Thứ Năm, 20 tháng 11, 2014

Vài dòng nhật kí viết ở Khon Kaen

Tôi có thói quen ghi nhật kí khi đi đây đi đó (và tôi đi rất nhiều). Đây là loạt bài nhật kí tôi viết nhân chuyến đi làm sabbatical leave bên Thái Lan vào tháng 5/2013. Loạt bài đăng trên website cá nhân nhưng bị đánh sập nên không còn tìm lại được. May mắn quá, trong khi đi tìm tài liệu, tôi phát hiện bài được lưu giữ trong một website về Thái Lan – Việt Nam, nên tôi đem về trang blog này, trước là chia sẻcùng các bạn, và sau là làm kỉ niệm.

Mấy ngày qua bận điđây đó liên tục nên không có thì giờ cập nhật trang web. Hôm nay tương đối ổnđịnh (chờ chuyến bay đi Bangkok) nên tôi muốn ghi lại vài dòng để gọi là nhật kí mở. Lần này, tôi ghé thăm Đại học Khon Kaen (KKU), và tuy chưa đầy một tuần nhưng cũng có thể ghi lại vài cảm nhận riêng…
 
Ở đại học phương Tây họ có một truyền thống có thể nói là hay hay, đó là sabbatical leave. Chẳng biết dịch sang tiếng Việt ra sao, nhưng đó là một dịp nghỉ cho những giảng viên và giáo sư đại học. Một giáo sư hay giảng viên sau 10 năm phục vụ, người ta [gần như bắt buộc] phải lấy sabbatical leave, tức phải nghỉ trong vòng 3 tháng, và thường phải rời đại học đến một nơi nào đó. Nhưng đây không phải là nghỉ hè hay giống nghỉ thường niên bình thường, mà thực chất là nghỉtheo kiểu học thuật, khoa bảng. Thời gian nghỉ đó phải có “sản phẩm”. Sản phẩm có thể là sách, hay bài báo khoa học, hay công trình hợp tác, v.v. Thông thường, các giáo sư chọn đi nước ngoài làm visiting professor (giáo sư thỉnh giảng) một thời gian để tịnh dưỡng và gột rửa đầu óc, và nạp năng lượng cho 10 năm tới. Tôi cũng không phải là ngoại lệ, nên tôi cũng lấy sabbatical leave. Tôi may mắn được KKU bổ nhiệm làm visiting professor nên tôi đếnđây để tịnh dưỡng.
 
Tôi đến KKU trong một ngày nóng bức và cũng là một thay đổi đáng kể. Đi từ Sydney, nơi mà nhiệt độhiện nay là khoảng 12-20 độ C, đến một nơi mà nhiệt độ lên đến 35 độ C, thì quảlà một thay đổi đáng kể. Thay đổi môi trường chung quanh nữa. Tôi cứ tưởng rằng Khon Kaen là một tỉnh như Cần Thơ ta, nhưng đâu ngờ rằng nó có vẻlớn hơn, và chắc chắn là giàu có hơn Cần Thơ nhiều. Phi trường tương đối lớn (Boeing 747 có thể đáp), và phía trong phi trường thì lịch sự chẳng khác gì một phi trường trung bình ở Mĩ. Ra ngoài đường thì thấy toàn xe hơi, rất rất ít xe gắn máy chạy trên đường. Đường xá thẳng tấp và rộng, chưa phải là freeway nhưng cũng xấp xỉ xa lộ trung bình bên Mĩ (2-5 lằn xe mỗi bên). Tôi hỏi anh bạn những con lộ liên tỉnh này xây từ bao giờ, thì được biết là từ những năm trong thập niên 1970s. Tức là trong lúc VN đánh nhau với Mĩ thì Thái Lan xây dựng hạ tầng cơ sở. Chả thế mà ngày nay nông thôn của họ phát triển hơn (và có thể nói là văn minh hơn – hiểu theo nghĩa cơ khí hoá hơn) nông thôn VN.

Trước khi về nhận phòng, anh bạn tôi chở đi dạo một vòng đại học KKU. Tôi chỉ có thể nói ngắn gọn rằng: impressive (ấn tượng). KKU có một khuôn viên rất rộng, gần 3.3 triệu mét vuông. Nếu tính diện tích thì KKU là đại học lớn nhất Thái Lan. Điều quan trọng là cây cối xanh mát trong toàn bộ khuôn viên đại học. KKU chẳng khác gì một đại học lớn vùng Trung Tây nước Mĩ. Cách thiết kế tổng quan rõ ràng là chịu ảnh hưởng của Mĩ. Mĩ cũng từng là“người” thiết kế Đại học Cần Thơ và Đại học Nông Lâm (ngày nay) với khuôn viên xanh và rộng. Do đó, tôi đoán rằng đây là một “tác phẩm” của Mĩ, nhưng tôi phải hỏi lại cho chắc chắn hơn.
 
Cả khuôn viên đại học nhưlà một thị xã nhỏ. Đi từ khoa này sang khoa khác phải bằng xe hơi hay bus. Đường lộ có lane đàng hoàng với đèn giao thông điều phối giao thông. Buổi sáng còn có cả cảnh sát trường (bảo vệ) điều hành giao thông, vì quá nhiều xe hơi. Ngay cả sinh viên cũng lái xe hơi đi học! Tất cả các sinh hoạt thường ngày như mua sắm siêu thị, nhà hàng, dịch vụ ngân hàng, v.v. đều có ngay trong campus. Do đó, nhân viên và sinh viên chẳng cần điđâu xa, và họ xem đây như là một thành phố đại học. Thành phố này nó dễthương hơn thành phố đại học bên Mĩ, bởi vì nó vẫn còn dáng dấp Á châu, nhưng là loại Á châu văn minh và có văn hoá cao. Mấy ngày qua, tôi chưa bao giờnghe tiếng kèn xe chửi bới nhau hay cảnh báo nhau như bên Việt Nam. Ai cũng rất nhỏ nhẹ, và sẵn sàng nhường đường. Xe cộ đậu trước cửa hàng hay khách sạn không cần khoá.
 
Khuôn viên đại học có rất nhiều toà nhà (building). Riêng cái thư viện của đại học đã bằng một đại học trung bình của Việt Nam! Hiệu trưởng và hiệu phó “chiếm” một building hoàng tráng riêng! KKU còn có những cơ sở vật chất để giải trí (như tập thểthao, hồ bơi, chiếu phim, hội trường) và đều được đặt ở những vị trí rấtđẹp. Thích nhất là đi đâu cũng thấy cây xanh. Riêng hai khoa nông nghiệp và y có lẽ là lớn nhất của đại học, vì tôi thấy hai khoa này chiếm một khoảnh đất rất rộng so với các khoa khác. Trước khi sang đây, tôi tưởng tượng trường này như ĐH Cần Thơ hay Huế của ta, và khoa y thì chắc "same same" trường y Hà Nội. Nhưng khi đi một vòng bằng xe hơi thì tôi thấy mình tưởng tượng sai be bét. Đại học KK giống y như những đại học lớn của Mĩ mà tôi từng biết, với những cơ sở vật chất không chê được. Hệ thống internet phải nói là tuyệt vời, có khi còn nhanh hơn cả hệ thống internet của UNSW bên Úc!
Ấy thế m KKU chưa đầy 50 tuổi. Được thành lập từ năm 1964, và đến nay thì KKU đã có 35 ngàn sinh viên. Về nghiên cứu khoa học, KKU đứng hàng top 5 của Thái Lan và top 50 của Á châu. Riêng khoa y mới có 41 tuổi thôi (mới thành lập năm 1972). Trong thời gian 41 năm, họ đã đào tạo được 3000 bác sĩ. Hiện nay, mỗi năm sốsinh viên nhận vào là khoảng 300, cộng với 300 là nghiên cứu sinh. Anh khoa trưởng cho tôi biết khoa y có gần 4700 nhân viên, kể cả y tá, bác sĩ và giảng viên. Trong số này, có 26 giáo sư, 153 phó giáo sư, 122 assistant professor, và 114 giảng viên. Khoa y có 89 chương trình học, trong đó 4 là quốc tế, tức các tổ chức quốc tế ủy nhiệm để đào tạo, như chương trình bệnh nhiệtđới chẳng hạn.

Một góc của khoa y, KKU (chụp từ tầng 16).
Toàn cảnh có đến gần 20 buildings!
 
