Thứ Tư, 5 tháng 9, 2012

Thêm video kinh hoàng về thảm họa sóng thần ở Nhật









Giáo sư Ngô Vĩnh Long: Đồng thuận tốt nhất là đồng thuận trên nền tảng công bằng, dân chủ

SGTT.VN - Là người Việt đầu tiên nhận được học bổng đại học Harvard (1964), trong thời gian du học tại Mỹ, Ngô Vĩnh Long được tặng biệt danh “the free man” (người tự do) khi hoạt động trong phong trào đòi hoà bình. Bởi ông không là hội viên chính thức của một hội đặc biệt nào, không nhận bất cứ chức vị nào, một đồng tiền nào, để có thể tự do có tiếng nói phản biện. Tinh thần ấy vẫn nguyên vẹn khi ông là tổng giám đốc trung tâm Tài liệu Việt Nam ở Cambridge hay giảng dạy lịch sử tại đại học Maine hôm nay.


Vì sao sau khi bước chân vào đại học danh tiếng nhất nước Mỹ, con người nho nhã, thư sinh trong ông lại trở thành con người quyết liệt đấu tranh cho những vấn đề hệ trọng của dân tộc?

Thật ra đại học danh tiếng bậc nhất không có nghĩa là giáo sư và sinh viên ở đó đều giỏi. Giáo sư Harvard nổi tiếng là “không biết dạy” vì họ ỷ sinh viên đã được lựa chọn kỹ rồi, có thể tự đọc và hiểu các đống sách họ bắt đọc nên đến giờ dạy họ cứ đến giảng ào ào rồi bỏ đi, chắc là đi nghiên cứu hay làm cố vấn cho các công ty và người có quyền lực. Tôi là thằng ít học từ Việt Nam sang nên không hiểu quyền lực là gì và lại càng không hiểu cái “đặc ân” mà Harvard đã ban bố cho tôi. Tôi chỉ biết là phần lớn các giáo sư Harvard khi tôi đến đó ủng hộ chính sách của Mỹ ở Việt Nam và các nơi khác, nên tôi thấy mình có trách nhiệm nói ra những điều tôi biết và nghĩ. Giáo sư John King Fairbanks, trong chiến tranh thứ hai đứng đầu cơ quan OSS (Office of Strategic Service, tiền thân của CIA) ở Trung Quốc và được cho là ông tổ của ngành Đông Á học ở Mỹ, có khuyên tôi là nên bớt hoạt động ngay từ những tháng cuối năm 1964 khi ông thấy tôi đi hết đại học này đến đại học khác và cả các trường trung học gần như mỗi tuần để nói chuyện về tình hình Việt Nam, châu Á và chính sách của Mỹ. Ông ấy nghĩ tôi có thể trả giá rất đắt vì tôi không phải là người Mỹ và chưa có địa vị gì hết. Tôi trả lời với ông ấy rằng ông biết quan niệm “quân sư phụ” là như thế nào, nhưng chính vì Mỹ là thầy tôi và Việt Nam là cha tôi, tôi có bổn phận ngăn ngừa hai bên đi đến chỗ giết nhau. Do đó, vì hoạt động tích cực cho hoà bình và công lý, tôi ngẫu nhiên trở thành một trong những người đầu tiên gầy dựng phong trào hoà bình ở Mỹ.

Đó là trong quá khứ. Còn trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam có cơ hội như thế nào để giành được sự ủng hộ của thế giới trong bảo vệ chủ quyền biển đảo?
Những hành động càng ngày càng bất chấp phải trái và bất chấp luật pháp quốc tế của Trung Quốc đã cho dư luận thế giới thấy rõ sự ngang ngược của nước này. Đây là thời cơ hiếm có để Việt Nam cương quyết lên tiếng bảo vệ quyền lợi của đất nước cũng như an ninh của khu vực. Tiếng nói chính trực của Việt Nam nhất thiết sẽ giành được sự ủng hộ của thế giới bên ngoài và hậu thuẫn của nhân dân trong nước.

Nếu Việt Nam không nối kết việc đòi chủ quyền của mình tại hai quần đảo Trường Sa – Hoàng Sa với an ninh chung trên biển cũng như trên đất liền, quốc tế hoá hồ sơ Hoàng Sa, thì sẽ thiệt thòi rất lớn?
Vấn đề chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, tuy ở ngoài khơi biển Đông, rất khác với vấn đề thông thương và an ninh chung trên Biển Đông. Hoa Kỳ đã nói đi nói lại trong nhiều năm qua là họ không dính líu với việc tranh chấp chủ quyền, nhưng họ sẽ giúp bảo vệ thông thương hàng hải và an ninh chung trong khu vực. Nhưng Trung Quốc đã dùng vũ lực chiếm trọn Hoàng Sa và một số đảo tại quần đảo Trường Sa rồi lại tung ra cái đường chín đoạn (đường lưỡi bò) với ý định đòi “khu vực đặc quyền kinh tế” hai trăm hải lý từ các quần đảo này để chiếm hữu lãnh hải của các nước khác trong khu vực, cũng như để cấm thông thương và các hoạt động kinh tế khác ở Biển Đông. Mới đầu nhiều người tưởng đây là yêu sách huyễn hoặc, nhưng việc Trung Quốc bắt ngư dân Việt Nam và các nước khác và kêu gọi đấu thầu khai thác dầu khí trên Biển Đông cho thấy Trung Quốc cương quyết thực hiện tham vọng của họ và gây mất an ninh cho toàn khu vực. Cho nên Việt Nam phải liên tục nối kết vấn đề đòi chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa với an ninh chung trên biển. Vì Trung Quốc đã đánh chiếm Hoàng Sa bằng vũ lực và dùng địa thế Hoàng Sa để đe doạ an ninh chung, nên Việt Nam cần vận động dư luận thế giới để đưa Trung Quốc ra trước các toà án quốc tế. Không thể để việc đánh chiếm bằng vũ lực là chuyện đã rồi. Trường Sa cũng vậy, nên đem Trung Quốc ra trước công luận và toà án thế giới về những đảo của Việt Nam mà Trung Quốc đã chiếm bằng vũ lực.

Trong thời điểm nhiều ý nghĩa này, sự đồng lòng của toàn thể dân tộc là điều hết sức quan trọng. Theo ông, làm thế nào để hàn gắn vết thương chiến tranh và tạo điều kiện cho việc hoà hợp, hoà giải dân tộc thực sự?
Chiến tranh bất cứ ở đâu và bất cứ ở thời điểm nào cũng gây rất nhiều tương tàn và phân hoá về mọi mặt. Chiến tranh càng dài phân hoá càng cao, dẫu là chiến tranh giành lại độc lập cho đất nước. Muốn tạo điều kiện thực sự cho việc hoà hợp, hoà giải dân tộc và mở cửa cho tương lai thì nên nhìn lại quá khứ một cách trung thực và công bằng, và nên cố gắng tạo những điều kiện và cơ chế giúp cho việc dựng nên một xã hội công bằng, dân chủ, hài hoà.

