòa giải, hòa hợp thực sự.
Nếu chúng ta áp đặt, khiên cưỡng, thì sẽ không khiến họ phục. Chúng ta đã làm được rất nhiều việc, như ở nghĩa trang Biên Hòa. Hiện nay rất nhiều người thiếu thông tin. Vừa rồi tôi phê phán ông Nguyễn Tấn Lạc, Chủ tịch của cái gọi là Hội Cộng đồng Việt-Mỹ Nam California.
Ông ta không hiểu nên vẫn nói rằng, chúng ta ngăn cấm, cản trở ở nghĩa trang Biên Hòa, nhưng thực tế nghĩa trang này đang trở nên ngày càng khang trang, đẹp đẽ nhờ chúng ta có chính sách cởi mở.
Tôi là một trong những người tiên phong. Khi tôi đến thắp nhang tại nghĩa trang Biên Hòa, đã có nhiều người lên án, đòi đưa tôi ra xử lý, rằng tại sao một thứ trưởng đương nhiệm, một quan chức cao cấp lại đến thắp hương tại nghĩa trang của quân đội chính quyền Sài Gòn trước đây. Nhưng nhờ những hành động như vậy mà nhiều người Việt ở hải ngoại chịu gặp, tiếp xúc với tôi.
Nếu chúng ta không dám làm những việc dũng cảm mà chỉ nói theo cứng nhắc thì trong nước cũng ít người nghe, chứ không nói đến bà con ở hải ngoại.
Quyết tâm bảo vệ chủ quyền biển đảo
Theo ông, còn những vấn đề gì mà cộng đồng người Việt ở nước ngoài nói chung, những người còn giữ tư tưởng hận thù nói riêng vẫn quan ngại?
Sức sống Trường Sa
Một trong những vấn đề bà con rất quan tâm, kể cả những người còn giữ tư tưởng hận thù, là quyết tâm bảo vệ chủ quyền biển đảo của chúng ta. Chính vì vậy, đã ba năm nay chúng tôi tổ chức ba đợt đưa kiều bào ra thăm Trường Sa. Năm nay, chúng tôi muốn có bước đi cụ thể để chứng minh cho bà con cô bác thấy rằng, chúng ta đang mong muốn hòa hợp, hòa giải thực sự. Chúng ta mong muốn đánh giá mọi vấn đề một cách khách quan, công bằng, nên chúng tôi đã quyết định lần này sẽ đưa bà con cô bác ra thăm Trường Sa, trong đó chúng tôi đã vận động một số người chống đối quyết liệt để họ ra Trường Sa tận mắt chứng kiến thực tế biển đảo chúng ta đang giữ được, thực tế hằng ngày đang diễn ra trên các hòn đảo thuộc chủ quyền của chúng ta, thực tế quyết tâm bảo vệ chủ quyền biển đảo đến cùng. Đó là sức mạnh của lực lượng vũ trang chúng ta, là tinh thần quả cảm, sẵn sàng hy sinh bảo vệ đất nước, biển đảo của Tổ quốc.
Chúng ta muốn chứng minh cho hơn 4,5 triệu kiều bào rằng, chúng ta đang làm thay họ với niềm tin, quyết tâm chắc chắn là không bao giờ để mất chủ quyền biển đảo. Chúng ta không dâng biển bán đất cho ai, mà chỉ đòi lại những thứ đã bị chiếm giữ trái phép bằng biện pháp hòa bình.
Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn. Ảnh: Trúc Quỳnh
Nếu chúng ta cũng tự ái, tự thỏa mãn với chiến thắng của mình mà không có những bước đi cởi mở thực sự để hòa giải, hòa hợp thì không bao giờ chữa lành được vết thương chiến tranh trong lòng họ”.
Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn
Trong chuyến đi Trường Sa lần này, chúng tôi cũng sẽ có một bước đi rất mạnh dạn là sẽ tổ chức một lễ cầu siêu tại đảo Trường Sa lớn cho những anh hùng liệt sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đã hy sinh bảo vệ chủ quyền biển đảo, cũng như những sĩ quan, binh lính quân lực Việt Nam Cộng hòa đã ngã xuống để bảo vệ Hoàng Sa năm 1974. Họ cũng là con dân Việt sẵn sàng hy sinh tính mạng để bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc mà tổ tiên để lại từ lâu đời. Chúng ta phải vinh danh, cầu siêu để họ được siêu thoát. Họ cũng như những anh em của chúng ta đã hy sinh ở đảo Gạc Ma năm 1988.
Tôi cho rằng, đó đều là những sự hy sinh rất xứng đáng vì toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải của Tổ quốc. Xương thịt họ đã hòa vào biển, trở thành một phần của lãnh thổ, biển đảo của Tổ quốc.
Chúng ta mang hơi ấm đất liền, mang tình thương của dân tộc để sưởi ấm cả vùng biển đảo Tổ quốc, sưởi ấm cho linh hồn của họ để linh hồn họ được siêu thoát. Chúng ta cầu siêu theo nghi lễ dân tộc, theo tôn giáo từng là quốc giáo của nhiều triều đại.
Lễ cầu siêu lần này còn hướng tới cả đồng bào bị nạn trên biển mà ta từng gọi là thuyền nhân, có thể nói là một dịp chưa từng có. Xin Thứ trưởng cho biết tại sao?
Lễ cầu siêu lần này còn cầu siêu cho cả những anh em, bà con cô bác đã ra đi trong những năm 70, 80 và đầu 90 thế kỷ trước mà chúng ta vẫn quen gọi là “thuyền nhân”. Họ ra đi vì không hiểu chế độ, vì hoàn cảnh khó khăn, vì hoảng loạn tinh thần. Đã có thời kỳ chúng ta coi việc ra đi đó là việc có tội với đất nước. Nhưng thực tế chúng ta phải đánh giá thấu đáo việc họ ra đi. Hầu hết họ ra đi không phải vì hận thù đất nước, mà vì cuộc sống quá khó khăn.
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và phu nhân với các kiều bào tại chùa Trấn Quốc dịp Tết Ông Công, Ông Táo xuân Giáp Ngọ 2014 (ngày 23/1/2014). Ảnh: TTXVN
Thực tế là đa số bà con ra đi được gọi là “thuyền nhân” và đã thành đạt đều hướng về đất nước. Hầu hết những người ra đi mà chúng tôi gặp ở Canada, Mỹ, Anh, Úc, Bỉ… đều là những người sẵn sàng trở về xây dựng đất nước. Họ không có khái niệm hận thù vì lúc ra đi, họ chỉ muốn thoát khỏi hoàn cảnh khó khăn.Tư duy của chúng ta với những người đó bây giờ đã khác. Chúng ta thông cảm, thương họ, đồng cảm với những khó khăn của họ khi phải bươn chải, đương đầu với sóng gió, khắc nghiệt của thiên nhiên, gặp hải tặc, rất nhiều trục trặc trên đường đi khiến nhiều người bỏ mạng, mất cả gia đình.
Đề xuất bỏ những từ ngữ không thích hợp
Đảng và Nhà nước đã xác định cộng đồng người Việt ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời của dân tộc, bất kể trước đây họ ra đi vì lý do gì. Vậy đã gần 40 năm sau ngày thống nhất đất nước, những từ ngữ mang tính phân biệt như “ngụy quân, ngụy quyền” có nên được tiếp tục sử dụng trong sách giáo khoa, tài liệu chính thống?
Theo cá nhân tôi thì nên bỏ. Tư duy của chúng ta hiện nay đã khác những năm 70. Việt Nam muốn làm bạn với tất cả thế giới, với các quốc gia khác mà không phân biệt, kỳ thị, huống chi với những người trong cùng dân tộc, một đất nước. Chúng ta đã là những người chủ đất nước với đầy đủ tư cách, chúng ta nhìn nhận quá khứ đúng theo truyền thống của tổ tiên ông bà chúng ta, là bằng đại nghĩa, trí nhân.
Theo tôi, thay vì những từ ngữ như “bè lũ phản động”, chúng ta nên gọi là họ những người còn có tư tưởng đi ngược lại với lợi ích đất nước hoặc chưa hiểu hết tình hình đất nước; thay vì gọi họ là “ngụy quân, ngụy quyền” chúng ta nên gọi là “những người dưới chế độ cũ” theo đúng bản chất. Chúng ta không nên đẩy họ ra xa mà nên kéo họ lại gần.
Nếu chúng ta vẫn gọi họ là “bè lũ phản động”, “ngụy quân, ngụy quyền” thì hố ngăn cách sẽ mãi tồn tại, vết thương mãi mãi rỉ máu. Tôi mong muốn tới đây, ngành giáo dục Việt Nam sẽ xem xét, biên soạn lại bộ sách giáo khoa để bỏ những ngôn từ không thích hợp, gây chia rẽ lâu dài, để không còn tư tưởng hận thù chiến tranh trong thế hệ trẻ sau này.
Cảm ơn ông.
Lần này chúng ta mời cả một số người có tư tưởng hận thù, chống đối gay gắt ra thăm Trường Sa. Có phải họ đã tâm phục khẩu phục?
Một trong những thành công của chuyến đi của chúng tôi vừa qua là thuyết phục bằng tình cảm chân thành, bằng bước đi cụ thể cả trong nước và nước ngoài để một số người trở về nhằm kiểm nghiệm một thực tế là chúng ta đang bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.
Trong chuyến đi lần này, chúng tôi còn mời cả hai phu nhân của Hạm trưởng tàu Nhật Tảo, Trung tá Ngụy Văn Thà (người đã chỉ huy chiến hạm Nhật Tảo bảo vệ Hoàng Sa) và Hạm phó Nguyễn Thành Trí, hai người đã hy sinh ở Hoàng Sa. Chúng tôi mời họ về để họ thắp nén nhang tưởng niệm những người thân, người chồng yêu quý của họ đã ngã xuống để bảo vệ Hoàng Sa đến cùng.
Họ có quyền tự hào về những chiến công, thành tích của người thân của mình. Họ cũng sẽ tận mắt chứng kiến tình cảm chân thành, bước đi cụ thể mà chúng tôi đang tiến hành để dẫn tới đích cuối cùng là xóa bỏ hận thù, hòa hợp hòa giải dân tộc, chứ không phải bằng hành động giả tạo hay giáo điều.
Trong đoàn về lần này còn có Thiếu úy Thủy quân lục chiến Nguyễn Ngọc Lập đang ở quận Cam - thủ phủ của những người chống Cộng. Qua ba lần gặp gỡ, tôi đã thuyết phục ông Lập trở về để tận mắt chứng kiến sự đổi thay của đất nước, tận mắt chứng kiến những việc chúng ta đang làm để bảo vệ chủ quyền biển đảo của đất nước, trực tiếp cảm nhận tình cảm của nhân dân trong nước sau 39 năm xa cách.
Ông Lập từng là người luôn dẫn đầu trong các phong trào chống Cộng, nhưng cũng là người yêu nước và rất hiểu biết, nên qua những lần tiếp xúc với chúng tôi, nhìn nhận đánh giá những việc chúng tôi đang làm, ông ấy thấy rằng, chúng ta đang làm những việc đúng. Ông ấy đã thấy ân hận, áy náy vì trong thời gian qua đã tham gia vào quá nhiều phong trào chống Cộng cực đoan.
Tôi cho rằng, ông Lập trở về lần này với tư tưởng thoải mái, cởi mở và đặt hy vọng vào thành công của chính sách đại đoàn kết dân tộc của chúng ta. Ngoài ra, còn có một số nhà báo hoạt động trong các tổ chức chống Cộng, thủ lĩnh của một tổ chức chống Cộng rất mạnh như ông Đức “