Tôi hoàn toàn cảm thấy “at home” khi đến đây. Không phải sự chào đón nồng nhiệt của đồng nghiệp, mà là những thủ tục hành chính hết sức tinh giản. Phong cách làm việc rất tây (westernized), nên làm việc với họ rất thoải mái. Ai cũng cầu thị và muốn trao đổi học thuật. Làm seminar hay mời giảng, họ chẳng cần xin phép ai (dĩ nhiên), mà còn kêu gọi nhiều khoa khác đến dự. Một phong cách làm việc hoàn toàn tây. Hầu hết các bác sĩ và tất cả giáo sư ai cũng nói tiếng Anh thông thạo (vì họ đều đi học nước ngoài, chủ yếu là Mĩ), nên rất dễ trao đổi.
 
Hiện nay, Thái Lan có tham vọng (và đang thực hiện tham vọng) để trở thành một trung tâm giáo dục của Á châu và Đông Nam Á. Do đó, họ tích cực thu hút sinh viên và nghiên cứu sinh từ nước ngoài đến đây học. Trong số 20 nước gửi sinh viên đến đây, có Việt Nam ta. Theo một vài em ở đây thì số nghiên cứu sinh Việt Nam ởKKU hiện nay là khoảng 40-50 người. Họ theo học trong các khoa y, nha, y tế công cộng, điều dưỡng, khoa học máy tính, nông nghiệp, v.v. Tiêu chuẩn tốt nghiệp ở đây cũng chẳng khác gì các đại học phương Tây, tức phải có 2-3 bài báo khoa học trên các tập san ISI mới được bảo vệ luận án. Ngay cả masters, họ cùngđòi phải có bài báo khoa học!
 
Tôi đoán rằng những tiêu chuẩn này là một cách để họ nâng cao tầm của KKU. Như nói trên, hiện nay KKU đứng hạng 4 ở Thái Lan, hạng top 50 trong Á châu, và hạng 508 trên thếgiới. KKU có tham vọng trở thành top 200 trên thế giới, nên họ rất quan tâm đến nghiên cứu khoa học và công bố quốc tế. Trường có sẵn một máy làm gene sequencing mới toanh, và dành một ngân sách lớn cho nghiên cứu khoa học. Tôi đoán rằng việc họ mời tôi đến đây có thể nằm trong chiến lược tổng thể đó. Trong thời gian ở đây, tôi sẽ làm 3 nhiệm vụ chính là giảng trong các seminar của các bộ môn, hợp tác, và tư vấn cho các đồng nghiệp và nghiên cứu sinh. Office tôi ở lầu 16, lúc nào cũng rộng mở chào khách! Thật ra, còn một “việc” nữa, đó là nghỉ dưỡng :-). Tôi sẽ giảng 10 bài trong tháng này cho họ. Một trong những bài giảng seminar mà họ mời tôi phải nói là tại sao bài báo khoa học bị từ chối. Mới bàn ngày hôm qua, mà hôm nay họ đã quảng cáo ầm ĩ trong khoa y và các khoa lân cận.
 
Tôi sẽ có 2 bài giảng khoáng đại, và đây là bài số 1. Hi vọng sẽ gặp các bạn nghiên cứu Việt Nam trong ngày 21/5 tới đây. Bài số 2 tôi sẽ nói về những định hướng mới trong loãng xương, nhưng chưa biết ngày nào.
 
Thật vậy, mới có mấy ngày ở đây mà tôi đã yêu cái khung cảnh này rồi. Tôi được sắp xếp ở một nhà trọ,trong một con đường khá yên tỉnh. Đường nhỏ thôi, người nhà bên này nhìn sang thấy sinh hoạt nhà bên kia. Nhưng cái hay là nó vẫn duy trì được cái khung cảnh quê. Bên cạnh nhà có khu vườn xanh tươi và một cây rất lớn nơi mà trưa hè mình có thể ngồi đó hóng gió. Sáng ra, trong cái môi trường nhiệtđới ấm ấm, tôi lấy ghế ra ngoài nhâm nhi li cà phê và đọc báo … mạng, thỉnh thoảng có mấy chiếc xe đạp và xe gắn máy chạy ngang, nhìn đời thú vị biết bao. Ở đây, người địa phương bắt đầu biết tôi là khách nước ngoài, nên sáng nào ai cũng đi ngang chào bằng tiếng Anh (chắc là để học tiếng Anh luôn!) Ai cũng chấp tay chào nhau, và tôi cũng phải học cái protocol rất hay này.
Hẹn dịp khác sẽ có thêm thông tin để chia sẻ, còn bây giờ tôi phải lên máy bay đi Bangkok …

RIP_CURENTS - DÒNG CHẢY XA BỜ - CẨN TẮC VÔ ÁY NÁY

Trong những ngày hè nóng nực, không có gì vui thú bằng đưa gia đình đi tắm biển. Nước ta có bờ biển dài hơn 3000 km, có nhiều bãi biển đẹp nên tắm biển là một trong những thú vui của nhiều gia đình vào cuối tuần. Mọi người vui thú vẫy vùng cùng sóng biển, trẻ con đào cát, xây lâu đài cát chán chê rồi kéo nhau nhảy ùm xuống biển, ngụp lặn theo từng con sóng vỗ bờ. Đây cũng là dịp để chúng ta tán chuyện, thưởng thức những món hải sải tuyệt vời, rồi trở về nhà trong trạng thái tinh thần phấn chấn cho một tuần làm việc mới.Tuy nhiên tắm biển cũng tiềm ẩn những mối nguy hiểm. Thỉnh thoảng, chúng ta nghe chuyện thương tâm về những người hoặc trẻ em bị cuốn trôi ra biển mà mọi ứng cứu đều trở nên quá muộn màng. Cứ vài tuần tôi lại thấy báo online đưa tin vài người tắm biển, thường là các em nhỏ, bị sóng cuốn chết đuối.

Trong bài này, tôi đề cập đến một vấn đề an toàn khi chúng ta cần quan tâm khi đưa con mình đi tắm biển. Trẻ em thích tắm biển còn trách nhiệm của chúng ta là giúp cho các con của chúng ta tắm biển một cách an toàn.
Điều quan trọng đầu tiên là chúng ta nên tắm biền ở những bãi tắm có lực lượng cứu cấp chuyên môn và tắm trong những khu vực được báo hiệu an toàn. Ngoài ra, trước khi cho con mình xuống biển, chúng ta cần quan sát bãi biển để tìm dòng chảy xa bờ (rip current) cũng như ước lượng độ dốc và độ sâu của bãi biển.

Dòng chảy xa bờ
Dòng chảy xa bờ là danh từ tôi tạm dịch từ “rip” hay “rip current”. Đây là một dòng nước mạnh chảy từ bờ hướng ra biển. Chúng ta biết là sóng sẽ đánh và đưa nước biển vào bờ, nhưng khi nước biển được liên tiếp đưa vào bờ thì chúng tập hợp lại thành một dòng đi ngược ra biển. Dòng nước biển đi từ bờ ra biển này được gọi là rip (hay rip current).

(Ghi chú: tôi rất cám ơn nếu có anh chị nào cho biết danh từ chính xác hơn để dịch từ rip current)Hình ảnh trên cho chúng ta thấy một dòng chảy xa bờ. Trong thí nghiệm này, người ta rắc chất màu sát bờ biển. Người ta quan sát thấy chất màu bị kéo ra xa bờ, chứng tỏ nơi đó dòng nước đi ngược từ bờ ra biển. Chúng ta cũng thấy nơi dòng nước đi từ bờ ra biển là vùng nước lặng, hầu như không có sóng.
Dòng nước ngược này có thể ổn định không thay đổi trong suốt cả tháng hoặc cả năm, tuy nhiên chúng cũng có thể liên tiếp thay đổi mỗi vài giờ. Ở một số bãi biển, dòng nước ngược này không đi hướng ra biển mà chạy dọc theo bờ biển.
Vì sao chúng ta phải nhận ra dòng chảy xa bờ trước khi xuống biển? Vì chúng rất nguy hiểm.

