Thứ Tư, 7 tháng 2, 2024

Cung điện nguy nga ở Huế sắp đón khách dịp Tết Giáp Thìn sau 72 năm phế tích

 

CÔNG TRÌNH BỊ PHẾ TÍCH 72 NĂM Ở HUẾ TRƯỚC NGÀY ĐÓN KHÁCH THAM QUAN

Điện Kiến Trung là một cung điện của nhà Nguyễn trong Tử Cấm thành được vua Khải Định cho xây vào năm 1921, hoàn thành vào năm 1923, là nơi sinh hoạt của vua trong hoàng cung. 

Đây là công trình đặc biệt quan trọng trong hệ thống kiến trúc các cung điện của triều Nguyễn. Tầng chính của công trình có 13 cửa hiên (gian giữa 5 cửa, hai gian bên mỗi gian 3 cửa, hai góc điện mỗi bên 2 cửa nữa làm nhô ra); tầng trên là gác, làm cùng một thể thức như tầng chính.

Điện đã ở dạng phế tích suốt 72 năm cho đến khi có dự án phục dựng, trùng tu. Công trình được khởi công từ năm 2019, nay đã gần như hoàn thiện.

Công trình được thực hiện trên diện tích hơn 3.800m2. Các đơn vị thi công đã giữ nguyên cấu trúc nền móng hiện còn, hạn chế can thiệp yếu tố gốc của di tích. 

Dự án gồm các hạng mục gia cố, phục hồi tường bao, hệ thống lan can, sân khuôn viên gồm tiền viên và hậu viên, các bậc cấp; tu bổ phục hồi lầu Kiến Trung (Kiến Trung Lâu) 2 tầng, chiều cao khoảng 14m, diện tích xây dựng khoảng 975m2. 

Ngoài ra, dự án còn tu bổ các công trình nhỏ xung quanh như: Đài phun nước, súng thần công, nhà canh, hệ thống cây xanh, bảo tồn nền móng Đông Cung Lâu, Ngự Thư Phòng, Võ Hộ Giá Phòng và Ngự Phê Phòng...

Dưới thời vua Bảo Đại, điện là nơi ăn, ở chung của cả gia đình nhà vua. Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 29/8/1945, điện Kiến Trung là nơi vua Bảo Đại tiếp xúc với Phái đoàn Chính phủ lâm thời để chính thức họp bàn thoái vị, trao lại quyền điều hành đất nước cho Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. 

Theo các chuyên gia, ngoài những giá trị lịch sử, điện Kiến Trung còn mang những giá trị to lớn về kiến trúc và mỹ thuật khi có đầy đủ những đặc điểm của một công trình phong cách Đông Dương với sự kết hợp giữa Á - Âu gồm kiến trúc Pháp, kiến trúc phục hưng của Ý pha trộn kiến trúc truyền thống Việt Nam.

Nói chi tiết về điện Kiến Trung thì đây vốn là một công trình quan trọng trong hệ thống kiến trúc cung đình thời Nguyễn đầu thế kỷ XX. Năm xưa tại vị trí này vua Minh Mạng cho xây tòa lầu Minh Viễn 3 tầng (vào năm 1827), được bình chọn là “Thần Kinh đệ nhất cảnh”.

Năm 1876, do bị xuống cấp nặng nề, vua Tự Đức cho triệt giải công trình. Năm 1913, vua Duy Tân cho dựng một công trình theo phong cách mới, gọi là lầu Du Cửu. Sau khi vua Khải Định lên ngôi đổi tên thành lầu Kiến Trung.

Nhưng trong giai đoạn 1921-1923, lầu/điện Kiến Trung được xây dựng lại hoàn toàn theo phong cách tân cổ điển, một công trình có quy mô lớn và mang phong cách đặc trưng thời Khải Định với kiểu trang trí hết sức cầu kỳ, tỉ mỉ, đặc biệt là lối trang trí bằng đắp mảnh sành sứ trên nền vôi vữa. 

Thời Bảo Đại, công trình có được sửa chữa bổ sung thêm. Tuy nhiên, sau 24 năm tồn tại ngắn ngủi, điện Kiến Trung gần như bị phá hủy hoàn toàn vào tháng 2/1947.