Quan tâm nhiều đến các vấn đề xã hội, thời sự nóng bỏng trên thế giới và ảnh hưởng của nó đến kinh tế Việt Nam, điều gì làm ông lo lắng nhất?
Điều làm tôi lo nhất, ngay tại Mỹ và gần như khắp nơi trên thế giới, là sự bất bình đẳng càng ngày càng lớn và càng nhanh. Việc này có thể dẫn đến bất ổn định trong nhiều nước cũng như chiến tranh giữa một số nước. Tôi đã viết về điều này từ thập niên 90 thế kỷ trước, phân tích lý do tại sao “toàn cầu hoá” sẽ tạo nên bất bình đẳng càng ngày càng cao trong mỗi nước và giữa các nước. Có người đã cười tôi, có người nói thẳng vào mặt tôi trước nhiều người khác là tôi “thấy xe chữa lửa chạy qua bèn kết luận là có đám cháy ở đâu đó”. Có thể tôi quá viển vông và tôi mong rằng tôi đã sai.

Ông nhìn thấy nguy cơ nào từ tình trạng phát triển kinh tế ngày càng tập trung tiền bạc vào trong tay một số nhóm lợi ích?
Đây là trào lưu chung của nhiều nước, trong đó có các cường quốc như Hoa Kỳ, Anh, Nhật... Nhưng ở những nước quyền lực được thâu tóm trong tay một số nhóm lợi ích như ở Trung Quốc, Ai Cập, Libya... vì việc tập trung rất lớn, rất nhanh và gây bất bình đẳng rất lớn. Ở Ai Cập và Libya, tình trạng trên đã dẫn đến bạo động và chiến tranh. Ở Trung Quốc, bộ máy chính quyền còn sức rất lớn cũng như còn đủ dự trữ kinh tế để giải quyết một số vấn đề. Nhưng tôi không nghĩ “mô hình Trung Quốc” hay “đồng thuận Bắc Kinh” là giải pháp bền vững.

Đồng thuận tốt nhất là đồng thuận được xây trên nền tảng công bằng và dân chủ, để có thể giải quyết vấn nạn bất bình đẳng và bao nhiêu tệ nạn xã hội khác. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói một cách đơn giản về các vấn đề cốt tử của đất nước như sau: “Khó trăm bề dân liệu cũng xong”.

Theo ông, làm thế nào để đạt tới sự đồng thuận xã hội trong những vấn đề cốt tử của đất nước?
Tôi nghĩ đồng thuận tốt nhất là đồng thuận được xây trên nền tảng công bằng và dân chủ, để có thể giải quyết vấn nạn bất bình đẳng và bao nhiêu tệ nạn xã hội khác. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói một cách đơn giản về các vấn đề cốt tử của đất nước như sau: “Khó trăm bề dân liệu cũng xong”.

Bố ông là người Bắc Ninh, mẹ là người Huế, dắt díu nhau vào Nam kiếm sống rồi sinh ông ở Vĩnh Long, cuộc đời lưu lạc phải chăng đã khiến ông nặng lòng với quê hương, với người nông dân Việt Nam, để viết tác phẩm Trước cách mạng: nông dân Việt Nam dưới thời Pháp thuộc?
Khó mà biết cái gì đã ảnh hưởng đến nhân sinh quan hay lý tưởng của mình. Nhưng tôi chắc là ảnh hưởng của bố tôi rất lớn. Bố tôi là người có nhiều lý tưởng và đã chia hết của cải họ Ngô ở Từ Sơn và những nơi khác cho gia đình và người trong các làng để vào Nam hoạt động. Bố tôi dạy học cho các đồng đội theo cách mạng và bất cứ ai muốn học, trong khi đó thì đi hớt tóc và làm nghề nông để sống. Bố tôi bị Tây bắt năm 1950, tra tấn gần chết, xương sườn bị gãy và đâm vào phổi… Bố và tôi thường nói chuyện với nhau và tôi nhớ có lúc bố tôi chỉ các đỉnh núi và nói: “Con biết không, Montesquieu có nói là người nào ngồi trên đỉnh núi cao nhất cũng vẫn là ngồi trên mông mình con ạ. Và tục ngữ ta có câu, càng cao danh vọng càng dày gian nan”. Rồi ông cụ giảng cho tôi biết lại sao tiền tài và quyền lực không những làm cho người ta tha hoá và gây biết bao khổ đau cho người khác, mà có thể bị mất hết bất cứ lúc nào. Còn sự hiểu biết và tình thương, như ngọn lửa của những cây nến, không những toả sáng và giúp soi đường đi cho chính mình và cho người khác mà còn có thể truyền mãi về sau. Ông cụ còn luôn dặn dò tình thương là bất diệt và khi tôi trưởng thành, nếu tôi không giúp được gì cho ai thì cũng cố gắng đừng bao giờ làm ai đau khổ.

Sự đau khổ của nông dân là một trong những lý do khiến tôi viết cuốn sách Before the revolution: the Vietnamese peasants under the French (Trước cách mạng: nông dân Việt Nam dưới thời Pháp thuộc). Rồi sự đau khổ và chịu đựng của phụ nữ cũng đã là một trong những lý do thúc đẩy tôi xuất bản, năm 1973, cuốn Vietnamese women in society and revolution (Phụ nữ Việt Nam trong xã hội và cách mạng). Có hai lý do chính khiến tôi viết hai cuốn sách này: một là vì nông dân và phụ nữ là hai tầng lớp đông đảo nhất, chịu nhiều áp bức nhất, đóng các vai trò quan trọng nhất trong xã hội và cách mạng nhưng lại ít được nói đến nhất (nếu không nói cố tình phớt qua vì nhiều lý do). Hai là tôi muốn đưa ra một số nhận thức về việc nghiên cứu nông dân và phụ nữ thì nên có phương pháp gì, dùng tài liệu gì, phân tích như thế nào... Trong giới học thuật, lý do thứ hai này đã làm nhiều học giả cho rằng hai cuốn sách trên của tôi là “kinh điển” không lâu sau khi chúng được công bố. Tôi thường viết rất ngắn gọn và đơn giản, đặt rất nhiều vấn đề cho những người nghiên cứu về nông dân, nông thôn, phụ nữ. Tôi viết để đóng góp cho sự hiểu biết chung, mặc dầu đề tài có thể là các vấn đề của Việt Nam.

Muốn tạo điều kiện thực sự cho việc hoà hợp, hoà giải dân tộc và mở cửa cho tương lai thì nên nhìn lại quá khứ một cách trung thực và công bằng, và nên cố gắng tạo những điều kiện và cơ chế giúp cho việc dựng nên một xã hội công bằng, dân chủ, hài hoà.