Tại sao dòng chảy xa bờ nguy hiểm?
Dòng chảy xa bờ là được xem là một trong những nguy hiểm hàng đầu trên bờ biển. Nó cũng là nguyên nhân của hầu hết các trường hợp cứu cấp và chết đuối khi tắm biển. Dòng chảy xa bờ được ví như một dòng sông nhỏ sẽ cuốn tất cả những gì rơi vào nó xa khỏi bờ và đưa thẳng ra biển. Vận tốc trung bình dòng chảy có thể thay đổi từ 0,5 m/giây đến 1m/giây, khi đó không ai có khả năng bơi ngược nó để vào bờ. Có khi do những thay đổi đột ngột của sóng biển, vận tốc dòng chảy xa bờ có thể lên đến 2,5 m/giây, nhanh hơn cả vận tốc bơi của một vận động viên bơi lội Olympic! Dòng chảy xa bờ thường hẹp, có chiều ngang khoảng từ 1-3 mét. Tuy nhiên, có khi dòng chảy xa bờ rộng đến cả chục mét.
Dòng chảy xa bờ có thể vô cùng nguy hiểm vì nó kéo người biết bơi ra xa bờ làm cho người biết bơi kiệt sức hoảng loạn rồi chết đuối do kiệt sức khi cố bơi ngược dòng chảy xa bờ.
Đối với người không biết bơi, dòng chảy xa bờ có thể kéo người đó ra chỗ sâu hơn dù người đó đang đứng ở mực nước ngang hông. Khi đó người không biết bơi sẽ hốt hoảng và có thể chết đuối.

Mặt nước nơi có dòng chảy xa bờ thường lặng, ít sóng nên thường làm cho người ta hiểu lầm đó là nơi an toàn. Người ta sẽ di chuyển sang tắm nơi đó thay vì tắm nơi có biển báo an toàn. Khi người tắm biển bơi vào dòng chảy xa bờ đó, ngay lập tức họ sẽ có thể bị cuốn trôi ra biển.
Do đó, khi tắm biển, chúng ta cần nhớ rằng vùng nước lặng không có nghĩa là vùng nước an toàn.



Trong hình trên đây, nơi có sóng bạc đầu là nơi dòng nước đi từ biển vào gần bờ. Nếu chúng ta tắm biển nơi có sóng bạc đầu (breaking waves) thì chúng ta sẽ được sóng đánh đưa vào bờ. Tuy nhiên nếu chúng ta di chuyển vào tắm chỗ lặng sóng (giữa hai mũi tên) là chúng ta rơi vào dòng chảy xa bờ. Dòng sông nhỏ này sẽ lập tức kéo phăng chúng ta ra xa khỏi bờ và đưa thẳng chúng ta ra biển. Như vậy, vùng có sóng không phải là vùng nguy hiểm mà vùng lặng sóng mới chính là vùng nguy hiểm.

Một ví dụ khác như hình trên đây. Vùng không có sóng bạc đầu chính là dòng chảy xa bờ. Vùng này rất nguy hiểm dù chúng lặng sóng. Khi chúng ta đi vào vùng này, chúng ta có thể bị bị dòng chảy xa bờ cuốn trôi ra biển.

Làm thế nào để nhận ra dòng chảy xa bờ?
Trước khi xuống biển, bạn nên dành khoảng 5-10 phút để nhận dạng dòng chảy xa bờ trên bờ biển mà bạn sắp xuống tắm.
Bạn có thể nhận ra dòng chảy xa bờ nhờ những đặc điểm sau đây:
· Dòng chảy xa bờ có màu sậm hơn vì nơi đó nước sâu hơn.
· Dòng chảy xa bờ có mặt nước lặng hơn, thường có sóng nhỏ hơn
· Đôi khi chúng ta có thể thấy các mảnh vỡ hay bọt nước nổi trên mặt dòng chảy xa bờ và trôi ra biển

Cách thoát ra khỏi dòng chảy xa bờ
Các khảo sát cho thấy dòng chảy xa bờ không kéo người ta xuống nước. Dòng chảy xa bờ chỉ kéo người bơi ra xa bờ và thường sẽ đưa người bơi vào vùng có sóng bạc đầu (breaking waves) và sóng sẽ đưa người đó lại vào bờ. Tuy nhiên người ta thường chết đuối khi rơi vào dòng chảy xa bờ vì bản năng tự nhiên khiến người biết bơi bơi ngược dòng chảy xa bờ để vào bờ khiến người đó mau chóng kiệt sức rồi chết đuối. Bên cạnh đó, sự hoảng loạn khiến người bơi không còn khả năng phán đoán chính xác.
Dòng chảy xa bờ có thể gây nguy hiểm bất cứ lúc nào, không phải chỉ khi có sóng lớn. Khi sóng to thì vận tốc dòng chảy xa bờ cũng nhanh hơn gây nguy hiểm hơn cho người bơi. Tuy nhiên, khi đó thường ít có người xuống biển tắm vì e ngại sóng to. Vào những ngày sóng không lớn, trái lại, người ta thường chết đuối nhiều hơn vì có nhiều người xuống biển tắm. Khi thấy sóng không quá to người ta thường chủ quan và không quan tâm đến dòng chảy xa bờ.
Điều quan trọng khi bị rơi vào dòng chảy ra bờ là tuyệt đối không được cố bơi ngược dòng chảy xa bờ để vào bờ.
Lời khuyên của chuyên viên khi chúng ta bị rơi vào dòng chảy xa bờ:
· Bình tĩnh. Không hoảng loạn
· Không cố bơi ngược dòng chảy xa bờ
· Đối với người bơi giỏi: nếu bạn tự tin, hãy bơi song song với bờ biển, thường sẽ hướng đến chỗ vùng có sóng bạc đầu và nhờ sóng đưa bạn trở lại vào bờ
· Đối với người bơi yếu: bất cứ khi nào bạn thấy không thể chạm bờ biển hoặc thấy đuối sức, hãy giơ tay lên ra hiệu, bình tĩnh, thả nổi để giữ sức và gọi trợ giúp.
· Nếu dòng chảy xa bờ yếu đi, cố gắng bơi song song với bờ biển để đến chỗ có sóng bạc đầu nhờ sóng đưa bạn vào bờ.
· Một lần nữa, bất cứ khi nào bạn thấy không thể chạm bờ biển hoặc thấy đuối sức, hãy giơ tay lên ra hiệu, bình tĩnh, thả nổi để giữ sức và gọi trợ giúp.
Dể giảm nguy cơ rơi vào dòng chảy xa bờ, bạn cần phải có những hiểu biết về chúng, biết cách nhận dạng và không nên bơi trong hoặc gần dòng chảy xa bờ. 
Bạn nên tắm biển ở những bờ biển có lực lượng cứu cấp chuyên môn và bơi ở vùng an toàn (ở Úc là vùng giữa cờ đỏ và cờ vàng). Bạn cần quan sát các chỉ báo an toàn và nếu cần thì nên trao đổi với nhân viên cứu cấp để biết đặc điểm bờ biển mà bạn sắp xuống tắm.
Ngoài ra bạn cũng cần biết bơi và không nên bơi một mình. Nếu bạn không chắc thì không nên xuống biển tắm.



Lời kết

Trước khi tắm biển, chúng ta cần tìm hiểu đặc điểm và độ an toàn của bãi biển mà chúng ta sắp xuống tắm. Chúng ta cần dành vài phút để nhận dạng dòng chảy xa bờ và không nên bơi gần những vùng đó. Khi chẳng may rơi vào dòng chảy xa bờ, chúng ta cần bình tĩnh tìm cách thoát ra khỏi dòng chảy đó bằng cách bơi song song với bờ biển hoặc bơi vuông góc với dòng chảy xa bờ để vào vùng có sóng bạc đầu để nhờ sóng đưa chúng ta vào bờ. Tuyệt đối không nên bơi ngược dòng chảy xa bờ và luôn nhớ là vùng bờ biển lặng sóng không có nghĩa là nơi đó an toàn.

Chúng ta hãy cùng nhau phổ biến kiến thức về dòng chảy xa bờ này đến các cha mẹ trẻ, đến mọi người để giúp các con chúng ta tắm biển một cách an toàn.