Đến giữa tháng 2/2019, sau gần 5 năm nghiên cứu và chuẩn bị hồ sơ dự án và các thủ tục liên quan, Lễ khởi công trùng tu phục hồi điện Kiến Trung trong Tử Cấm Thành Huế mới được tổ chức.

5 năm qua, dự án trùng tu phục hồi điện Kiến Trung đã được vận hành qua 3 đời giám đốc Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế và cũng trải qua không ít khó khăn do đại dịch Covid-19, do các khó khăn về vốn, thủ tục và cả những vấn đề về chuyên môn.

Toàn dự án này có tổng mức kinh phí đầu tư hơn 123 tỷ đồng, được huy động từ nguồn vốn Chương trình Mục tiêu Phát triển văn hóa và các nguồn huy động hợp pháp khác.

Điện Kiến Trung đã được phục dựng gần như nguyên vẹn và sẽ mở cửa phục vụ khách tham quan vào dịp Tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024.

ẢNH: KHÁNH ĐĂNG

Chủ Nhật, 4 tháng 2, 2024

Thương nhớ thời bao cấp - sách tranh của Thành Phong và Hữu Khoa

 VŨ VIẾT TUÂN thực hiện

TTO - Hai hoạ sĩ nổi tiếng Việt Nam là Thành Phong và Hữu Khoa vừa cho ra mắt độc giả cuốn sách tranh Thương nhớ thời bao cấp.

Thương nhớ thời bao cấp - sách tranh của Thành Phong và Hữu Khoa - Ảnh 1.

Hoạ sĩ Thành Phong và cuốn sách tranh tập hợp những câu nói nổi tiếng thời bao cấp - Ảnh: V.V.TUÂN

Nhìn lại một thời nhiều gian khó và vất vả theo cách đơn giản và vui vẻ như thế này quả thật là đặc sắc. Thật thông minh khi chọn cách thông qua những biếm họa và thơ trào phúng để biến quá khứ thành lịch sử

Tiến sĩ Trần Đình Thiên - viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, thành viên tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng

Chia sẻ với Tuổi Trẻ Online khi sách vừa phát hành, Thành Phong nói:

- Năm 2012, ngay sau khi Sát thủ đầu mưng mủ ra mắt, chúng tôi đã tiến hành dự án này do được đặt hàng. Điểm khác biệt của cuốn sách là ngoài giải trí còn có yếu tố văn hóa, lịch sử.

Vậy nên chúng tôi rất thích khi làm cuốn sách này, bởi học được nhiều điều, làm giàu thêm cho vốn kiến thức của mình trong quá trình nghiên cứu tài liệu.  

Hiểu quá khứ thời bố mẹ mình thì sẽ lý giải được nhiều điều cho cuộc sống hiện tại và giúp chúng ta tiến tới tương lai. 

* Các anh bắt tay thực hiện dự án này ra sao?

Cuốn sách một lần nữa cho tôi sống lại, đến mức nôn nao, cái thời bao cấp lạ lùng ấy. Tôi nói lạ lùng bởi đến giờ phút này, thật khó phân định hay phán quyết rằng nó dở tệ, nó tai hại, hay nó cho tôi được một quãng êm đềm, thanh thản.

Nhà văn Nguyễn Bình Phương 

- Biên tập của nhà sách và chúng tôi sưu tập lại những câu nói thời bao cấp, lập danh sách. 

Tôi và anh Hữu Khoa sẽ phân công xem ai thực hiện những câu nói gì. Sau đó mỗi người tự vẽ và triển khai theo ý tưởng của riêng mình về câu nói đó.

Khi tôi sinh ra đã là cuối thời bao cấp, nên không có nhiều ký ức liên quan đến cách ứng xử của thời ấy nữa. 

Nếu có ký ức thì chỉ còn với những sự vật, địa điểm hay một số đồ dùng thời bao cấp mà tôi vẫn được thấy.

Vậy nên tôi phải tham khảo rất nhiều tư liệu như xem video, phim tài liệu ngày xưa, sách, ảnh, hỏi ý kiến của những nhà nghiên cứu về thời bao cấp hoặc những người đã từng sống ở thời kỳ đó để có thể thể hiện một cách tốt nhất những câu nói thời ấy.