Lý do nào ông chọn nghiệp làm thầy? Ông nghĩ gì về hình ảnh một người thầy mới?
Người thầy không chỉ đào tạo những người lao động mà còn đào tạo công dân và những con người có trách nhiệm cao với dân tộc, quốc gia và cả thế giới. Tôi nghĩ một phần do ảnh hưởng từ bố vì bố tôi cho rằng hiểu biết và tình thương là bất diệt. Sau đó tôi nghiệm ra, hiểu biết chính là biết cái gì đúng, cái gì sai, và việc này phải truyền đạt qua giáo dục. Chính bản thân tôi, trước khi sang Mỹ và trong khi chống chính sách của Mỹ ở Việt Nam hay ở nhiều nơi khác, tôi làm những việc đó vì con người nói chung chứ không phải vì dân tộc hay quốc gia nào. Tôi đã đào tạo bao thế hệ sinh viên Mỹ trên 30 năm nay trước hết là để họ “thành nhân”, tức biết tự phân tích xem cái gì đúng cái gì sai không những trong các lĩnh vực chuyên môn mà cả trong cuộc đời nói chung. Nhiều nơi trên đất Mỹ “cái học ngày nay đã hỏng rồi” (sinh viên đi học phần lớn để lấy điểm, lấy bằng, làm tiền...) nên tôi càng phải cố gắng dạy lại sinh viên của tôi từ cách đọc, cách viết, cách phân tích các vấn đề lớn nhỏ để họ có thể biết ngay đúng sai ở chỗ nào. Nếu chưa biết hay chưa kết luận được thì phải nghiên cứu và suy nghĩ thêm chứ không phải cứ lấy một đống thông tin là tưởng mình hiểu biết. Bạn bè và đồng nghiệp thường cười và nói rằng họ chẳng biết tại sao tôi cứ “luôn luôn lội ngược dòng”.

Điều gì giúp ông vượt qua những nỗi buồn nhân thế?
Nhân sinh quan của tôi rất đơn giản: tìm vui trong việc làm và cố gắng làm gì được thì làm trong khi còn sức. Còn chuyện buồn đau, trắc trở, thì ai lại không gặp?

Một vài người đã cho tôi biệt hiệu “Ngô đại nhăn”, có thể vì nhiều khi họ thấy tôi khó chịu ra mặt với những bất công hay giày xéo nhau mà nhiều người cho là bình thường.

thực hiện Kim Yến

chân dung hội hoạ Hoàng Tường



Thứ Ba, 4 tháng 9, 2012

Trịnh Công Sơn (Khánh Ly hát)









"Điều còn mãi" 2012, 2011 và ....



Hai bài “Tình ca”






Đọc bài này mới biết một tin vui: Ngày 2/9 vừa qua Vietnamnet mới có một đêm hoà nhạc với sự dàn dựng ca khúc Tình ca của Phạm Duy. Hay quá. Tôi nghĩ bài Tình ca nên có một vị trí trang trọng như thế, và chắc nhạc sĩ rất vui về sự kiện này. Nhưng âm nhạc Việt Nam có ít nhất là 2 bài Tình ca của ít nhất là 2 tác giả, mỗi người một phong cách.

Hai bài Tình ca mà tôi nhắc đến là của Nhạc sĩ Phạm Duy và Hoàng Việt. Thú thật, với cá nhân tôi, cả hai ca khúc đều rất hay. Nhưng nếu chọn một ca khúc để nói lên tâm tình của mình cho quê hương và dân tộc thì tôi sẽ chọn tác phẩm của Phạm Duy. Một cách không do dự. Không phải vì tôi là người lớn lên với nhạc của Phạm Duy, mà vì những lời ca trong bài đó sao mà hay quá. Nhạc sĩ Phạm Duy cho biết ông sáng tác Tình ca chỉ trong vòng 15 phút! Mười lăm phút thăng hoa mà ông để lại cho đời một tác phẩm không chê vào đâu được.

Hai sáng tác, tuy có cùng tựa đề, nhưng rất khác nhau về ý nghĩa và bối cảnh ra đời. Nhạc sĩ Phạm Duy sáng tác bài Tình ca vào năm 1953, còn tác phẩm của Hoàng Việt thì ra đời vào năm 1957 (nhưng 10 năm sau mới được phổ biến rộng rãi). Bài Tình ca của Phạm Duy là một tự tình dân tộc, mà qua đó, ông muốn kêu gọi mọi người dân Việt nên đoàn kết, hoà hợp, hoà giải với nhau. (Thông điệp này vẫn còn tính thời sự!) Còn bài Tình ca của Hoàng Việt thực ra là một bài tình tự dành cho người ông yêu, một tiếng lòng gửi về cho vợ ông ở trong Nam.

Hai bài Tình ca có nội dung cũng rất khác nhau. Bài của Hoàng Việt có 245 chữ, còn bài của Phạm Duy có 354 chữ. Nhưng lượng từ chẳng nói lên điều gì, quan trọng là nội dung trong ca khúc. Trong bài bài Tình ca của Hoàng Việt, dù viết cho vợ, nhưng cũng có những câu có thể nói là thù hận, nóng bỏng: em có nghe tiếng ca chứa đựng hận thù sâu xa, xua kẻ thù đi mau dập tắt chiến tranh đẫm máu. Có lẽ thời đó, ông rất căm thù “Mĩ Nguỵ” nên mới có những câu chữ rất hợp thời thế như vậy. Tuy nhiên, câu cuối của bài có một kết thúc “có hậu”: Giữ lấy trái tim đòi sống yêu đời / Làm một bài tình ca của đôi lứa ta dâng cả bao người.

Nhưng bài của Phạm Duy thì có cấu trúc rất rõ ràng về nội dung không liên quan gì với một cá nhân nào cả. Trong 3 đoạn, ông trải lòng cho tiếng Việt (Tôi yêu tiếng http://www.tienphong.vn/van-nghe/15618/Mot-thoi-%E2%80%9Cnhay-cam%E2%80%9D-voi-ca-tu.htmlnước tôi từ khi mới ra đời), cho đất nước (Tôi yêu đất nước tôi, nằm phơi phới bên bở biển xanh), và cho con người Việt Nam (Tôi yêu bác nông phu đội sương nắng bên bờ ruộng sâu). Toàn bộ bài Tình ca của Phạm Duy không có một câu, một chữ nào có thể nói là mang tính thù hận. Trong đoạn cuối, ca khúc mở ra một cánh cửa mới: Vì yêu, yêu nước, yêu nòi / Ngày Xuân tôi hát nên bài tình ca / Ruộng xanh tươi tốt quê nhà / Lòng tôi đã mở như là đoá hoa. Một câu kết rất hay và ấn tượng.