Trắc nghiệm
Các bạn hãy chỉ ra dòng chảy xa bờ thấy được trên hình sau đây




Tài liệu tham khảo online:
http://home.vicnet.net.au/~prace/beach/rip.htm
http://www.scienceofthesurf.com/
http://www.ripcurrents.com.au/Home.aspx

Thứ Ba, 18 tháng 11, 2014

Kể chuyện làng báo Sài gòn 35 năm về trước


Nguyễn Ang Ca
 
Cố văn sĩ Bình Nguyên Lộc có nói: «Trong làng báo có ba cây viết vừa nhà báo, vừa nhà binh cùng mang tật nói lắp. Đó là Nguyễn Bính Thinh, Nguyễn Đạt Thịnh và Nguyễn Ang Ca, cả ba đều cà lăm khi gặp phải chuyện xúc động hoặc trước... phụ nữ đẹp »
Hình: Nguyễn Ang Ca [1989]
 
Quả thật An Khê và tôi có lắm sự trùng hợp  ngẫu nhiên. Cùng họ Nguyễn và bút hiệu bắt đầu bằng chữ An, tuy chữ Ang của tôi có G, nhưng phần lớn khi biên thư, các bạn hay gọi tôi là An Ca. Anh An Khê và tôi cùng giống nhau giấy căn cước: sanh tại làng Tân Hưng, tỉnh Sa Đéc. Khi chánh thức lãnh lương nhà báo, mang danh xưng ký giả chuyên nghiệp trùng một năm:1950. Tôi và anh An Khê có một người anh chung trong nghề nghiệp, một «nghĩa huynh» mà chúng tôi kính yêu như cùng chung huyết thống: anh Bình Nguyên Lộc. Chưa hết, anh An Khê và tôi cưới vợ một lượt năm 1950.
Anh An Khê tên thật là Nguyễn Bính Thinh, con trai của cố bác sĩ Nguyễn Bính (không phải là nhà thơ Nguyễn Bính), gốc người Trà Vinh. Bác sĩ Nguyễn Bính là vị y sĩ Đông Dương xuất thân khóa đầu tiên ở trường Thuốc Hà Nội. Khi còn đi học, bác sĩ Nguyễn Bính làm thơ Đường và viết sách lấy biệt hiệu là Biến Ngũ Nhy.
Ông bà bác sĩ Nguyễn Bính (bà vốn là cô đỡ ở nhà thương Phủ Doãn, Hà nội) có tất cả 11 người con (4 trai, 7 gái). Trong số anh trai của An Khê có người anh thứ tư là dược sĩ kiêm tiến sĩ khoa học, ông Nguyễn Bính Tiên, từng có nhà thuốc tên Pharmacie Tiên ở đường Bonard (sau nầy là Lê Lợi) ngang bịnh viện Saigon. Xuất thân từ báo Đọc Thấy vàĐời Mới của cụ Trần Văn Ân, viết hai loại truyện dã sử (ký tên Cửu Lang) và tình cảm (ký Vân Nga). Có một thời, độc giả rất say mê theo dõi loạt truyện dã sử của Cửu Lang như Xương máu Phiên Ngung, Người anh hùng mặt sắt (Mai thúc Loan), Đoàn quân ma (Trần Quốc Toản), Ngai vàng sụp đổ. Còn loại truyện tình cảm của Vân Nga như: Ánh sáng đô thành, Cây kiếng vàng…rất được nữ độc giả hoan nghinh.
Khi giã từ anh Huỳnh Hoài Lạc (gốc người Long Xuyên), chủ nhiệm báo Thời Cuộc (thay cố chủ nhiệm Đinh Xuân Tiếu bị ám sát chết một lượt với ký giả Nam Quốc Cang), tôi sang đầu quân cho nhựt báo Tiếng Chuông của ông Đinh Văn Khai, cũng gốc  người Long Xuyên.
Còn anh An Khê thì chia tay với cụ Trần Văn Ân (gốc người Thốt Nốt, Long Xuyên) sang giúp cho báo Dân Đen của ký giả Nguyễn Duy Hinh. Thời kỳ 1950-60, ký giả Nguyễn Duy Hinh có biệt tài viết phóng sự điều tra, rất sôi nổi, anh Hinh lại có tài «quậy», tạo nên nhiều tin giựt gân, hấp dẫn độc giả.
Ngoài ra, anh An Khê còn lãnh viết feuilleton cho báo Buổi Sáng của Tam Mộc Mai Lan Quế và báo Công Nhân của ký giả Trần Tấn Quốc (chủ tịch Tổng Liên Đoàn Lao Công Trần Quốc Bửu cho mượn manchette). Vào thời nầy, anh chị Đinh Văn Khai rất phiền Nguyễn duy Hinh vì đang cộng tác và được ưu đãi ở nhựt báo Tiếng Chuông, anh Hinh tách ra lập báo Dân Đen và đăng một loạt bài công kích anh Đinh Văn Khai một cách kịch liệt.
Anh chị chủ nhiệm báo Tiếng Chuông cũng rất buồn anh Tam Mộc, bởi anh chủ nhiệm báo Buổi Sáng, ở phụ tranh hài hước, với bút hiệu Tám Móc hay phụ họa theo anh Nguyễn Duy Hinh để soi mói đời tư của anh chị Đinh Văn Khai. Lúc đó, người em thúc bá với Tam Mộc là tướng Mai Hữu Xuân có nhiều quyền uy, nên tuy tức tối, anh chi Khai chẳng dám có phản ứng gì!
Trong lúc An Khê có đất dụng võ ở ba tờ báo lớn, anh suýt chút nữa lại làm bể nồi cơm của một phóng viên. Số là ngoài bút hiệu Vân Nga, tên con gái đầu lòng, truyện tình cảm của An Khê viết cho Buổi Sáng, anh còn ký tên vợ là Trương Thanh Vân.
Ở tòa soạn báo Tiếng Chuông có phóng viên kiêm nhiếp ảnh viên Quốc Phượng (có khuôn mặt và nụ cười rất giống với  tôi, nên tại tòa soạn báo Tiếng Chuông thường xảy ra lắm chuyện nực cười khi nữ độc giả đi tìm tên thiệt của Trương Thanh Vân). Thường chủ báo buộc cộng tác viên không được viết cho báo khác (ngoại trừ tiểu thuyết gia viết feuilleton và thông tín viên ăn tiền từng bản tin), huống chi báo Tiếng Chuông đang căng thẳng với báo Buổi Sáng, nên anh chị Đinh Văn Khai cằn nhằn Quốc Phượng» ăn cây nào sao không rào cây đó» lại nỡ  «ăn cơm tôi mà lại tiếp tay kẻ khác để hại tôi».
Quốc Phượng thề bán mạng là tên Trương Thanh Vân trên báo Buổi Sáng không phải của anh, nhưng chủ nhiệm báo Tiếng Chuông nhứt định không tin, cho người móc nối với thợ sắp chữ Buổi Sáng đem bản thảo của Trương Thanh Vân về coi, nhưng vì bản thảo đánh máy nên oan tình của Quốc Phượng vẫn không giải tỏa, có miệng mà chẳng thể kêu oan, mà có kêu nào ai tin!
Một hôm Quốc Phượng nhờ An Khê chở đi sân Cộng Hòa xem đá banh, vì chiếc xe Lambretta của Quốc Phượng bị hỏng máy. Nhìn cái plaque ở xe mô tô của An Khê có mang tên chủ xe là Trương Thanh Vân, hỏi rõ, Quốc Phượng la lên :
- Trời ơi, ông báo hại tôi bị nghi oan, suýt bể nồi cơm đây, ông nội ơi!
Rồi thay vì nhờ An Khê đưa vào sân Cộng Hòa, Quốc Phượng kêu An Khê chở về đường Gia Long, đến tòa soạn Tiếng Chuông để làm sáng tỏ nỗi oan…Thị Kính.
Sau nầy, khi có dịp tâm sự với tôi, Quốc Phượng kể lúc ông bà Đinh Văn Khai giận, nếu không có sự can thiệp của họa sĩ Phạm Thăng và ký giả Phong Đạm (cũng như các anh Huyền Vũ, Lê Tân, Phong Đạm người gốc Phan Thiết, chuyên phụ trách trang trong. Nhỏ con mà kết duyên một lượt với hai chị em, sản xuất trên chục con…) thì QP đã bị tống ra khỏi báo Tiếng Chuông rồi !
Chỉ trong khoảng thời gian từ 1958-1972, An Khê đã viết trên 200 loạt truyện đủ cỡ, đủ loại, và có lúc, anh dám lãnh viết feuilleton một ngày cho…13 tờ báo. Nhiều anh em trong làng thấy mỗi ngày, anh và con gái anh thay nhau chạy giao bài cho các báo, có lúc phải đưa thẳng bản thảo cho nhà in, vì ấn công đang ngóng cổ đợi bài, anh em đã gọi đùa An Khê là phụng hoàng Lê Thành Các, cua rơ đại tài của làng xe đạp đã tạo nhiều kỷ lục phi thường trên lộ trình có nhiều đèo cao dốc cả!
Mà quả thật, trong làng văn làng báo từ xưa đến lúc đó, chưa ai viết nhanh, viết khỏe như An Khê, và trong cuộc đời sở trường viết feuilleton của An Khê, có lắm giai đoạn thật ly kỳ đặc biệt mà anh em chúng tôi còn nhớ kỹ.
Hại anh Trần Tấn Quốc gần nổi khùng
Viết truyện trinh thám, gián điệp, sau Phú Đức Nguyễn Đức Nhuận (Châu về hiệp phố), Viên Hoành, Nam Đình…nhưng trước Phi Long (Bàn tay máu), Bùi Anh Tuấn (Z28) rất lâu; anh An Khê dành bút hiệu Nguyễn Bính Long (tên một người anh đã qua đời) viết một loạt truyện điệp báo, mật vụ, phản gián (X30 trong lưới nhện)
Sau 1975, Cộng Sản có cho phát hành một cuốn truyện trinh thám và chúng đã mượn tên X30 của Nguyễn Bính Long. Đó là quyển X30 phá lưới có nhắc lại thời kỳ ông Thiệu  khi còn là trung úy, tùng sự ở Huế. Quyển truyện nầy nghe đâu do nhà văn Nguyễn Minh Lang ở Hà Nội viết, nhưng về sau lại có hai người khác giành quyền tác giả với Nguyễn Minh Lang.
Sau đây tôi nhắc lại chuyện anh An Khê đáp lời mời của ký giả Trần Tấn Quốc viết truyện Rừng Sát hấp hối cho báoCông Nhân. Lúc đó là trào chánh phủ Ngô Đình Diệm, cụ Ngô mới dẹp xong Bình Xuyên, đang xúc tiến tổ chức quốc hội lần 2. An Khê về Rạch Giá ứng cử dân biểu, nhưng bị ăn gian nên lọt sổ. Vì kẹt ở Phú Quốc nên phải viết bài gởi về qua « Air VN » cho nhà báo. Thay vì đề Trần Tấn Quốc, chủ nhiệm nhật báo Công Nhân, 216 Gia Long Saigon, An Khê lại viết chình ình ngoài phong bì: Rừng Sát hấp hối, rồi địa chỉ nhà báo. Có lẽ An Khê nghĩ rằng đề phong bì như vậy, anh chủ nhiệm khi được thơ khỏi phải mở ra coi mà đưa thẳng cho ấn công để tranh thủ thời gian không bị trể bài.
Bấy giờ Bộ Thông Tin uy quyền rất rộng lớn, chế độ kiểm duyệt báo chí khắt khe, ngoài giám đốc báo chí trực thuộc Bộ Thông Tin, anh em làng báo còn bị đè nặng do áp lực của cơ quan Mật vụ.  Cơ quan nầy cũng có văn phòng đặc trách báo chí mà các ông chủ báo rất ngán hai ông Thái Đen, Thái Trắng còn hơn thợ săn đêm ngán gặp cọp.
Tại Tổng Nha Bưu Điện, nhân viên soạn thơ, kiểm duyệt thơ thấy có một phong bì dầy cộm có đề chữ Rừng Sát hấp hối, sợ hỏa tam tinh nên báo cáo lên trưởng phòng. Ông nầy ớn da gà không dám mở ra xem mới trình lên chánh sự vụ, ông nầy cũng phát hoảng hớt ha hớt hải đi trình ông phó giám đốc. Ông Phó đưa phong bì cho ông giám đốc xem.