* Không được trải nghiệm cách ứng xử và cách sống của thời bao cấp, vậy cuốn sách có tái hiện được tinh thần của thời bao cấp không?

- Dù nghiên cứu nhiều nhưng thể hiện được đúng bao nhiêu tinh thần của thời ấy thì mỗi người có một cách nhìn nhận khác nhau. Điều này phụ thuộc vào trải nghiệm của mỗi người đọc.

Chúng tôi cố gắng khái quát đầy đủ nhất những góc nhìn về thời bao cấp. Những câu nói này đều là những ý tưởng từ nhiều nguồn khác nhau như khuyết danh hoặc câu nói về người, sự việc cụ thể nào đó.

Ai đã sống qua thời bao cấp sẽ nhớ lại không khí thời đó. Còn các bạn trẻ chưa sống qua thời đó hoặc những người sinh ra vào cuối thời bao cấp như tôi có thể hình dung rõ hơn về thời ấy.

Hầu hết những ‘tác phẩm’ dân gian trong cuốn sách đặc biệt này đều được những người thời đó thuộc lòng, và dễ dàng truyền miệng cho nhau, bởi nó dí dỏm, hài hước, nó dễ nhớ, dễ thuộc, và nhất là nó đúng quá với bối cảnh nó ra đời, với tâm trạng của những người sống trong thời đó.

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan 

* Cuốn sách được vẽ theo phong cách cổ động pha chút biếm họa hài hước. Đó có phải là điểm nhìn của tác giả khi thực hiện cuốn sách này?

- Tôi lựa chọn những bức tranh minh hoạ giống như minh họa sách ngày xưa là sử dụng ít màu. Tranh của tôi trong sách gần như chỉ có hai màu trắng - đen và thêm màu vàng đất. Đó cũng là một cách để mô phỏng lại sách thời bao cấp.

Hoặc tôi chọn phong cách tranh cổ động để gợi nhớ lại thời ấy. Nhưng đó chỉ là mô phỏng để dẫn mọi người liên tưởng đến thời ấy dễ hơn. Chứ tôi không hoàn toàn sử dụng hoàn toàn thủ pháp như thời bao cấp, nên cách tạo hình trong sách vẫn rất hiện đại.

* Dù không sống ở thời bao cấp nhưng đã dành nhiều thời gian nghiên cứu, anh cảm nhận ra sao về những năm tháng ấy?

- Một thời đại kết thúc không đơn thuần như ta gập lại một trang sách để mở ra trang mới mà nó sẽ có nhưng hệ quả đi theo từ thời ấy đến bây giờ. Thậm chí đến bây giờ vẫn có những nếp suy nghĩ ảnh hưởng từ thời bao cấp.

Chúng ta quan sát, nhìn xem những di sản gì tốt đẹp từ thời bao cấp thì có thể duy trì hoặc làm cho nó hồi sinh trở lại nếu nó đã biến mất. Còn những điều tiêu cực, cần phải thay đổi thì ta sẽ tự rút ra được bài học.

Cuốn sách này không thể đại diện cho toàn bộ góc nhìn hoặc những vấn đề đã xảy ra trong thơi kỳ bao cấp mà chỉ thể hiện một lát cắt thuộc về lịch sử, văn hoá mà những người đã trải qua thời kỳ bao cấp đúc kết lại thành những câu nói thời ấy.

Có nhiều khía cạnh khác nhau của thời kỳ này, xuất phát từ những tầng lớp, công việc, vùng miền khác nhau. Mỗi người có cảm nhận khác nhau.