Có người xem bài Tình ca của Hoàng Việt là một “biểu tượng của âm nhạc Việt Nam trong thế kỉ 20”. Nói thế có lẽ hơi cảm tính và quá đáng chăng? Chọn một bài làm biểu tượng âm nhạc Việt Nam trong thế kỉ 20 không phải dễ chút nào. Bài Tình ca của Phạm Duy thì không được đánh giá cao như là một biểu tượng âm nhạc, nhưng tôi nghĩ bất cứ người Việt nào nghe qua bài này cũng đều cảm thấy tác giả đã nói cho mình, và câu chữ trong bài như những tiếng ru đã chiếm tâm hồn mình một cách dễ dàng. Có lẽ chính vì thế mà có doanh nhân đã trả 10 ngàn đôla cho 10 nốt nhạc đầu tiên trong bài Tình ca của Phạm Duy.

Cả hai bài Tình ca đều có số phận … long đong. Theo Nguyễn Thuỵ Kha, bài của Hoàng Việt khi được trình diễn lần đầu bị các quan chức văn nghệ đánh giá là “yếu đuối” và “bi luỵ”. Cũng như bao nhiêu nhận xét manh tính chủ quan khác, không thấy người ta nói câu nào là yếu đuối, và câu nào là bi luỵ. Phải 10 năm sau thì bài Tình ca của Hoàng Việt mới được phổ biến rộng rãi, chắc lúc đó người ta biết nhiều hơn và thay đổi quan điểm. Còn bài Tình ca của Phạm Duy thì đã được biết đến nhiều trước năm 1975 ở miền Nam, nhưng sau năm 1975 thì … tắt. Phải đến sau năm 2005 thì ca khúc này mới được cho phép phổ biến. Hi vọng rằng số phận của hai ca khúc này cũng là một kinh nghiệm cho các quan chức văn nghệ đang nắm giữ số phận của các ca khúc khác.

Chẳng những số phận của ca khúc hơi long đong, mà tác giả cũng có lần đau khổ vì những sáng tác của mình. Lần đầu tiên tôi mới biết Hoàng Việt chính là Lê Trực, tác giả bài Tiếng còi trong sương đêm, rất nổi tiếng ở miền Nam trước 1975. Thời đó, tôi rất “mê” bài này qua tiếng hát của Thanh Thuý. Mãi đến nay, nghe bài này qua giọng ca của Thanh Thuý tôi vẫn thích, rất thích. Thật ra, ông tên là Lê Chí Trực, quê ở Tiền Giang, năm 1954 tập kết ra Bắc trong khi vợ ông vẫn còn ở trong Nam. Đó chính là bối cảnh ra đời của bài Tình ca. Sau này hai vợ chồng đoàn tụ ở miền Bắc, và ông đi Nam rồi hi sinh ở Tiền Giang vào năm 1967. Vẫn theo Nguyễn Thuỵ Kha, khi ông ra chiến khu ông có đem theo bài Tiếng còi trong sương đêm, nhưng các đồng chí của ông cho rằng đó là bài ca phản động, và ông bị bắt giam và đi tù cải tạo suốt 3 tháng trời! Sau đó ông được bạn bè “bảo lãnh” mới ra khỏi tù. Ra khỏi tù, ông uất ức quá, nên lấy bút danh mới là Hoàng Việt Hận! Các đồng nghiệp văn nghệ khuyên mãi, ông mới chịu bỏ chữ Hận từ bút danh đó.

Nhưng hình như nhạc sĩ Hoàng Việt không thích nhạc Phạm Duy và nhạc của các nhạc sĩ miền Nam trước 1975. Trong bài “Hoàng Việt - Nhạc sĩ của tình ca và quê hương”, tác giả Nguyễn Thế Khoa cho biết “Hoàng Việt còn bày tỏ với nhạc sĩ Đỗ Nhuận khát vọng đưa âm nhạc cách mạng thâm nhập sâu vào đời sống tinh thần của người dân miền Nam để thay thế loại tân cổ tạp nham cũng như thứ dân ca rhythm nhạc dance ỉ eo than khóc mị dân của Phạm Duy hoặc loại nhạc điện tử làm ô uê thích giác người nghe của đám nhạc trẻ sa đoạ Sài Gòn.” Chẳng biết Nhạc sĩ Hoàng Việt thật sự có nói những điều này hay không (vì ông đã qua đời), nhưng cũng là một nhận xét đáng chú ý. Chắc chắn Nhạc sĩ Hoàng Việt có nghe qua bài Tình ca của Phạm Duy, và nếu ông có những nhận xét như được kể thì cũng … thú vị.

Mỗi người có một cảm nhận đặc trưng, và với tôi, thì cả 2 ca khúc Tình ca của Phạm Duy và Hoàng Việt đều hay. Nhưng để nói lên tâm tình của mình về tiếng nói, đất nước, và đồng hương thì tôi chọn sáng tác của Phạm Duy. Tôi nghĩ trình diễn bài Tình ca nhân nhân ngày 2/9 là một sáng kiến tuyệt vời, một cách và một dịp để chúng ta cùng tự tình với quê hương và đồng hương. Có lần Nhạc sĩ Phạm Duy nói đại ý rằng sau chiến tranh chỉ có âm nhạc và tôn giáo mới hàn gắn vết thương lòng, và hiểu theo ý đó, ông đã những đóng góp đáng kể vào việc nối kết người Việt gần nhau hơn.



Chủ Nhật, 2 tháng 9, 2012

Dân chủ và pháp quyền trong Hiến pháp 1946

Dân chủ và pháp quyền trong Hiến pháp 1946


Sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày 2-9-1945 tại Quảng trường Ba Đình sẽ mãi được khắc ghi trong lịch sử như một cột mốc quan trọng.

Tiếp sau đó là một chuỗi sự kiện có ý nghĩa lớn lao về mặt chính trị, pháp lý mà Chủ tịch Hồ Chí Minh là người khởi xướng và tổ chức thực hiện thành công.

Đó là cuộc Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946 để bầu ra Quốc hội lập hiến.

Đó là việc Quốc hội lập hiến, ngày 9-11-1946, đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam độc lập, có chủ quyền; một bản hiến pháp thấm đẫm tinh thần dân chủ, thể hiện sâu sắc và giàu tính hiện thực những phẩm cách của một nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân.

Theo quy định của Hiến pháp 1946, nước ta không có quốc hội mà chỉ có nghị viện nhân dân với nhiệm kỳ ba năm. Nếu sau đó không có chiến tranh, Hiến pháp 1946 được thực thi thì Quốc hội lập hiến sẽ tự giải tán để tổ chức bầu nghị viện nhân dân. Thế nhưng do nhiều điều kiện, việc bầu nghị viện nhân dân không tiến hành được, Quốc hội lập hiến đã chuyển thành Quốc hội lập pháp (đây cũng là lý do vì sao Quốc hội nước ta từ khóa I đến khóa XIII có cả quyền lập hiến).