Trong lúc đó, ở tòa soạn, anh Trần Tấn Quốc ngóng đợi bài của anh An Khê, vì anh em ấn công thúc hối, đang sốt ruột cả mấy bữa thì được thư mời khẩn lên gặp Giám đốc Bưu Điện Saigon. Đến chừng anh Quốc gặp ông giám đốc Nhà Dây Thép, thư được mở ra, mới biết đó là truyện dài của An Khê. Lòng vòng cả tuần lễ và dĩ nhiên anh chủ nhiệm báo Công Nhân phải thay chuyện Rừng Sát hấp hối bằng một chuyện khác.
Trong làng báo lúc bấy giờ, anh Trần Tấn Quốc nổi tiếng có tay nghề cứng, lại vô cùng tôn trọng độc giả mà phải để bài đăng dang dở, lại thêm phải mất công mặc đồ lớn đi gặp chánh quyền khi đang bù đầu «mise » tờ báo, khiến anh Quốc gần phát khùng, nổi sùng An Khê luôn!
Thoạt đầu, Nguyễn Bính Thinh rất bất mãn anh Bình Nguyên Lộc
Phi Vân nghỉ Tiếng Chuông đi làm cho báo Dân Chúng, Nguyễn Kiên Giang được ông bà Đinh Văn Khai mời về làm Tổng thơ ký. Kiên Giang liền mời An Khê về thay Phi Long (tức Ngọc Sơn) để viết truyện gián điệp. Nhưng chủ nhiệm báo Tiếng Chuông lại muốn An Khê viết chuyện dã sử ký là Cửu Lang vì bút hiệu nầy được nhiều độc giả các báo quen biết.
An Khê đánh máy 25 trang bài tóm lược câu chuyện đưa cho tòa soạn Tiếng Chuông. Y ngày hẹn, An Khê đến tòa báo, hỏi điều kiện thì chủ nhiệm và chủ bút Tiếng Chuông đưa An Khê đi gặp nhà văn Bình Nguyên Lộc. Khi đó, Bình Nguyên Lộc vừa về xem trang trong cho Tiếng Chuông, sắp xếp lại bài vở, phụ trang. Gặp An Khê, anh Lộc nói :
- Tôi có đọc các truyện của anh, từ gián điệp đến dã sử. Theo tôi, anh viết truyện tình cảm ướt át lâm ly và hấp dẫn lắm. Anh lại có «fond» hơn bà Tùng Long nhiều, anh yên chí và tự tin đi. Tuần sau, anh đem bài truyện tâm tình đến tôi.
Khi đó, An Khê trong bụng oán trách anh Bình Nguyên Lộc vì từ chủ nhiệm đến chủ bút đều OK cốt chuyện, tại sao anh Lộc lại còn làm khó dễ? Anh Bình Nguyên Lộc còn góp ý :
- Bút hiệu Vân Nga, Trương Thanh Vân đã cũ, Nhuyễn Bính Long thì có vẻ đấm đá quá! Anh nên lấy một bút hiệu mới, không ai biết…là ai mới được! Mình phải tạo cho độc giả yếu tố bất ngờ, tò mò, tìm hiểu...
Rồi chính anh Bình Nguyên Lộc đề nghị :
- Anh là một sĩ quan từng chết hụt trên đoạn đường Qui Nhơn-Pleiku cùng với tướng Nguyễn Khánh. Theo tôi, anh nên chọn bút  hiệu An Khê để kỷ niệm cuộc vào sanh ra tử trong cuộc đời binh nghiệp.
Sau nầy, tại tòa soạn báo Tiếng Chuông, có lần anh An Khê nói cho tôi biết :
- Anh Bình Nguyên Lộc đã chơi đòn tâm lý, nói tôi không lẽ lại chẳng thể viết bằng Ngọc Linh, Sĩ trung, Thanh Thủy, Dương Hà, Trọng Nguyên hay sao? Và khi tiểu thuyết Người vợ hai lần cưới được đăng ở báo Tiếng Chuông dưới bút hiệu An Khê, báo Tiếng Chuông tăng số bán ở đô thành lên cả ngàn số. Anh Đinh Văn Khai tươi rói nét mặt, cả anh Bình Nguyên Lộc và tôi cũng không ngờ kết quả khả quan ngoài sức tưởng tượng.
Ba mươi năm trước, tôi còn là một ký giả trẻ trung, nhanh nhẹn hay chọc đùa anh em ở tòa soạn. Mỗi lần thấy anh An Khê cỡi mô tô lại tòa báo giao bài, tôi gọi Việt Quang, Trường Sơn, Phong Đạm, Phạm Thăng  rồi nói: 
- Ê, người vợ chưa từng tắm lại kìa !!
Về sau, soạn giả Thái Thụy Phong điều đình với An Khê để lấy cốt chuyện Người vợ hai lần cưới dựng thành vỡ tuồngHai chuyến xe hoa cho Thanh Minh, Thanh Nga. Tại rạp Hưng Đạo, dù trời mưa, đoàn TMTN đã diễn vỡ tuồng nầy trọn 19 đêm, đợt sau ba tuần lễ mà vẫn đông khách nhờ tiểu thuyết đã đăng báo Tiếng Chuông và tài diễn xuất của nữ nghệ sĩ Thanh Nga.
Bạn Hoàng Anh Tuấn nhanh tay lấy cốt chuyện quay phim và nhà xuất bản Sống Mới cũng hốt bạc bộn bàng khi xuất bản quyển Người vợ hai lần cưới.
Một tiểu thuyết thứ hai của An Khê cũng được đưa lên sân khấu Thanh Minh, đó là truyện Bơ vơ, do Nhị Kiều dựng, mà tôi thường gọi đùa là Bỏ vợ. Một đêm nọ, khi gặp tôi trong hậu trường Thanh Minh Thanh Nga, An Khê khều tôi bảo nhỏ :
- Nè, từng mê «kỳ nữ» Kim Cương, đừng có làng chàng đến «tài nữ» Thanh Nga nghe, tía nó !
Tôi phá lại An Khê :
- Còn anh? Coi bộ anh cũng mê mệt bà Bầu Thơ lắm đó nhe. Và anh nên nhớ là tôi lớn hơn Thanh Nga nhiều.
An Khê lắc đầu:
- Mà anh lại nhỏ tuổi và bảnh tẽn hơn…Đổng Lân ! Anh có đọc truyện nầy không ? «Xin đừng gọi anh bằng… chú»!
Không chịu thua, tôi hù An Khê :
- Anh mà chạy theo Bà Bầu, coi chừng tướng Lam Sơn. Ỏng dữ lắm, hay bắn bậy lắm đấy!
Vợ tôi đứng bên cạnh nghe nói, cằn nhằn:
- Anh An Khê thật thà lắm, đừng phá ảnh.
An Khê phát cà lăm:
- Nè, bồ gi..ỡn điệu đó, bà xã tôi nghe được bã  đô.. ốt xe mô..m.tô của t.. ôi đó !
Những cuộc «đảo chánh» trong làng báo
Ngoài đời, có những cuộc đảo chánh, binh biến để giành quyền lực, còn trong làng báo cũng có những cuộc đảo chánh nữa sao?
Từ thập niên 1960-1970, trong làng báo miền Nam có xảy ra hai cuộc đảo chánh làm chấn động dư luận.
Cuộc đảo chánh thứ nhứt do anh Nguyễn Kiên Giang chủ động. Từ vai tuồng Tổng thơ ký tòa báo Tiếng Chuông, « anh Hai » chiêu dụ Trường Sơn và mấy cây viết chủ lực về giúp anh Dương Chí Sanh làm một tờ báo mới (dường như tờ Saigon Thời Báo?). Nghĩ rằng không phải ký giả chuyên nghiệp như các anh Nam Đình, Trần Tấn Quốc, Phạm Việt Tuyền, Vũ Ngọc Các, Tam Mộc, Hồ Anh, Hà Thành Thọ…, nên nếu tòa soạn mất thành phần chủ lực, anh Đinh Văn Khai sẽ phải sập tiệm tức khắc. Anh Nguyễn Kiên Giang còn điều đình các cây bút chuyên viết feuilleton cúp ngang xương truyện đang viết cho Tiếng Chuông để sang viết cho tờ báo mới ra lò.
Nhưng anh Giang quên rằng trong làng báo, có nhiều người tuy không phải là thợ viết, nhưng lại có lắm sáng kiến, có tài tổ chức, biết cách điều hành tờ báo. Trong số nầy có bạn Trương Hồng Sơn (tổ chức biên tập cho báo Tin sáng) và anh Đinh Văn Khai.
Có gần gũi anh Đinh Văn Khai mới biết được biệt tài của anh. Biết khai thác các tin «local», theo dõi từng feuilleton từ báo nhà đến báo người để xem bộ truyện nào ăn khách, và các bài xã luận đều do ý anh đề ra. Anh cũng đích thân xem «bản vỗ cuối cùng»  trước khi đem trình bộ Thông tin kiểm duyệt, duyệt xét lại cái «tít» bài, để khỏi sơ suất có thể bị đóng cửa (vì ấn công, đa số còn trẻ, hay trửng giỡn như trường hợp một tờ báo kia có cái tít : «Cuộc kinh lý của Tổng Thống Ngô Đình… Chậu», báo hại tờ báo suýt bị sạt nghiệp)
Để phá anh Đinh Văn Khai, vợ chồng Nguyễn Kiên Giang  đến nhà An Khê bảo đem tiểu thuyết «Người yêu không thể cưới» đang đăng dở dang ở Tiếng Chuông sang Thời Báo. Biết An Khê là người tình cảm, rất yêu quý bạn bè,  Nguyễn Kiên Giang cầm tay bị thương của anh và nói :
- Tụi mình là bạn nối khố, không bao giờ bỏ nhau!
An Khê đang lưỡng lự chưa dứt khoát thái độ thì anh chị Đinh Văn Khai đi đòn tâm lý cao đến năn nỉ bác sĩ Nguyễn Bính, thân phụ của An Khê, nhờ can thiệp vì nếu Người yêu không thể cưới bỏ ngang Tiếng Chuông mà sang cưới nhau ở Thời Báo thì Tiếng Chuông chắc chết.
Cha mẹ An Khê từ lâu là độc giả Tiếng Chuông khuyên anh ăn ở sao cho phải đạo.
Tình cờ gặp tôi, An Khê hỏi :
- Ca ơi, mỏa phải làm sao? Anh chị Khai rất điệu với mỏa, còn Nguyễn Kiên Giang là bạn cũ, cùng dân Rạch Giá, cùng lận đận từ thời Đọc Thấy của anh hai Ân.
Tôi đáp :
- Anh và tôi là hai thằng…duy tâm. Chủ trương của anh em mình giống như đại ca Bình Nguyên Lộc, thà người phụ mình chớ mình đừng phụ người.
Anh Bình Nguyên Lộc cũng lên tiếng :
- Có một giải pháp tốt, không ai phiền hà anh hết. Cứ để nguyên Người yêu không thể cưới cho Tiếng Chuông, anh viết một truyện khác cho Nguyễn Kiên Giang.
Thế là An Khê viết một tiểu thuyết mới tựa là « Người đàn bà hai tim » cho Thời Báo.
Ngày nào báo ra, hai bà Dương Chí Sanh, Nguyễn Kiên Giang đều đọc trước phê bình :
- Tiểu thuyết mới cũng hay mà sao không mùi mẫn hấp dẫn như Người yêu không thể cưới.
Còn cuộc đảo chánh thứ hai xảy ra ở báo Dân Ta của anh Nguyễn Vỹ.
Người chỉ huy cuộc đảo chánh là Nguyễn Thế Trung, cựu phát hành viên và quản lý báo Lẽ Sống. Anh Trung không phải là ký giả, nhưng có tài phát hành báo, giao dịch mật thiết với các nhà phát hành như Nam Cường, Đồng Nai, Thống Nhứt và cặp rằng phân phối báo.
Là quản lý của Dân Ta, thấy tờ báo đang bán mạnh, Nguyễn Thế Trung điều đình với Nguyễn Minh Châu (anh Châu đã có giấy phép xuất bản Dân Tiến mà chưa có phương tiện ra báo nên nhường quyền khai thác cho Nguyễn Thế Trung) để ra báo Dân Tiến và kéo cả ban biên tập Dân Ta về Dân Tiến.
Buổi sáng, Nguyễn Vỹ ôm cartable đến tòa báo làm việc, chưng hửng khi thấy tòa soạn vắng tanh, trước sự việc như vậy chỉ còn biết kêu trời. Báo Dân Ta phải tự đình bản cả tuần, nhưng khi tái bản bị mất trớn, mất độc giả, lỗ lả nặng nề.