Xem một số hình ảnh trong Thương nhớ thời bao cấp:

Thương nhớ thời bao cấp - sách tranh của Thành Phong và Hữu Khoa - Ảnh 5.
Thương nhớ thời bao cấp - sách tranh của Thành Phong và Hữu Khoa - Ảnh 6.
Thương nhớ thời bao cấp - sách tranh của Thành Phong và Hữu Khoa - Ảnh 7.
Thương nhớ thời bao cấp - sách tranh của Thành Phong và Hữu Khoa - Ảnh 8.
Thương nhớ thời bao cấp - sách tranh của Thành Phong và Hữu Khoa - Ảnh 9.
Thương nhớ thời bao cấp - sách tranh của Thành Phong và Hữu Khoa - Ảnh 10.
Thương nhớ thời bao cấp - sách tranh của Thành Phong và Hữu Khoa - Ảnh 11.
Thương nhớ thời bao cấp - sách tranh của Thành Phong và Hữu Khoa - Ảnh 12.
Thương nhớ thời bao cấp - sách tranh của Thành Phong và Hữu Khoa - Ảnh 13.
Thương nhớ thời bao cấp - sách tranh của Thành Phong và Hữu Khoa - Ảnh 14.
Thương nhớ thời bao cấp - sách tranh của Thành Phong và Hữu Khoa - Ảnh 15.
Thương nhớ thời bao cấp - sách tranh của Thành Phong và Hữu Khoa - Ảnh 16.
Thương nhớ thời bao cấp - sách tranh của Thành Phong và Hữu Khoa - Ảnh 17.
Thương nhớ thời bao cấp - sách tranh của Thành Phong và Hữu Khoa - Ảnh 18.
Thương nhớ thời bao cấp - sách tranh của Thành Phong và Hữu Khoa - Ảnh 19.

Thứ Bảy, 3 tháng 2, 2024

Bài báo 90 năm trước của Nguyễn Chánh Sắt: “Cảm tình đối với ngày Tết” (Báo Lục tỉnh Tân văn năm 1935)

 image.png

Tác giả bài viết này là Nguyễn Chánh Sắt, đăng trên tờ Lục Tỉnh Tân Văn số đầu xuân năm 1935. Nguyễn Chánh Sắt từng là chủ bút của tờ báo này từ năm 1906, sau đó còn làm chủ nhiệm của tờ nhựt báo quốc ngữ nổi tiếng khác nữa là Nông Cổ Mín Đàm. Vì vậy có thể nói Nguyễn Chánh Sắt chính là một nhà báo uy tín bậc nhất của báo chí quốc ngữ Việt Nam thời kỳ hơn 100 năm trước. Sau đây là bái báo được ông viết 90 năm trước, nêu rõ chủ trương bảo tồn lễ Tết cổ truyền, miễn là tránh được sự lãng phí và lược bỏ các loại tệ nạn, mê tín trong ngày Xuân. 
image.png

