Trang blog này nhằm lưu lại những bài viết của chính tác giả hoặc của những tác giả khác đã viết và công bố trên các ấn phẩm chính thức, trên phương tiện truyền thông đại chúng, và trên mạng Internet, về những vấn đề Kinh Tế, Văn hoá, Xã hội, Y tế & Giáo dục đang cần tìm hiểu...lúc tuổi già.
Không biết nói gì hơn, ngoài lời được xin phép và trân trọng cám ơn các bạn có bài đăng lại trên Blog này.
Bằng những nỗ lực khám phá không mệt mỏi từ các kho lưu trữ không chỉ ở Hà Nội, TP.HCM mà cả những tài liệu gốc ở Paris, Aix-en-provence (Pháp), nhà nghiên cứu Bùi Thị Hà đã 'giải mã' nhiều góc khuất về lịch sử y tế phương Tây ở Việt Nam cận hiện đại, trong tác phẩm mới xuất bản 'Y tế phương Tây ở Bắc kỳ (1973 – 1945)'.
Kỷ niệm 69 năm Ngày thầy thuốc Việt Nam (27.2.1955 – 27.2.2024), NXB Tổng hợp TP.HCM vừa cho ra mắt cuốn sách Y tế phương Tây ở Bắc kỳ (1973 – 1945) của tác giả Bùi Thị Hà, giới thiệu đến độc giả quá trình du nhập của y tế phương Tây ở Bắc kỳ (Việt Nam) và định hình về lĩnh vực y tế Việt Nam cho đến sau này.
Y tế phương Tây ở Bắc kỳ (1973 – 1945) do NXB Tổng hợp TP.HCM ấn hành
Nhà nghiên cứu Bùi Thị Hà
NVCC
Theo nhà nghiên cứu Bùi Thị Hà: "Khi làm luận án Y tế phương Tây ở Bắc kỳ từ năm 1873 đến năm 1945, tôi phát hiện ra rất ít công trình nghiên cứu về chủ đề này. Có lẽ nào do khó tư liệu hay lý do gì khác? Càng lao vào tìm hiểu tôi càng bị "mê hoặc" và đề tài nó chọn tôi lúc nào không hay. Hóa ra đề tài y tế phương Tây ở Việt Nam nói riêng là rất mới, rất rộng, rất phong phú dưới góc độ sử học".
Peder B. Helland - Hope
00:00
01:05 / 07:36
Copy video url
Play / Pause
Mute / Unmute
Report a problem
Language
Share
Vidverto Player
QUẢNG CÁO
Tác giả bộc bạch: "Chọn đề tài y tế phương Tây vào Bắc kỳ vì tôi sinh thành ở miền Bắc, phải hiểu trước hết chỗ mình đang sống, đang cống hiến. Làm sử nên hay chọn thời gian từ khởi đầu y tế phương Tây vào Bắc kỳ (cuối thế kỷ 19) đến trước khi chấm dứt thời thuộc địa (1945). Y tế phương Tây vào Nam kỳ sớm hơn và phức tạp hơn, vậy nên chọn dễ làm trước, khó làm sau - nghiên cứu y tế Bắc kỳ trước, làm cơ sở để nghiên cứu y tế Nam kỳ và cả nước. Vả lại nghiên cứu y tế không chỉ là nghiên cứu một lĩnh vực quan trọng bậc nhất về sức khỏe con người, mà còn là nghiên cứu một trong những lĩnh vực thú vị của cuộc "Tiếp xúc Đông -Tây" ở Việt Nam về văn hóa, khoa học, kỹ thuật... từ thời trung - cận đại cho đến nay".
Nhiều sự thật lịch sử về y tế phương Tây ở Bắc kỳ từ năm 1873 - 1945
Rõ ràng dưới góc độ khoa học, việc tìm hiểu về chủ đề y tế phương Tây ở Bắc Kỳ thời kỳ 1873 - 1945 có ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu lịch sử Bắc Kỳ, lịch sử y tế ở Việt Nam thời cận đại. Vì nhờ có sách, độc giả sẽ hiểu được quá trình hình thành, hoạt động của y tế phương Tây ở Bắc kỳ từ năm 1873 - 1945, và có được những nhận thức rõ ràng hơn, đúng đắn hơn về lịch sử Bắc kỳ thời kỳ này. Đó là các vấn đề xâm chiếm và cai trị thuộc địa của thực dân Pháp, về tình trạng sức khỏe, vệ sinh, y tế và việc tiếp nhận những yếu tố mới trong đời sốngdân sinh của người Việt ở Bắc kỳ lúc bấy giờ.