Ảnh chuyển động Cinemagraph

Zabriskie Point border, Death Valley National Park

Tea Kettle Junction Cinemagraph I, Death Valley National Park

















































Thứ Hai, 17 tháng 11, 2014

Trở về Việt Nam

Nguyễn Tài Ngọc
 
 
Tháng vừa rồi vào ngày 21-October-2014 chúng tôi trở về Việt Nam ba tuần để dự đám cưới con của một cặp vợ chồng bạn.
 
 
Nhiều năm trước đây, vì gia đình tôi tất cả đã định cư bên Mỹ sau ngày 30-4-1975, tôi đã nghĩ không còn lý do gì để tôi trở về quê hương cũ. Thế nhưng số phận đưa đẩy bao nhiêu chuyện liên quan đến các cô bồ cũ của tôi như em Tư Cầu Muối bị băng đảng Hùng du đãng thanh toán, em Năm Vườn Chuối tên tuổi lên khắp báo chí Việt Nam vì chuyện lạ khoa học em là người đàn bà duy nhất trong lịch sử An Nam tuy đã 55 tuổi nhưng có bầu sinh tư, em Ba Lệ Ướt vừa được cơ quan Hồng Thập Tự Quốc Tế thân tặng một hàm răng giả…, nên không hẹn mà gặp, không tính mà xẩy ra, tôi trở lại SàiGòn nhiều lần. Đây là lần thứ nhì trong năm nay tôi trở về Việt Nam.
Một địa điểm giữ xe
ra đường phải mặc khẩu trang,
nếu ai không biết phải mang thế lào?
xin xem ảnh của anh hào,
mang cho biểu diễn, kính chào xin…thua!
Duy Quang hát bài Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết yêu, riêng tôi thì:
 
Tôi xa SàiGòn năm lên mười bẩy khi vừa biết ôm,
Da em ngọc ngà ôm liều một phát, em kinh ngạc nhìn.
Rồi thật nhanh, em tát cho tôi điếng hồn,
Đau nhói trong tim tôi buồn, từ đó không còn yêu ai.
 