Hiến pháp 1946 ngắn gọn, súc tích, tập trung quy định những vấn đề thuộc phạm vi điều chỉnh của luật hiến pháp, mà cụ thể là các quyền tự do, dân chủ; các nguyên tắc và cách thức tổ chức các cơ quan quyền lực nhà nước. Hiến pháp năm 1946 là kết quả của quá trình đấu tranh giành độc lập, lập ra nền cộng hòa; nhờ có chế độ dân chủ cộng hòa lúc đó mới tạo điều kiện cho sự ra đời của một bản “Hiến pháp dân chủ” với nguyên tắc: Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân. Hiến pháp hướng tới việc xây dựng một chính thể dân chủ rộng rãi, một bộ máy nhà nước mạnh mẽ và sáng suốt, đề cao và tôn trọng quyền con người, quyền công dân.

Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về hiến pháp và dân chủ là hai yếu tố không tách rời nhau. Hiến pháp quy định nội dung và cách thức thực hành dân chủ; là phương tiện để cho nhân dân được hưởng quyền tự do dân chủ.

Hiến pháp năm 1946 cũng thể hiện đậm nét tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền. Tư tưởng xây dựng một nhà nước pháp quyền của Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải chỉ xuất hiện sau này, trong quá trình soạn thảo Hiến pháp năm 1946 mà đã có từ đầu năm 1919. Trong bản yêu sách của nhân dân An Nam gửi Hội nghị Versailles Nguyễn Ái Quốc đã viết: “Bảy xin hiến pháp ban hành, trăm điều phải có thần linh pháp quyền”.

Sức mạnh của tính pháp quyền trong Hiến pháp năm 1946 cho đến ngày nay vẫn còn nguyên giá trị. Khi Nhà nước ta có chủ trương sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, không phải không có lý do mà có ý kiến đề nghị: Để nghiên cứu, sửa đổi Hiến pháp năm 1992, về kỹ thuật lập hiến, về tư tưởng nhà nước pháp quyền, chúng ta không thể không nghiên cứu học hỏi, tiếp thu, kế thừa những mặt ưu việt, những yếu tố vượt trội của Hiến pháp năm 1946.

Hiến pháp năm 1946 là di sản to lớn về tư tưởng và văn hóa lập hiến, là dấu son hết sức quan trọng của dân tộc ta trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

ĐINH VĂN QUẾ

Ba cấp độ dân chủ Hồ Chí Minh

Mỗi dịp Quốc khánh 2-9, ý nghĩa của việc Việt Nam trở thành nước dân chủ đầu tiên ở châu Á sau Thế chiến II lại được nhắc tới. Trong tầm vóc lớn lao của sự kiện ấy, nhà nghiên cứu Nguyễn Trần Bạt có một góc nhìn nhỏ về bản sắc Hồ Chí Minh trong việc xây dựng nền dân chủ Việt Nam, được ông gọi tên là “Ba cấp độ dân chủ Hồ Chí Minh”.

Tìm hiểu quá trình thực thi nền dân chủ Việt Nam trong thời kỳ Hồ Chí Minh mới thấy Bác đã xử lý vấn đề dân chủ trong hoạt động xã hội Việt Nam một cách có cơ sở khoa học thế nào”- ông Nguyễn Trần Bạt nói.

Tập hợp lực lượng từ các giá trị dân chủ

. ngược dòng lịch sử, những năm đầu cách mạng trước 1945, khái niệm về dân chủ ở Việt Nam được hiểu thế nào, thưa ông?

+ Thoát thai từ chế độ phong kiến, Việt Nam không có khái niệm dân chủ. Khái niệm dân chủ khi ấy đến với giới trí thức thông qua những tác phẩm của Montesquieu, Rouseau… Khái niệm dân chủ ấy, mà giờ ta hay gọi là dân chủ phương Tây, lóe lên vào giai đoạn 1936-1939, thời kỳ Mặt trận Bình dân Pháp thắng thế.

So với sự xâm nhập của chủ nghĩa Marx sau này thì các giá trị dân chủ phương Tây ấy tác động không nhiều vào giới trí thức. Tuy nhiên, những nhà trí thức cộng sản như Trường Chinh, Nguyễn Đức Cảnh, hay Phan Đăng Lưu, Trần Phú, Hà Huy Tập và đặc biệt là Hồ Chí Minh đã sử dụng các giá trị dân chủ phương Tây một cách rất hữu hiệu để tập hợp, thu hút lực lượng trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc.

. Ý ông là Hồ Chí Minh và các bậc tiền bối đã khai thác các giá trị dân chủ phương Tây ấy, sử dụng nó để tập hợp lực lượng, góp phần hình thành nên nước dân chủ đầu tiên ở châu Á vào năm 1945?

+ Bên cạnh Hồ Chí Minh, vào thời điểm những năm 1945-1946 có rất nhiều trí thức được đào tạo tại phương Tây một cách rất bài bản như GS Hồ Đắc Di, GS Hoàng Đình Cầu, GS Tôn Thất Tùng, GS Nguyễn Văn Huyên, GS Nguyễn Mạnh Tường... Những người ấy nếu không nhìn thấy ở Hồ Chí Minh những phẩm chất dân chủ mà họ đã quen biết từ phương Tây thì họ không theo Cụ.

Hồ Chí Minh là nhà chính trị lớn đầu tiên ở Việt Nam ý thức một cách sâu sắc vai trò chính trị của khái niệm dân chủ. Nhờ đó mà có thể tập hợp những thành phần ưu tú nhất thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc. Và tinh thần dân chủ của phương Tây là cứ liệu, là lực lượng cơ bản tạo ra sự xuất thần của Tuyên ngôn độc lập ngày 2-9-1945 và Hiến pháp 1946.

"Nền dân chủ Hồ Chí Minh"

. Có thể đặt tên cho nền dân chủ chính trị Việt Nam giai đoạn liền trước và sau 1945 là dân chủ Hồ Chí Minh, thưa ông?

+ Hoàn toàn có thể. Gọi thế cũng phải lưu ý thực tế rằng khái niệm về dân chủ, chúng ta chịu ảnh hưởng của rất nhiều luồng tư tưởng, cả từ phương Tây, phương Đông, đến Marx - Lenin, rồi Stalin, Trotsky, Mao Trạch Đông... Và nhìn trở lại thì dân chủ Hồ Chí Minh là tập hợp rộng lớn nhất, trong đó có các giá trị của dân chủ phương Tây, được ứng dụng hiệu quả, nhuần nhuyễn nhất cho nền chính trị Việt Nam.

Từ các dữ liệu lịch sử, tôi thấy nền dân chủ Hồ Chí Minh có ba cấp độ, mà cấp độ đầu tiên, tôi gọi là nền dân chủ thái độ, thể hiện ở đạo đức, tác phong quần chúng. Tác phong Hồ Chí Minh nổi tiếng trong phòng trào cộng sản quốc tế, đến mức một thời trong văn kiện Đảng ta có cụm từ “Tác phong Hồ Chí Minh”.