Năm Giáp Tuất (1934) vừa qua, năm Ất Hợi (1935) hầu tới, cảnh tượng vẫn y nhiên, nhơn vật đều đổi mới, cái thời gian nó xây đổi, thì ta cũng nương theo đó mà trải qua, một năm dài đăng đẳng, ba trăm sáu chục ngày, mà ta mới gặp được một lần là 3 ngày Tết; thì ta nên mừng, nên vui chơi thong thả với ba ngày Nguyên đán của tổ tiên ta di truyền lại cho ta. Nước Nam ta từ ngày lập quốc đã trải mấy ngàn năm, mà cứ mỗi năm, ta lại được gặp một lần xuân mới, thì ta lại hẹp gì mà không vui vẻ với xuân; ngày xuân vẫn còn hoài, lớp trước đã qua, lớp sau lại tới, không bao giờ hết. Nay nhơn năm cũ bước qua năm mới, ta cũng nên mừng, cũng nên cầu chúc cho nòi giống ta cũng còn lâu dài, cũng còn tiền tấn hậu kế mãi mãi như ngày xuân kia vậy. Ta chẳng nên hờ hững với cái Tết, ta chẳng nên bỏ cái Tết của ta, mà ta chỉ cầu cho cái tinh thần và văn hóa của ta được nương theo cái thời gian mà đổi cũ thay mới để duy trì với nhơn tâm thế đạo đó thôi, chớ cái phong tục, cái cổ lễ của tổ tiên ta, thật là không nên bỏ. Ta không nên bỏ cái Tết của ta, vì các dân tộc ở bên Âu, Mỹ, trong một năm là 365 ngày, mà họ được nghỉ 52 ngày chúa nhựt, ngoài ra họ lại còn được nhiều ngày lễ khác mà nghỉ ngơi, nhứt là lao động, khỏi phải làm việc cực nhọc vất vả như ngày thường. Còn dân tộc Việt Nam ta, một nàm dài đăng đẳng, chỉ lo cặm cụi làm ăn, nhờ có ba ngày Nguyên đán là ngày lễ đầu năm mà thôi; nhưng đó là ra đã bớt đi hết bốn ngày rồi, chớ hồi xưa, lễ Tết tới 7 ngày, từ ngày mồng một, thì đã nghỉ ngơi ăn chơi thong thả cho đến ngày mồng 7 là ngày hạ nêu; bước qua ngày mồng 8 mới khởi công bắt dần làm việc lại. Thế thì một năm dài đăng đẳng, nghỉ ngơi chỉ có ba ngày mà vui vẻ với Xuân cũng không phải là quá. Học thuật của Tây thì ta cứ học, lễ giáo của tổ tiên ta thì ta vẫn giữ; cái Tết nó có ngăn trở gì đến cái sự tấn hóa của ta chút nào đâu mà ta phải bỏ, miễn là đừng có rượu trà cờ bạc, đừng xa hoa lãng phí, đừng bo bo theo cái lệ tục, đốt giấy má cho tốn tiền, gánh vàng đem đổ sông Ngô, ấy là một điều ta nên chừa nên bỏ đó. Trong một quãng đường từ mười mấy hai chục năm mà trở lại đây, mỗi năm hễ tới gần tới Tết, các nhà ngôn luận vẫn thường bài trừ tệ tục, thường hay chỉ trích những điều lãng phí vô ích của anh em trong ba ngày Nguyên đán. Nhưng lúc bấy giờ lúc một đồng, hoặc một đồng ngoài một giạ; dầu cho ai mà có cái miệng rộng tựa sông treo, cái lưỡi dài như gươm bén đi nữa, cũng không tài nào mà nói cho họ nghe theo được. Thời gian đã qua, thế cuộc đã đổi, trong khoảng ba bốn năm trời, lúa chỉ còn có hai ba cắc một giạ; dầu không bảo họ cũng thôi, không khuyên họ cũng dẹp. Cho nên cái Tết ngày nay, nào có thấy ai ăn xài lãng phí, nhà cửa chưng dọn linh đình, rượu Tây rượu Tàu như trước, nào có nghe tiếng Pháp đì đùng vang tai điếc óc trong ba ngày Tết nữa đâu. Ấy cũng chẳng qua cái thời gian nó bắt buộc, chớ nào có phải ai dễ hầu khuyên bảo được ai. Cái Tết nó đã chẳng ngăn trở gì tới cái bước đường tấn hóa của ta, thì việc gì mà ta phải bỏ; ta phải có cái cảm tình đối với ba ngày Tết để làm một chút kỷ niệm của tổ tiên ta di truyền còn sót lại có bấy nhiều lễ giáo đó mà thôi. Non sông còn, nói giống ta vẫn còn, thì cái Tết của tổ tiên ta để lại, ta cũng nên gìn giữ cho còn; cây cội nước nguồn, ta không nên hững hờ mà phụ phàng cái Tết. Một năm dễ có mấy lần xuân, Cái Tết nhà, ta há chẳng mừng, Cổ lễ di tuyền nòi giống Lạc Bao đành hờ hững dấu tiền nhiên. Tác giả: Nguyễn Chánh Sắt Đôi nét về tác giả – nhà báo Nguyễn Chánh Sắt: Từ năm 1890, Nguyễn Chánh Sắt đã cộng tác với tờ Nông cổ mín đàm và bắt đầu dịch nhiều truyện Tàu (truyện dịch đầu tiên là truyện Tây Hớn, gồm 3 quyển, do nhà xuất bản J. Viết ấn hành). Năm 1906 ông làm chủ bút báo Lục tỉnh tân văn và cộng tác với Trần Chánh Chiếu lập Nam Kỳ kỹ nghệ công ty, để vừa cạnh tranh với tư bản nước ngoài, khuếch trương công nghệ trong nước, vừa bí mật ủng hộ phong trào Đông du của chí sĩ Phan Bội Châu. Năm 1908 hội Minh Tân đổ vỡ, Trần Chánh Chiếu bị bắt, riêng ông may mắn thoát được. Năm 1912 Nguyễn Chánh Sắt lại xuống Bạc Liêu làm ruộng. Bị thất mùa nhiều vụ, năm 1916, ông trở lại Sài Gòn, tiếp tục làm chủ bút tờ Nông cổ mín đàm và cùng với ông Nguyễn Văn Của lập Nam Kỳ nhựt báo ái hữu hội. Trong thời gian này, ông sáng tác tiểu thuyết Nghĩa hiệp kỳ duyên (1920), mang nhiều tình tiết éo le, gay cấn nên rất lôi cuốn đông đảo độc giả; và người ta đã lấy tên một nhân vật nổi tiếng trong tiểu thuyết này để đặt cho ông biệt danh “Monsieur Chăng Cà Mum”. Năm 1920, nhân chuyến về thăm quê nhà, ông được nhân dân địa phương cử giữ chức hương quản xã Long Phú (thuộc Tân Châu). Năm 1921 ông được cử Phụ thẩm Tòa án Sài Gòn. Năm 1922 Canavaggio mất, ông Sắt kiêm luôn chức chủ nhiệm báo Nông cổ mín đàm. Tuổi già, ông Sắt về ẩn dật tại quê nhà Tân Châu. Ông mất ngày 6 tháng 6 năm 1947, hưởng thọ 78 tuổi. Hiện mộ phần ông và vợ tại Long Phú, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang. Nguyễn Chánh Sắt tự Bá Nghiêm, hiệu Tân Châu, bút hiệu: Du Nhiên Tử và Vĩnh An Hà. Ông là nhà văn kỳ cựu, một tiểu thuyết gia tiên phong, một dịch giả sung sức trong giai đoạn chữ Quốc ngữ mới phát triển tại Việt Nam. Nguyễn Chánh Sắt sinh ở làng Long Phú, huyện Tân Châu, tỉnh Châu Đốc, nay thuộc thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang. Cha ông là Nguyễn Văn Tài, một nông dân nghèo. Thuở nhỏ, Nguyễn Chánh Sắt đến làm con nuôi ông Nguyễn Văn Bửu và bà Trần Thị Nghiêm, một gia đình khá giả trong xóm nhưng không có con để nối nghiệp. Đến tuổi đi học, ông theo học chữ Hán với thầy Trần Hữu Thường, rồi trường tiểu học Pháp-Việt Châu Đốc. Đỗ xong bằng tiểu học thì cha nuôi cưới vợ cho ông. Vợ ông tên là Văng Thị Yên (1872-1944), người cùng làng, và bà với ông có cả thảy 2 trai, 7 gái. Khi cha mẹ nuôi đều mất, để kiếm sống, vợ ông phải làm nghề mua bán nhỏ ở chợ Tân Châu, còn ông thì ở nhà trông nom gia đình và tự học thêm chữ Hán, chữ Pháp. Trong thời gian này, Nguyễn Chánh Sắt quen được viên thiếu tá người Pháp tên là De Colbert, có sở Kén (nuôi tằm lấy tơ) tại Tân Châu. Vì làm ăn thất bại, De Colbert được nhà cầm quyền Pháp cử làm giám đốc nhà lao Côn Lôn (Côn Đảo), và ông Sắt được mời đi theo làm thông ngôn. Ở đảo, ông có dịp gần gũi các sĩ phu yêu nước bị lưu đày và học thêm chữ Hán. Bốn năm sau, De Colbert bị bệnh phải đưa về Sài Gòn chữa trị, nhưng không khỏi nên qua đời. Mất chỗ dựa, Nguyễn Chánh Sắt xin nghỉ việc ở Côn Lôn, về Sài Gòn lần lượt làm ở các sở Canh nông, Công chánh, Địa chánh, rồi chuyển sang dạy chữ Hán tại Trường trung học Taberd. Đi dạy, ông Sắt quen được ông Canavaggio rồi nhận lời xuống Bạc Liêu, trông coi việc khai thác ruộng muối cho ông này, trước khi trở lại Sài Gòn làm báo như kể ở bên trên.