Tôi ở Mỹ 39 năm từ năm di tản 1975. Thời gian này hơn gấp đôi thời gian 17 năm tôi sinh sống ở SàiGòn nên khác với những lần đầu trở về thăm quê hương lòng dạ tôi bồi hồi, bồn chồn, khoắc khoải, xúc động, hồi hộp như xem phim Chương Trình Lúc Không Giờ (tôi nhớ năm 1995 lần đầu tiên về khi bánh xe máy bay chạm đất ở phi trường Tân Sơn Nhất, tôi khóc cả một dòng sông vì quá xúc động), bây giờ Việt Nam với tôi chỉ là một nước ngoại quốc tôi có dịp viếng thăm; nó không còn dấy lên lòng cảm xúc mãnh liệt trong tâm khảm dù rằng đã một lần là quê hương yêu dấu.
 
Dinh Độc Lập cũ
 
Rạp hát Nam Quang
 
Về Việt Nam có hai thứ làm cho tối ngán ngẫm. Thật sự có đến ba thứ vì tôi sợ lương tâm tôi bị dầy vò khi gặp lại cô Phượng kế bên nhà trong xóm Bàn Cờ năm 14 tuổi tôi đe dọa nghỉ chơi cô ấy ra nếu cô không cho tôi mười đồng xem ciné. Bây giờ cô ấy đã dọn đi biệt tăm tung tích không biết ở đâu, Bến Lức hay Trà Vinh, nên chỉ còn hai thứ tôi ngán ngẫm:
 
Thứ nhất  là ngồi máy bay quá lâu.  14 tiếng từ Los Angeles đến Taipei, Taiwan,  nghỉ 1 tiếng rưỡi rồi bay tiếp ba giờ rưỡi đến SàiGòn. Bận về ngắn hơn hai giờ rưỡi vì luồng gió vòng quanh trái đất trên khí quyển thổi cùng chiều với hướng máy bay.
 
Thứ nhì là phải cùng bị giam với hành khách đại đa số là  người Việt ngồi ở hạng Phổ Thông (Economy). Nếu khi đọc báo chí có một số người Việt qua hành động của họ làm mình hãnh diện mang giòng máu Việt Nam như cô Nina Pham ở Dallas, Texas đã tình nguyện lo lắng cho bệnh nhân mang bệnh Ebola để rồi chính cô ta bị lây bệnh, thì trái lại hành động của nhiều người Việt trên máy bay từ ngọai quốc về Việt Nam chỉ làm cho tôi muốn độn thổ.
 
Có người nói chuyện lớn tiếng ầm ầm trong máy bay như họp chợ. Có người sờ vào nữ tiếp viên để gây sự chú ý khi muốn yêu cầu họ một điều gì, thay vì chỉ dùng lời, "Excuse me, Miss".  Có người khi máy bay còn đậu trong terminal chưa kịp lăn bánh rời cổng thì đã giành giật nhẩy sang ngồi sang băng ghế trống chỗ. Có người máy bay vừa ngừng, không đợi ra cửa có trật tự, len lỏi từ hàng ghế sau vượt lên hàng ghế trước để dành ra trước. Có người không già lắm, đi đứng bình thường nhưng yêu cầu hãng máy bay cung ứng xe đẩy. Khi tôi đứng đợi hành lý ở phi trường Tân Sơn Nhất thì tôi nghe tiếng một người đàn bà sau lưng tôi nói: "Bây giờ mẹ không cần ngồi xe lăn nữa, đứng lên được rồi". Quay lưng lại tôi vừa kịp thấy một bà vừa được nhân viên phi trường đẩy ra cùng với gia đình, ngồi dậy từ xe lăn, bước ra hiên ngang đi qua đi lại như Phù ĐổngThiên Vương vươn mình ngồi dậy từ trong nôi, chẳng có vẻ gì yếu đuối không đi đứng được phải cần xe đẩy.
 
Một điều tôi thấy xấu hổ nhất mang cùng giòng máu Việt là một số người bất tuân luật lệ trên phi cơ. Thông báo trên phi cơ luôn luôn bằng ba thứ tiếng: Anh, Hoa, và Việt nên không thể dùng lý do là mình chỉ nói tiếng Việt nên không hiểu tiếng Anh hay tiếng Hoa. Trước khi đáp xuống, họ loan báo không được dùng toilette, ngồi yên một chỗ cho đến khi máy bay ngừng và đèn thắt lưng an toàn tắt thì mới được cởi dây an toàn.  Hầu như lần nào tôi cũng thấy hai việc này xẩy ra khi máy bay vừa đáp xuống còn lăn bánh trên phi đạo: thiên hạ cởi dây an toàn đứng lên lấy hành lý hay dùng toilette.
 
Trên chuyến bay về SàiGòn của tôi, khi máy bay vừa hạ cánh, nhiều người nhưng chỉ có một anh chàng tuổi trạc 35, 40 , đứng lên ngồi xuống đến ba lần, mỗi lần đứng lên là mỗi lần bị bắt gặp, cô tiếp viên yêu cầu ngồi xuống. Tôi tội nghiệp cô tiếp viên hàng không người Việt làm cho Eva Air, nói như năn nỉ:“Anh làm ơn ngồi xuống đi anh, chờ cho máy bay ngừng rồi hãy lấy hành lý”. Đi máy bay Mỹ thì bảo đảm không có chuyện tiếp viên năn nỉ. Họ quát tháo, lần thứ hai không nghe thì khi máy bay ngừng họ gọi cảnh sát bắt bỏ bót cho cái tội ngu xuẩn vô ý thức.
 
Lượt bay trở về Mỹ, khi máy bay sắp sửa đáp xuống phi trường Los Angeles, cả đám hành khách nghe tiếng một cô tiếp viên hét thật lớn: "Excuse me! Please return to your seat" (Trở về ghế ngồi!).
 
Ai cũng ngoái cổ nhìn xem chuyện gì xẩy ra: Một nữ hành khách rời khỏi ghế đi vào toilette! Cô tiếp viên bắt cô ta trở lại ghế ngồi.   
 
Hành động chỉ vì quyền lợi riêng của cá nhân mình, bất chấp quy củ luật lệ áp dụng cho cả tập thể thì những người này thật sự quá ư vô ý thức, chưa từng học Công Dân Giáo Dục bậc tiểu học, hay có học mà không bao giờ để ý đến.Ai có yêu nước yêu nòi thì mặc ai, tôi chỉ muốn mất gốc khi hòa đồng với những người này trên máy bay đi về Việt Nam.
 
 
Tôi ngồi trong chợ Bến Thành,
Nóng như thiêu đốt, sắp thành heo quay.
 
Những trái cây này là do cô Kim Hồng bạn học cũ lớp 11 Trung học mang đến tiếp tế lương thực ngày đầu tiên chúng tôi đến SàiGòn.
 
 
Số dân Mỹ về Việt Nam trong năm 2013 là 432,228 người,  đa số  là người Mỹ gốc Việt. Không có con số thống kê thực thụ để chứng minh, nhưng theo sự đoán mò của viện Bác Vật Bàn Cờ do tôi làm Giám Đốc thì phần lớn người Việt hải ngoại chỉ về Việt Nam có một, hai lần, hay chưa bao giờ về. Thiểu số còn lại về Việt Nam rất nhiều lần: các kịch sĩ hề, ca sĩ già  hát chẳng ai nghe ở Mỹ bò về Việt Nam tìm cháo thiu; các ông Việt Nam ở Hoa Kỳ chẳng ai thèm lấy về Việt Nam tìm gái bu như ruồi bu phân chỉ vì hoàn cảnh của những cô gái này quá nghèo; những người làm việc hay buôn bán; những người có thân nhân còn ở Việt Nam; những người không có lương tâm thích thú khoe khoang sự giầu có đồng đô-la mang đến cho mình mà không biết rằng thay vì mang đến sự kính trọng, nó chỉ mang đến sự khinh bỉ từ dân bản xứ.
 