Kể cả khi y tế phương Tây đã hiện hữu trong đời sống của người Việt thì tâm lý ưa chuộng y học cổ truyền vẫn phổ biến. Mặc dù thừa nhận những tiến bộ của y tế phương Tây, nhiều người bản địa vẫn duy trì sử dụng y học cổ truyền và tiến tới liệu pháp Đông - Tây y kết hợp. Bên cạnh y học cổ truyền, một phương pháp kết hợp Đông - Tây y đã ra đời và phát triển trong đời sống của người Việt kể từ đó trở về sau.
Vì vậy, Y tế phương Tây ở Bắc Kỳ (1973 – 1945) thực sự là công trình rất có giá trị về lịch sử y tế phương Tây, từ những tư liệu gốc, quý được lưu trữ bằng tiếng Pháp khai thác ở các trung tâm lưu trữ ở Việt Nam và Pháp - đó cũng là cách để tài liệu nói lên sự thật lịch sử.
Điện Kính Thiên ở Hà Nội xưa
Charles-Édouard Hocquard
Y tế phương Tây ở Bắc kỳ (1973 – 1945) của tác giả Bùi Thị Hà thực sự là công trình rất có giá trị về lịch sử y tế
NXB
Tác giả cũng mong muốn phác họa một bức tranh tổng thể về quá trình hình thành và hoạt động của nền y tế phương Tây ở Bắc kỳ trong suốt thời kỳ y tế gắn liền với bước chân quân xâm lược Pháp ở Việt Nam thời cận đại. Tác phẩm mới cho thấy, sự ra đời của nền y tế mới ở xứ Bắc có một cấu trúc đặc biệt, gồm các bộ phận: các cơ quan quản lý, cơ sở đào tạo y khoa, cơ sở khám chữa bệnh, cơ sở phòng dịch và nghiên cứu y học.
Tính thực tiễn cuốn sách Y tế phương Tây ở Bắc kỳ (1973 – 1945) của tác giả Bùi Thị Hà còn là sự tác động của nền y tế mới của phương Tây đối với đời sống dân sinh ở Bắc kỳ lúc bấy giờ, trên cả hai phương diện tích cực và hạn chế, từ đó có thể liên hệ với thực tiễn hoạt động y tế và chăm sóc sức khỏe ở Việt Nam, nhất là trong thời gian đại dịch vừa qua.
Tác giả: TS. Bùi Thị Hà hiện làm việc tại Viện Sử học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. Hướng nghiên cứu chính: lịch sử y tế phương Tây ở Bắc kỳ thời cận đại, lịch sử thủy nông Việt Nam thời cận đại.Tác giả từng được trao giải nhất Giải thưởng Sử học Phạm Thận Duật năm 2020 với luận án tiến sĩ xuất sắc Y tế phương Tây ở Bắc kỳ từ năm 1873 đến năm 1945.
Hay ghê. Nguồn đoạn phim này ở đâu nhỉ? Nhưng vào năm 1816, bác sĩ người Pháp Rene Laennec phát minh ra ống nghe đầu tiên, ông đã cuốn một ống giấy dài để nghe tiếng tim, một đầu đặt vào ngực bệnh nhân, còn đầu kia áp vào tai của mình. Có rất nhiều câu chuyện về phát minh của Laennec, song rõ ràng ngay từ đầu, âm thanh từ ống giấy đã cải thiện một cách đáng kể khả năng thính chẩn của Laennec trong quy trình nghe và khám tim, phổi. Laennec đặt tên “ống nghe” bằng cách ghép hai từ trong tiếng Hy Lạp: 'sthethos' (ngực) và 'skopein' (xem hoặc nhìn thấy). Ông cũng đặt tên cho phương pháp sử dụng ống nghe là “thính chẩn” có gốc là “auscultare” (lắng nghe).
Hai mươi lăm năm sau, George P. Camman đến từ New York đã phát triển chiếc ống nghe đầu tiên với một miếng đệm tai cho mỗi bên tai. Và mẫu thiết kế này được sử dụng đến hơn 100 năm sau với một vài sửa đổi..
Sao trong phim này bảo là 1913, BS quân y vẫn nghe trực tiếp nhỉ?
Bệnh viện Bình Dân (TP.HCM) là chiếc nôi của ngành ngoại khoa phía Nam, in đậm dấu ấn của những bậc thầy lỗi lạc như GS Phạm Biểu Tâm, GS Ngô Gia Hy, GS Hoàng Tiến Bảo, là thế hệ GS Văn Tần, GS Võ Thành Phụng, GS Lê Quang Nghĩa, GS Nguyễn Chấn Hùng và rất nhiều tên tuổi khác.
Từ nơi này, những cánh chim đầu đàn tiếp tục gây dựng nên các trung tâm chuyên khoa ở TP.HCM về chấn thương chỉnh hình, chỉnh trực nhi hay ung bướu…
Ở tuổi 75 với mái tóc trắng như cước, trong ký ức của Giáo sư Lê Quang Nghĩa (cố vấn, nguyên Phó giám đốc Bệnh viện Bình Dân), thời gian được theo chân những người thầy đáng kính ở nơi này là mảnh ký ức rực rỡ mà ông chưa bao giờ quên.
Giáo sư Lê Quang Nghĩa là vị thầy thuốc đầu ngành về phẫu thuật tiêu hoá, đặc biệt chuyên sâu về phẫu thuật ung thư thực quản. Ông bắt đầu sự nghiệp cứu người và giảng dạy ở Bệnh viện Bình Dân vào năm 1974. Đây cũng là bệnh viện duy nhất ông gắn bó, gần trọn đời người.
“Khi hơn 10 tuổi, tôi bị đau bệnh. Mẹ đưa tôi đến một phòng khám ở Mỹ Tho (Tiền Giang) của vị bác sĩ rất giỏi, từng tu nghiệp ở Pháp về. Người khám bệnh rất đông. Có lẽ, nhiều việc quá nên ông bác sĩ cau có. Tôi ấn tượng không hay và chợt nghĩ, tại sao mình không làm bác sĩ để bệnh nhân tránh được cái cáu bẳn đó”, GS Nghĩa kể.
Nhiều năm sau, ý nghĩ thoáng qua đã trở thành hiện thực. Người học trò Lê Quang Nghĩa theo chân anh trai thi vào Trường y khoa Sài Gòn (Đại học Y Dược TP.HCM ngày nay). Đậu bác sĩ nội trú, ông chọn chuyên ngành ngoại khoa và được phân về Bệnh viện Bình Dân.
Bắt đầu từ đây là những tháng năm ông đi theo 2 người thầy có ảnh hưởng sâu sắc về tinh thần khoa học, sự đức độ và chuẩn mực: Giáo sư Hoàng Tiến Bảo và Giáo sư Phạm Biểu Tâm.
“Tôi theo thầy Hoàng Tiến Bảo 6 tháng, học chấn thương chỉnh hình. Thầy đã chỉ dạy cho tôi một tinh thần nghiên cứu khoa học", GS Nghĩa chia sẻ.
Có giai đoạn, cứ chiều thứ 6 hàng tuần, người ta thấy bác sĩ nội trú Lê Quang Nghĩa đều đặn có mặt tại nhà GS Bảo sau giờ hành chính. Hoá ra, GS Bảo yêu cầu anh đến trình bày những gì đã tìm hiểu được cũng như tiến độ thực hiện luận văn. Những nội dung đã viết đều được đánh máy lại chỉn chu.
Một buổi giao ban sau năm 1975 tại giảng đường lớn của Bệnh viện Bình Dân, có mặt GS Tôn Thất Tùng, GS Phạm Biểu Tâm, GS Ngô Gia Hy. Ảnh tư liệu.
Để hiểu thấu một vấn đề y khoa, GS Bảo nhắc nhở bác sĩ Nghĩa hãy nhận nội dung đó mà giảng dạy. Bởi lẽ, muốn giảng được cho sinh viên, anh phải nghiên cứu tới nơi tới chốn.
Nghe lời thầy, bác sĩ Nghĩa thường miệt mài dịch các bài giảng từ tài liệu tiếng Pháp, tiếng Anh. Thời đó chưa có Internet, tài liệu y khoa rất quý và hiếm. Có quyển sách khoảng 700-800 trang, bác sĩ Nghĩa vẫn say mê đọc và dịch ra tiếng Việt, rồi lại cất công đánh máy thành 7-8 bản.
Để những bài giảng thêm sinh động, người bác sĩ này lại đi chợ trời tìm các máy chiếu cũ với bóng đèn chiếu 1.000W, chế thêm quạt làm mát máy. Màn hình là vách tường quét vôi trắng. Thậm chí, ông còn mua máy chụp hình hiệu Praktica của Tiệp Khắc, tập chụp ảnh rồi rửa phim để làm slide trình chiếu.
“Nhờ đọc tài liệu, dịch và làm slide giảng dạy, tôi ngày càng vững chắc về ngoại khoa và cấp cứu ngoại. Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn giữ thói quen đọc và viết. Càng viết, tôi càng thấy kiến thức y học thật là vô bờ bến và lời của Giáo sư Hoàng Tiến Bảo thật chính xác, đáng quý”, GS Nghĩa nói.
Trong hồi ức của vị giáo sư già, người thầy Phạm Biểu Tâm lại gắn liền với sự trầm tĩnh, kiệm lời nhưng vô cùng sâu sắc. Tài năng và đức độ của GS Phạm Biểu Tâm là mẫu mực để những học trò như GS Văn Tần, Lê Quang Nghĩa kế thừa, cứu chữa người bệnh với sự tận tuỵ.
Có một câu chuyện thú vị mà người học trò Lê Quang Nghĩa còn nhớ mãi về người thầy. Khoảng sau năm 1975, GS Phạm Biểu Tâm có lần phải đưa ra quyết định kỷ luật với một bác sĩ phạm lỗi chuyên môn nghiêm trọng. Hình thức kỷ luật là “treo dao” 3 tháng (nghĩa là không được phép phẫu thuật).
Không hiểu sao mới được 1 tháng, người bác sĩ này lại vào Bệnh viện Bình Dân và gặp GS Tâm. Bác sĩ cúi đầu chào “Thưa thầy”. Giáo sư Tâm nói ngắn gọn: “Anh không phải học trò của tôi”, rồi bước đi.
Khi thời gian 3 tháng kết thúc, bác sĩ này gặp thầy và cúi đầu chào. Lúc này, GS Phạm Biểu Tâm gật đầu đồng ý.
“Treo dao không phải vì thầy ghét bỏ gì mình mà để thời gian cho tỉnh táo, sửa đổi lỗi sai”, GS Nghĩa giải thích. Đó là sự nghiêm khắc rất cần thiết bởi nghề y liên quan đến tính mạng người bệnh.
Các học trò của GS Phạm Biểu Tâm thăm thầy cô tại nhà riêng. Ảnh tư liệu.
Khoảng năm 1979, Bệnh viện Bình Dân từng được cấp trên đề nghị ngưng phẫu thuật ung thư thực quản. Lý do là tỷ lệ tử vong sau mổ rất cao. Nghe tin, bác sĩ Lê Quang Nghĩa đã lên thưa chuyện với GS Phạm Biểu Tâm.
Ông xin GS Tâm cho tiếp tục mổ thực quản trong một năm, nếu không mổ, người bệnh sẽ tử vong rất nhanh vì ung thư thực quản là bệnh khó. Nếu phẫu thuật mà vẫn không thể cứu sống người bệnh thì bệnh viện hãy chấp nhận ngưng triển khai.
Do ung thư thực quản thường di căn “nhảy cóc” nên khi phẫu thuật, phải cắt bỏ toàn bộ thực quản của bệnh nhân. Muốn tiếp cận toàn bộ thực quản phải mổ 3 đường: ngực phải, bụng, cổ trái. Thành ra, cơ thể người bệnh (hầu hết trên 60 tuổi) bị ảnh hưởng rất nặng nề.
Ca đại phẫu này tốn rất nhiều thuốc gây mê (chủ yếu là ê-te), thời gian mổ kéo dài, hao tốn nhân lực và thuốc men. Vì không ăn uống được, bệnh nhân sẽ sút cân từ 200g đến 450g mỗi ngày. Vấn đề dinh dưỡng thời điểm này rất kém nên sự chuẩn bị cho bệnh nhân trước mổ không tốt. Suy kiệt và tử vong sau mổ là kết cục khó tránh khỏi.
“Ngay khi thầy Tâm đồng ý cho thêm một năm, chúng tôi chuẩn bị rất kỹ lưỡng trước mỗi ca mổ. Người bệnh bị suy dinh dưỡng thì phải truyền albumin nâng đỡ thể trạng, chỉnh lại rối loạn nước điện giải, chỉnh lại nhiễm trùng phổi, đầu tư hơn cho người bệnh. Kết quả là tỷ lệ sống tăng lên 50%. Sau đó, không còn ai nhắc đến chuyện phải ngưng mổ thực quản nữa”, GS Nghĩa mỉm cười kể lại.
Bác sĩ nhiều nơi biết chuyện nên thường xuyên giới thiệu bệnh nhân ung thư thực quản về Bệnh viện Bình Dân. Kỹ thuật gây mê cũng ngày càng tốt hơn, kết quả phẫu thuật ngày càng khả quan. GS Nghĩa trở thành chuyên gia hàng đầu về phẫu thuật thực quản.
Năm 1996, ông từng báo cáo một công trình nghiên cứu với 194 ca mổ thực quản (mổ mở). Năm 2000, tại hội nghị ngoại khoa toàn quốc, GS Nghĩa là báo cáo viên duy nhất về đề tài phẫu thuật ung thư thực quản. Lớp đàn em sau đó đã tiếp nối ông mổ thực quản với kỹ thuật nội soi, mang lại kết quả điều trị và chất lượng sống tốt hơn cho người bệnh.
Một ca phẫu thuật tại Bệnh viện Bình Dân của Giáo sư Văn Tần - một học trò của GS Phạm Biểu Tâm. Ảnh tư liệu.
Suốt tháng năm say mê cống hiến bên những người thầy, người anh đáng kính, GS Nghĩa dành một góc trân trọng cho “Đêm thứ 5” truyền thống. Với ông, đó là mảnh ký ức đẹp nhất.
"Đêm thứ 5" là buổi tối mà mọi sinh viên y khoa đều háo hức chờ đợi. Hoạt động này cũng giống như ở các bệnh viện ở Pháp. Trưởng ban tổ chức do các cựu bác sĩ nội trú đảm nhiệm, khởi đầu là bác sĩ Võ Thành Phụng, đến bác sĩ Nguyễn Văn Hiệp, rồi tiếp tục là bác sĩ Lê Quang Nghĩa (khi đó là giảng viên bộ môn Ngoại, cựu bác sĩ nội trú).
Mỗi tối thứ 5, từ 19h30 đến 21h, hàng trăm sinh viên y khoa sẽ lấp đầy giảng đường A của Bệnh viện Bình Dân. Một bác sĩ trình bày đề tài với phương tiện chủ yếu là máy Over-head (một loại máy chiếu cũ). Các thầy lớn, chuyên gia từ Đại học Y Dược TP.HCM sẽ tham gia bàn luận. Sinh viên được đặt câu hỏi tự do, tranh luận rất sôi nổi.
Bác sĩ Lê Quang Nghĩa bấy giờ vừa thuộc ban tổ chức, vừa là người dẫn chương trình. Kết thúc buổi sinh hoạt, ông lại cùng nhóm cộng tác sang quán mì chú Cao để ăn khuya. Trở về nhà, đồng hồ cũng đã chuyển sang gần 23h.
“Phần đông các bác sĩ và điều dưỡng trong nhóm này đều đã về hưu. Chú Cao cũng đã mất, con cháu ông ấy vẫn tiếp tục bán mì đến đời thứ 3 rồi. Đêm thứ năm là kỷ niệm đẹp nhất với tôi về Bệnh viện Bình Dân”, GS Nghĩa xúc động kể.
Giáo sư Lê Quang Nghĩa (trái) và Giáo sư Văn Tần đều từng đảm nhận vai trò Phó giám đốc và cố vấn Bệnh viện Bình Dân.
Theo GS Nghĩa, điều đáng trân trọng là chương trình sinh hoạt này vẫn được duy trì như sợi chỉ xuyên suốt các thế hệ thầy thuốc, dù bằng một hình thức khác. Đó là buổi sinh hoạt chuyên môn nơi các bác sĩ trình bày những ca hay, cứu thành công người bệnh, bình bệnh án cho bác sĩ nội trú, phân tích những sai sót chuyên môn với một ca cụ thể, mục tiêu để các bác sĩ Bệnh viện Bình Dân hoàn thiện mình.
Đến nay, khi mái tóc đã trắng như cước, GS Nghĩa vẫn miệt mài truyền lửa cho thế hệ sau với lịch trình làm việc mỗi ngày ở viện và ở trường. Trong lời chỉ bảo của GS Nghĩa với đàn em, vẫn hiện lên hình ảnh những người thầy lỗi lạc đã dìu dắt ông từ những ngày đầu.