Cơ sở của nền dân chủ thái độ là đạo đức. Bởi vì nếu không có tình cảm, tình yêu đối với nhân dân, không có sự trân trọng con người, không có nền tảng đạo đức thì không thể có nền dân chủ thái độ được. Cho nên tác phong quần chúng trở thành một động lực, một sức mạnh chính trị của Hồ Chí Minh trong suốt cả cuộc đời của Người. Các giá trị đạo đức ấy toát ra bằng thái độ của Người.

Cũng phải nói thêm, với trình độ nhân dân, dân trí lúc ấy, con đường cảm nhận dễ dàng nhất về các giá trị của dân chủ là thông qua dân chủ thái độ của Hồ Chí Minh. Nền dân chủ thái độ ấy thấm đẫm tới các đồng chí của Người, là sức mạnh quan trọng để Đảng xây dựng cơ nghiệp. Nhân dân nhận ra giá trị đạo đức của những người cộng sản thông qua thái độ của họ.

. Cấp độ thứ hai của nền dân chủ Hồ Chí Minh là gì?

+ Là dân chủ cấu trúc.

Cách mạng Việt Nam có một nhân vật quan trọng, khá đặc biệt: Tôn Đức Thắng - biểu tượng của chủ nghĩa yêu nước Nam Bộ. Một thời gian dài ông là Phó Chủ tịch nước, song hành với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông là một phần của nền dân chủ cấu trúc Hồ Chí Minh. Trong điều kiện chiến tranh, nhân dân miền Nam ít có điều kiện tham gia sinh hoạt chính trị ở cấp độ nhà nước, hình thành các quyết định chính trị của cả nước và hình ảnh bác Tôn nhắc nhở rằng người dân miền Nam luôn có đại diện trong các quyết định ấy.

Nhìn rộng ra, nền dân chủ cấu trúc Hồ Chí Minh không thể thiếu các nhân vật như Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Văn Cừ... Nền dân chủ ấy có đủ yếu tố Bắc, Trung, Nam, miền xuôi, miền ngược, đủ nam, đủ nữ, đủ giai tầng, tôn giáo trong xã hội và cả đảng phái nữa. Nền dân chủ cấu trúc ấy tạo nên một kỷ luật chính trị, buộc cấu trúc chính trị của các lực lượng chính trị phải phản ánh được tính đại diện.... Dân chủ cấu trúc ấy, khác với cái mà giờ ta gọi là “cơ cấu”. Vì đã “cơ cấu” thì dễ mất đi tính khách quan của cấu trúc.

. Ở trên ông có nhận định là tinh thần dân chủ của phương Tây là cứ liệu, là lực lượng cơ bản tạo ra sự xuất thần của Tuyên ngôn độc lập ngày 2-9-1945 và Hiến pháp 1946. Vậy các giá trị ấy nằm ở đâu trong nền dân chủ Hồ Chí Minh?

+ Nằm ở cấp độ thứ ba của dân chủ Hồ Chí Minh - dân chủ phổ quát.

Hồ Chí Minh là tập hợp sâu sắc nhất các khái niệm dân chủ ứng dụng cho nền chính trị Việt Nam. Người nắm sứ mệnh phải tạo ra, phải cấu trúc được một nền dân chủ, trong đó có mặt gần như đầy đủ các bộ phận hoặc đại diện của các bộ phận dân chúng trong đời sống chính trị. Nhưng chính Người cũng nhận thấy rõ nhất các khiếm khuyết nếu chỉ thể hiện dân chủ ở hai cấp độ: dân chủ thái độ, dân chủ cấu trúc. Khiếm khuyết ấy chỉ có thể được bù đắp bằng các giá trị của dân chủ phổ quát.

Hồ Chí Minh không biến nền dân chủ của mình trở thành nền dân chủ làng xã, dân chủ đặc thù của riêng Việt Nam, mà muốn phổ quát hóa nền dân chủ của ông trở thành một nền dân chủ theo tiêu chuẩn quốc tế và được chấp nhận bởi cộng đồng quốc tế. Điều đó thể hiện trong Tuyên ngôn độc lập và Hiến pháp 1946. Và nó mang giá trị phổ quát trong điều kiện lúc ấy nhiều đảng phái tham gia sinh hoạt chính trị.

Hồ Chí Minh biết rất rõ quy luật của sự suy thoái nên cùng lúc triển khai cả ba nền dân chủ. Nền dân chủ thái độ để duy trì đạo đức cách mạng và để biểu dương đạo đức. Thái độ đối với nhân dân là biểu hiện đạo đức. Nền dân chủ trí khôn là phải biết cấu trúc. Ngay cả khi mình toàn quyền thì vẫn phải cấu trúc để chống lại sự suy thoái. Bản chất của hoạt động cầm quyền là chống suy thoái. Và nền dân chủ phổ quát là lối thoát khách quan của quá trình chống suy thoái.

Nhà nước pháp quyền: Công cụ để minh bạch hóa hoạt động

. Bàn về ba cấp độ của dân chủ Hồ Chí Minh, ông liên tưởng gì tới cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng đang được phát động, đến các kêu gọi dân chủ hóa trước hết trong Đảng và đến yêu cầu xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền hiện nay?

+ Nghị quyết Trung ương 4 đề cập đến vấn đề chống suy thoái về đạo đức, lối sống và cả về vấn đề tổ chức cán bộ. Đây là hồi chuông báo động đòi hỏi sớm chặn đứng sự suy thoái ở một bộ phận những người nắm quyền quản lý ở nước ta trong nội dung ở hai cấp độ đầu của dân chủ Hồ Chí Minh. Còn xây dựng nhà nước pháp quyền mà hiện giờ đang nổi lên vấn đề sửa đổi Hiến pháp 1992, chính là nội dung thuộc cấp độ thứ ba của dân chủ Hồ Chí Minh.

Xây dựng Đảng là công việc thường ngày của Đảng, không thay thế được việc xây dựng nhà nước pháp quyền. Đảng nào cũng phải tự làm trong sạch mình nhưng khi trong Đảng không tự xử lý được thì phải nhờ Nhà nước, nhờ luật pháp. Xây dựng nhà nước pháp quyền là xây dựng công cụ để minh bạch hóa, làm trong sạch đời sống chính trị. Xây dựng nhà nước pháp quyền càng giúp cho Đảng trong sạch hơn, hoạt động minh bạch, hiệu quả hơn. Nói cách khác, bản lĩnh chính trị cao nhất của một đảng chính trị cầm quyền thể hiện qua việc xây dựng nhà nước của mình. Do vậy, nhiệm vụ xây dựng nhà nước pháp quyền cần phải được quan tâm, tập trung đẩy mạnh hơn nữa.

. Xin cảm ơn ông.

NGHĨA NHÂN thực hiện

“Hiến pháp không phải để ban ơn cho nhân dân”


Cần phải nhận thức đúng về Hiến pháp theo nghĩa Hiến pháp không phải là thứ ban ơn của Nhà nước dành cho công dân, không phải Nhà nước cho thế nào được thế nấy.

Trong quá trình sửa đổi Hiến pháp 1992 (sửa đổi 2001) hiện nay, người ta nhắc rất nhiều đến Hiến pháp 1946 và tư duy xây dựng luật của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cách thức thiết kế, thể hiện các quyền con người, quyền công dân trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta đã chứa đựng những tư tưởng tiến bộ mà cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Pháp Luật TP.HCM đã trao đổi với PGS-TS Nguyễn Như Phát, Viện trưởng Viện Nhà nước và Pháp luật (Viện Khoa học xã hội Việt Nam), xung quanh vấn đề này.

. Phóng viên: Những giá trị tiến bộ của Hiến pháp 1946 về quyền công dân là gì, thưa ông?

+ PGS-TS Nguyễn Như Phát (ảnh): Dưới thời Chủ tịch Hồ Chí Minh, do bối cảnh chính trị xã hội lúc bấy giờ, những người soạn thảo Hiến pháp 1946 là những người có tài, thức thời và không bị chi phối bởi tư tưởng giai cấp hoặc chính trị quá nhiều. Do đó, bản Hiến pháp đầu tiên này có những giá trị rất cấp tiến, tư duy mạch lạc, thể hiện tư tưởng tiến bộ của chủ nghĩa lập hiến hiện đại. Theo đó, Hiến pháp là “văn bản ủy quyền” của nhân dân cho Nhà nước, trao cho Nhà nước hệ thống quyền lực cụ thể của nhân dân, ấn định việc phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực và các nguyên tắc, phương pháp thực thi quyền lực Nhà nước cũng như ghi nhận và xác lập trách nhiệm của Nhà nước trong việc đảm bảo thực thi các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.
Tinh thần của Hiến pháp 1946 như vậy nên ngay cả việc sắp xếp các chương thì quyền con người, quyền công dân cũng nằm ở chương hai trong khi trong Hiến pháp hiện hành là chương năm. Sắp tới, bản Hiến pháp sửa đổi chắc sẽ có sự thay đổi và quay về cách sắp xếp của bản Hiến pháp ban đầu.
Mặt khác, Hiến pháp vẫn là văn bản quy phạm pháp luật và phải có giá trị thi hành. Điều đó có nghĩa là quyền của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp có giá trị áp dụng trực tiếp, không có nhu cầu cần phải cụ thể hóa. Những quyền của công dân trong Hiến pháp 1946 thể hiện rõ nhất điều đó chứ không kèm thêm câu “theo quy định của pháp luật” như từ Hiến pháp 1980 trở đi.
Trên thực tế thì quyền và nghĩa vụ công dân trong Hiến pháp thường cần đến luật quy định cụ thể. Muốn điều chỉnh những quyền này của công dân thì Nhà nước phải có luật nhưng không phải là cắt xén tinh thần của Hiến pháp. Luật đó chỉ mang tính chất trình tự thủ tục và dĩ nhiên, ở một xã hội văn minh thì quyền đó phải được thực hiện trong một khuôn khổ và trình tự nhất định. Tuy vậy, việc hạn chế quyền của công dân có thể được thể hiện theo quy định của luật (chứ không phải của mọi pháp luật) và phù hợp với Hiến pháp chứ không phải hạn chế vì lợi ích Nhà nước.

Giữ gìn sự thiêng liêng của Hiến pháp

. Vậy quyền của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp 1946 có gì khác so với hiện nay?

+ Trước giờ chúng ta vẫn quen đánh đồng lợi ích công cộng với lợi ích Nhà nước là một nhưng hoàn toàn không phải như thế. Nhà nước chỉ là một chủ thể trong xã hội và có lợi ích riêng của mình còn xã hội có rất nhiều chủ thể có lợi ích riêng. Những quy định hạn chế một phần, hạn chế quyền của công dân để đảm bảo lợi ích công cộng đều phải được cân đong đo đếm để phù hợp với tinh thần của Hiến pháp.

Theo tôi, cần phải nhận thức đúng về Hiến pháp theo nghĩa Hiến pháp không phải là thứ ban ơn của Nhà nước dành cho công dân, không phải Nhà nước cho thế nào được thế nấy. Đây là sự khác biệt rất lớn về tư tưởng lập hiến từ Hiến pháp năm 1980 trở đi so với Hiến pháp 1946.

Từ Hiến pháp 1980, triết lý lập hiến của ta là mọi quyền cơ bản của công dân đều phải được thực hiện trong khuôn khổ của pháp luật nhưng cách ban hành pháp luật của chúng ta lại có vấn đề. Nếu hiểu theo cách đó thì theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, những ông nghị làng nghị xóm cũng có thể xóa đi một điều trong Hiến pháp. Đơn giản là do các ông ấy có thể ra nghị quyết (được coi là pháp luật) mà nghị quyết này trên thực tế lại không bị kiểm soát. Hơn nữa, trên thực tế, rất ít thấy việc văn bản pháp luật của cấp dưới bị hủy bỏ bởi cấp trên. Như vậy, sự thiêng liêng của Hiến pháp đã bị ảnh hưởng.

Pháp luật không phải để cai trị

. Từ triết lý lập hiến như vậy, ông có suy nghĩ gì về cơ chế ban hành pháp luật hiện nay?

+ Cách thức, tư duy làm luật cũng không khác gì so với việc ban hành Hiến pháp. Lâu nay người ta vẫn nghĩ pháp luật là của Nhà nước, là công cụ mà Nhà nước dùng để cai trị và quản lý xã hội. Vì thế, hiểu theo nghĩa thô thiển, cơ quan ban hành pháp luật dễ “tự do” ấn định ý chí của mình vào văn bản pháp luật để cho dân thực hiện. Đặc biệt, cách tư duy như vậy sinh ra tư tưởng làm luật ban ơn, Nhà nước ban phát đến đâu, dân hưởng đến đó.

Cạnh đó, mọi người vẫn nghe khẩu hiệu đưa pháp luật vào cuộc sống song chưa ai đặt ra vấn đề đưa cuộc sống vào pháp luật. Nếu không đưa cuộc sống vào pháp luật thì pháp luật đang tồn tại có được coi là pháp luật hay không? Đó là chưa bàn tới câu chuyện nó có khả năng thực thi hay không. Luật không phản ánh nhu cầu thật của xã hội thì làm sao xã hội có thể thực hiện nó, ấn nó vào xã hội làm sao được? Đây là vấn đề về tính chính đáng của pháp luật.

. Ông có thể đưa ra những ví dụ cụ thể?

+ Thí dụ việc giao cho Bộ Công an chủ trì soạn thảo Luật Biểu tình thì đương nhiên Bộ Công an phải nghĩ làm sao cho hoạt động an ninh được đảm bảo. Và người ta sẽ có những quy định về biểu tình để đảm bảo an ninh theo nghĩa của những người làm an ninh chứ chưa chắc đã phải là của nhân dân.

Một thí dụ khác là trong ngành tài chính của ta, từ cơ quan nhỏ đến cơ quan to cứ chăm chăm làm sao thu được nhiều thuế của dân. Nhưng kinh tế học chứng minh đó là tư duy sai lầm, kể cả khi việc đó phục vụ cho mục tiêu làm giàu ngân sách quốc gia. Anh thu nhiều thuế, thu thuế cao thì người ta không đóng và sinh ra đủ kiểu trốn thuế. Không có nhà nước nào khôn hơn dân và không có nhà nước nào mạnh hơn dân cả!

Cân đối lợi ích trong ban hành pháp luật

. Thế tại sao tư duy làm luật này vẫn còn tồn tại, thưa ông?

+ Theo tôi, hệ thống thực thi pháp luật, trình tự thủ tục hành chính, tư tưởng đạo đức của con người trong bộ máy nhà nước đang làm cho vấn đề này càng trầm trọng thêm. Thêm vào đó là vấn đề quan trí. Báo chí cũng đã từng lên án về tệ chạy chức chạy quyền. Có mua ắt có bán. Đây là thị trường béo bở mà nhà đầu tư kém cỏi nhất cũng nghĩ đến chuyện hoàn vốn. Trong đó thời gian hoàn vốn chính là nhiệm kỳ, đó là một trong những vấn đề sinh ra tư duy nhiệm kỳ. Tư duy chính trị, truyền thống lập pháp, thực trạng của hệ thống quản lý trên đều là những yếu tố có thể giải thích nguyên nhân tại sao luật pháp lại hay vơ vào cho Nhà nước như vậy.

Bên cạnh đó, tham nhũng chính sách là thứ vô cùng nguy hiểm. Loại tham nhũng này được dựa trên những cơ sở của pháp luật, xuất phát từ vai trò chủ trì soạn thảo pháp luật. Loại tham nhũng này dựa trên cơ sở hợp pháp nên có hậu quả khôn lường.

Lợi ích và cục bộ ngành cũng là vấn đề làm suy yếu Nhà nước. Các bộ, ngành, các địa phương đều cùng ngồi trong một con thuyền là Nhà nước. Nếu họ không cùng phối hợp nhịp nhàng và trên tinh thần phục vụ nhân dân toàn quốc vì sự phát triển chung và đồng đều của đất nước thì sẽ không là những vector cùng chiều để tạo thành sức mạnh chung cho Chính phủ.

Trên thực tế, có những vấn đề vượt phạm vi của một ngành, một bộ, buộc họ phải ngồi lại cùng nhau để ban hành chính sách hay pháp luật (thí dụ như thông tư liên bộ). Những vấn đề lớn hơn sẽ phải do tập thể Chính phủ bàn bạc và quyết định (dưới dạng nghị định). Những vấn đề quan trọng của đất nước phải do Quốc hội quyết định. Trong quá trình đó, nếu không “cân đối” được lợi ích ngành, địa phương với lợi ích quốc gia thì quản lý đất nước sẽ không minh bạch, không thông suốt và tạo kẽ hở cho tiêu cực trong hệ thống và lãng phí xã hội, tạo cơ chế xin - cho.

Những hiện tượng như các địa phương, các ngành tìm cách để xin cơ chế riêng, thậm chí cả các đoàn đại biểu Quốc hội có thể tạm quên đi lợi ích quốc gia mà phấn đấu cho lợi ích địa phương mình… đều là những biểu hiện của chủ nghĩa cục bộ. Những “phi vụ” đó thành công thì cơ chế và chính sách sẽ được hợp pháp hóa. Nếu không đổi những tư duy này từ gốc thì pháp luật của chúng ta không thể làm bà đỡ cho xã hội phát triển.

. Xin cảm ơn ông.



THANH LƯU thực hiện

Cậu bé 11 tuổi không tay đầy nghị lực

Mời bạn đọc xem hai đoạn video về câu chuyện đầy xúc động của Tae Ho (phụ đề tiếng Anh)





TTO - Hai đoạn video trích từ một bộ phim tài liệu được phát sóng vào năm ngoái của đài MBC về một cậu bé mất cả hai tay và mỗi bàn chân chỉ có 4 ngón nhưng rất tự lập và vui vẻ đã khiến cư dân mạng vô cùng xúc động những ngày gần đây.

Theo trang Hellokpop của Hàn Quốc, cậu bé tên là Tae Ho, sinh năm 2000 tại miền nam Hàn Quốc với dị tật bẩm sinh không có cánh tay và chân chỉ có 4 ngón.

Tae Ho bị cha mẹ bỏ rơi khi mới sinh ra, sau đó được cô Seung Ga Won nhận về nuôi.

Đã có lúc, bác sĩ bảo rằng cậu bé sẽ không sống quá 10 tuổi. Nhưng với sự nỗ lực của bản thân, Tae Ho hiện vẫn sống rất vui vẻ, lạc quan. Dù không có tay nhưng cậu bé rất tự lập trong cuộc sống hàng ngày.

Tae Ho có thể dùng chân để đánh răng, thay quần áo, ăn cơm thậm chí còn biết chăm sóc da mặt cho mình. Cậu bé rất thích đi học. Ở lớp, Tae Ho rất vui vẻ, hòa đồng với các bạn.

Người bạn thân nhất của cậu là cô bé Nam Goong Ingee, bạn học từ lớp 2 của Tae Ho. Cô bé thậm chí còn bày tỏ rằng mình sẽ kết hôn với Tae Ho và không bao giờ thay đổi quyết định này.

Câu chuyện về nghị lực phi thường của Tae Ho đã nhanh chóng thu hút sự chú ý của cư dân mạng, làm rung động biết bao trái tim của độc giả. Bạn có nick Meoxudeokinhcan bình luận: “Cậu bé thật tuyệt vời! Hãy mạnh mẽ và cười thật nhiều! Tôi rất ngưỡng mộ cậu bé! Cậu bé đã khiến tôi bật khóc và mỉm cười…”.

Nick Upandenergy chia sẻ: “Tôi không phải là người dễ xúc động…Nhưng khi xem video này tôi đã bật khóc. Có lẽ do bản năng làm mẹ của tôi trỗi dậy nhưng tôi nghĩ phần nhiều là vì chính Tae Ho đã truyền cảm hứng cho tôi mặc dù những điều bất hạnh luôn vây quanh cuộc sống của cậu bé. Tôi rất muốn nhìn thấy cậu bé lớn lên là một người khỏe mạnh và là một hình mẫu cho những người khác”.