Nhìn qua cửa sổ khi máy bay đáp xuống phi đạo của Sân bay Tân Sơn Nhất, tôi có cảm tưởng thời gian ngừng lại một chỗ. Đường bay nhỏ bé, cảnh trí sơ sài, những ô vuông to với ba bức tường xi măng cũ kỹ đen xì vì mưa nắng cao khỏang 1.5 mét xây dọc theo đường bay phía bên trong để phi cơ đậu ngày xưa vẫn còn đó. Khó có thể tưởng tượng Tân Sơn Nhất nhỏ bé thời chiến tranh Việt Nam từng là phi trường với số máy bay cất cánh và đáp xuống nhiều nhất thế giới.
 
Thành phố SàiGòn đã bị đổi tên thành Thành phố Hồ Chí Minh nhưng ký hiệu quốc tế dùng để xác định phi trường Tân Sơn Nhất vẫn không thay đổi, nhắc người ta cái tên không bao giờ chết của thành phố thân yêu xưa cũ của tôi dạo nào: SGN (Saigon).
 
 
Chùa Vĩnh Ngiêm bên phải, trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa (xưa là Công Lý).
 
KFC, PopEyes(chicken), Pizza Hut là ba nhãn hiệu bán thức ăn Mỹ tôi thấy đầy dẫy ở SàiGòn
 
Trong khi chờ cho hành lý chạy ra, vợ tôi nãy giờ ngồi trên ghế đợi đến gần tôi với một người đàn ông lớn tuổi. Ông ta giới thiệu tên là Thiên, nói là ngồi ghế đợi kế bên, nhận ra vợ tôi và tôi, hỏi có phải tôi là "nhà văn" Nguyễn Tài Ngọc vì ông ta có đọc bài viết của tôi trên mạng. Tôi nói phải rồi, và hỏi ông ta ở đâu. Ông ta nói vợ chồng ông ta ở Úc, trước 1975 học ở Chính Trị Kinh Doanh, lần này đến Việt Nam dự reunion của lớp học ngày xưa. Vợ chồng ông ta rất thích đọc những bài viết của tôi, thấy chúng tôi đi du lịch khắp nơi, không ngờ rằng lại có cơ hội gặp chính người viết ở đây.  Tôi cảm ơn cả hai vợ chồng, và chụp một bức ảnh lưu niệm:
 
 
Bên trong phi trường Tân Sơn Nhất
 
Qua hết mọi thủ tục giấy tờ ở Công An Cửa Khẩu và Hải Quan, chiếc xe van thuê chở chúng tôi về Căn Hộ Cao Cấp Mỹ Vinh trên đường Nguyễn Thị Minh Khai ở góc đường Cách Mạng Tháng 8.
 
 
Bãi đậu xe trước cửa Căn Hộ Mỹ Vinh trong cơn mưa
 
Công viên Tao Đàn trước mặt Căn Hộ Mỹ Vinh
 
Những người đi trước 30-4-1975 tuởng tôi say xỉn  mới uống rượu ba-xi-đế vì làm gì có tên đường này ở SàiGòn trước 1975 thì tôi xin giải thích đó là đường Hồng Thập Tự và Lê Văn Duyệt cũ, nay đã đổi tên. Chính tôi về Việt Namnhiều lần mà đôi khi cũng không nhớ. Đi taxi, đường Nguyễn Thị Minh Khai (Hồng Thập Tự cũ) mà tôi bảo tài xế cho tôi đến đường Chữ Thập Đỏ, 3 tháng 2 (Trần Quốc Toản cũ), tôi nói họ cho tôi đến đường 3 tháng 10. Tôi mà làm gián điệp 007 thì bảo đảm địch quân phát hiện tức khắc, giải tôi về Khám Chí Hòa cho ngồi chơi xơi nước, bắt tôi học thuộc lòng những tên đường xưa nay đã đổi mới.
 
Đường Nguyễn Tri Phương
 
SàiGòn, cũng như các thành phố lớn ở Việt Nam, có một đặc thù độc nhất vô nhị trên thế giới: xe gắn máy đông như kiến. Với dân số 8 triệu mà phương tiện giao thông công cộng chỉ là xe bus không có xe điện ngầm, SàiGòn có hơn 5,6 triệu xe gắn máy và trên nửa triệu xe hơi! Đường phố ngột ngạt khói xăng, tuy rằng người sống trong thành phố có thể quen, nhưng vài lần lái xe Honda ngửi mùi khói xăng, tôi có cảm tưởng nghẹt thở vì khí thải carbon monoxide. Ở Mỹ nhiều người tự tử bằng cách ngồi trong garage, đóng tất cả các cửa, bật máy xe hơi lên cho khói xe đầy tràn garage rồi đến một lúc sẽ bị chết ngạt. Khí thải carbon monoxide của xe cộ độc hại vô cùng, bảo đảm giảm thọ ngay cả ông Thọ trong sữa ba ông Thọ.
 
Thế nhưng độc hại thì độc hại, ngắm cả nghìn xe gắn máy hòa lẫn xe hơi lưu thông trên đường phố, nhất là ở ngã tư đèn xanh đèn đỏ thì là cả một sự  thú vị cho du khách ngoại quốc. Xe chạy đâm đầu vào nhau, du khách chắc chắn thế nào cũng nghĩ là sẽ có án mạng trên bãi Ba Đình, thế nhưng xe cứ thế mà len lỏi, tuôn ra chiều hướng khác như cá thoát lưới.
 
 
 
Đường 3 Tháng 2 (Trần Quốc Toản cũ)
 
 
Góc đường Cách Mạng Tháng 8 và Võ Văn Tần (Lê Văn Duyệt và Trần Quý Cáp cũ)
 
 
 
 
Đường Nguyễn Thị Minh Khai (Hồng Thập Tự cũ)
 
 
 
 
 
Một người rời SàiGòn vào năm 1975 bây giờ trở lại quê hương lần đầu tiên sẽ thấy sự nghèo khó vẫn tồn tại không thay đổi qua những hình ảnh quen thuộc của vỉa hè dơ bẩn,
 
 
 
dây điện giăng chằng chịt, 
 
 
 
 
xích-lô nghèo nàn, 
 
 
 
những người bán hàng rong, 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
người vá bánh xe gắn máy,
 
 
anh chạy xe ôm, 
 
 
 
 
những bà bán vé số, 
 
 
 
chợ búa vẫn sơ sài như trước.
 
Tất cả ảnh chụp ở chợ Thái Bình, đường Phạm Ngũ Lão
 
 
 
 
Nhưng song song với hình ảnh nghèo khó này là một gương mặt khác của SàiGòn. Việt Nam hiện giờ đã thay thế Trung quốc và Taiwan là quốc gia lý tưởng nhất cho các công ty ngoại quốc đầu tư thiết lập cơ xưởng. Ba quốc gia đầu tư vào Việt Nam nhiều nhất trong những tháng đầu của năm 2014 là Hàn Quốc, Nhật Bản và Singapore. Có cơ xưởng mới thì có xây dựng mới, có côngăn việc làm mới, chính phủ lẫn dân chúng được hưởng lợi, phẩm chất đời sống con người về phương diện thực chất được gia tăng. Mỗi lần về SàiGòn là mỗi lần tôi thấy có sự thay đổi theo chiều hướng an khang mới, nhà cũ phá xập xây nhà mới, cao ốc, shopping plaza  mọc lên khắp nơi, số lượng xe cộ gia tăng càng nhiều. Ở Mỹ tôi dùng phone tay cổ lỗ sĩ chỉ bấm nút số để gọi, trong khi ở Việt Nam có trăm nghìn người dùng iPhone, iPad "xịn", y phục người ta mặc hàng ngày cũng theo mốt thịnh hành mới mẻ. 
 
Tòa nhà cao nhất ở phía sau là Trung Tâm Thương Mại Bitexco Financial Tower, 68 tầng, gần đường Nguyễn Huệ, cao nhất ở SàiGòn với chiều cao 262.5 mét (861 feet).
 
 
 
Chiếc Maybach này ở Mỹ bán hơn nửa triệu dollars nhưng giá lên đến 1.5 triệu dollars (31.5 tỷ đồng VN) ở Việt Nam vì thuế má
 
Sự phong phú của SàiGòn thể hiện nhất ở thành phố tân lập Phú Mỹ Hưng. Đám cưới tổ chức ở Trung Tâm Hội Nghị Tiệc Cưới The Adora, Phường Tân Phú, Quận 7. Nếu tôi không nói, bảo đảm nhiều người sẽ nghĩ rằng đây là một thành phố nào trên đất Mỹ:
 
 
 
 
 
 
 
 
 
(Còn tiếp. Kỳ tới: Boracay, Philippines)
 
Nguyễn Tài Ngọc
November 2014
 
Tài liệu tham khảo: