Thứ Bảy, 23 tháng 4, 2016

'Con nhớ Mẹ quá chừng' (Viết về The Sympathizer )

Giá trị của một cuốn sách, với tôi, nằm ở chất lượng và chiều sâu của những đối thoại mà cuốn sách có thể khơi gợi lên cho độc giả.
Trong mấy năm gần đây, tôi để ý tìm đọc để xây dựng một tủ sách cho trẻ con trong nhà. Sách có nội dung liên quan đến VN là một phần trong tủ sách đó. Đối thoại về đề tài VN là một trong những cuộc đối thoại với trẻ con trong nhà mà tôi rất mong được có. Con gái gần 10 tuổi bắt đầu tò mò về lai lịch gia đình, và về bản sắc cá nhân. Con đến từ đâu, điều gì đã xảy ra trước đó để lúc này con ở vị trí mà con đang ở? Dù con không có đủ ngôn ngữ để diễn đạt những câu hỏi một cách rõ ràng, nhưng những thắc mắc nho nhỏ càng ngày càng trở nên hóc búa hơn, và tôi nhận ra mình đã bắt đầu lúng túng không trả lời được.

Tôi đọc cuốn The Sympathizer trong tâm thế đó, và thấy cuốn sách là một tiền đề cho những cuộc đối thoại (nếu diễn ra) rất khó chịu. Nhiều sách khác -- cả văn và thơ -- của người Mỹ gốc Việt mà tôi từng đọc là những tiền đề hoặc "mềm" hoặc "khó ưa" (chứ không phải "khó chịu"). Những chủ đề như tìm về cội nguồn, văn hoá gốc, ngôn ngữ, mối dây vô hình giữa họ hàng xa nhau vạn dặm... là chủ đề "mềm" mà các câu trả lời mang nhiều cảm tính. Những chủ đề "khó ưa" theo kiểu chửi bới thẳng thừng hoặc kết tội rành rành thì luôn có thể tìm một đối trọng tương đương và tính thuyết phục cũng tương đương. Trong bối cảnh đó, điều mà The Sympathizer đặt ra gai góc hơn rất nhiều. Nếu một ngày con gái đọc xong rồi hỏi tôi, thế ông bà ngoại nghĩ gì về câu hỏi "Điều gì quí hơn độc lập tự do?", và mẹ nghĩ gì về tính song nghĩa của cái chữ "không có gì" đó, tôi biết mình không có câu trả lời cụ thể. Nhưng tôi cũng hình dung, khi đọc sách và đối thoại cùng tôi, con bé sẽ phải đào bới trong mớ cảm xúc và suy nghĩ của nó để tự tìm cho ra câu trả lời cho câu hỏi mà hồi mới lớn tôi vẫn hỏi ba mẹ, là "tất cả những điều đó có đáng không?" (điều đó chứa đựng mọi điều trong lịch sử mà ba mẹ chứng kiến, trải nghiệm, và tham gia).
Theo góc nhìn của tôi về cuốn sách, dường như tác giả đến gần với chấp nhận số phận lịch sử, và nhận ra rằng cuối cùng những điều đó là đáng hoặc là có thể chịu đựng được, vì bằng một cách nào đó, những người đã trải nghiệm lịch sử cuối cùng đã tồn tại được. Hoặc là thế, hoặc là mặc dù trải qua mọi thứ đó, họ vẫn tồn tại được, và đó là "chiến thắng cuối cùng" của sức sống con người. Đọc xong mấy trăm trang sách, cuối cùng tôi tìm được cách hiểu đó để bấu víu vào khi đối thoại với con -- với cá nhân tôi, một phần giá trị cuốn sách nằm ở đây. Không giống như nhiều cuốn sách "gốc Việt" khác hoặc là cố đẩy cho được ai đúng-ai sai, hoặc là cố đi đường vòng qua con voi trong phòng để "về nguồn" theo chiều văn hoá, cuốn sách này đặt câu hỏi khác và dường như khơi gợi câu trả lời khác.
Nói như thế không có nghĩa là cuốn sách không có "tính hiện thực phê phán" (ai đã sống qua thời học bình văn ở nhà chắc sẽ mỉm cười về cụm từ thông dụng trong công thức bình văn này). Người đọc trên thế giới nói chung sẽ rất khoái góc nhìn Ruồi trâu của tác giả (tinh thần "phản hệ thống" và tự trào chuyện thiên tả của chính mình của tác giả mang nhiều dấu ấn của thành phố và đại học Berkeley, môi trường học đường mà tác giả trải qua nhiều năm từ lúc đại học đến khi lấy bằng tiến sĩ). Người Việt hải ngoại vùng Tiểu Sài Gòn thế hệ trước có lẽ sẽ ức vì tác giả mang nhiều chuyện trong nhà ra khoe ngoài ngõ, nhất là những chi tiết về tha hoá nhân cách mà (theo như sách giải thích) là nhiều người trong cộng đồng cho rằng hoặc không phải lỗi của họ, hoặc họ có quyền làm thế vì những gì họ đã phải chịu đựng trước đó.

Nguyễn Thanh Việt- tác giả The Sympathizer giành  giải Pulitzer 2016, hang mục tiểu thuyết. 
Trong những "cú đấm" mang tính hiện thực phê phán đó, nặng ký nhất là so sánh mang tính biểu tượng giữa chuyện tra tấn kiểu Chiến dịch Phượng Hoàng, thậm chí cưỡng hiếp thể xác tù nhân, mà tác giả viết rõ ràng là có sự chứng kiến của đại diện cho CIA của Mỹ, với chuyện "cưỡng hiếp" trí não, tinh thần, và lương tâm của tù nhân (trong mấy chương cuối cùng) của chương trình cải tạo. Người đọc không thể đọc xong chương sách này mà không tự hỏi, suy cho cùng, cái nào man rợ hơn? Để gây ấn tượng cho so sánh biểu tượng này, tác giả dùng đối trọng rất "độc" (độc đây không có nghĩa xấu) -- đối trọng đặc tả hài nhi nhiễm chất độc Da cam với đặc tả tình trạng trí não và tâm thần của nhân vật trong quá trình "cải tạo" đã bị vặn xoắn méo mó không khác gì hài nhi, đến mức không còn biết thật-giả, đúng-sai là đâu nữa. Tác giả miêu tả nhân vật bị cưỡng hiếp thể xác cuối cùng vẫn cực kỳ tỉnh táo vì biết mình là ai và mục đích của mình là gì, vẫn dùng đôi mắt đốt cháy người đối diện. Trong khi đó, nhân vật bị cải tạo tinh thần cuối cùng gần như rơi vào trạng thái méo mó vĩnh viễn. So với biểu tượng này, nằm ở cuối cuốn sách, những biểu tượng trước đó về tính hai mặt của giá trị Mỹ hoặc sự nhập nhằng về đạo đức của cả hai phía trong một cuộc chiến chỉ là mấy cái tát yêu cho vui mà thôi.
Có lẽ nhiều người VN sẽ đọc cuốn sách này với cặp mắt tương tự như những người đi qua thế chiến hoặc sống sót qua thời Hitler hay thời Khmer đỏ, và chuyện săm soi các tiểu tiết lịch sử là không tránh khỏi. Tuy nhiên, không tác giả nào dù siêu đến đâu có thể làm vừa lòng mọi người đọc có biết (hoặc nghĩ là mình biết nhiều) về sự thật lịch sử. Nếu đọc cuốn sách để tìm đến mục đích cuối cùng, tức thông điệp của cuốn sách là gì, tôi tin nhiều người sẽ đồng ý đây là cuốn sách nặng ký hơn rất nhiều cuốn sách khác về đề tài Việt Nam. (Tôi cũng đánh giá cao khi tác giả không cố tình "quốc tế hoá" những chi tiết liên quan đến cộng đồng người Việt để khoác cho cuốn sách tấm áo mang tính phổ quát cao hơn. Những đoạn tả về một số người Việt hải ngoại trong các quán bia, quán phở, đi làm lấy tiền mặt, đi xe cà tàng, tụ tập ca hát hút thuốc phì phèo, mặc đồ "hàng chợ", nói tiếng bồi, những người đàn ông từng hét ra lửa giờ cay đắng vì không còn uy với con cái, ... chắc chắn làm nhiều người Việt mình đọc mà đau điếng).
Sợi dây mềm mại và ngọt ngào duy nhất -- mà tôi tin là chứa đúng cốt lõi "thiện" của tác giả, và khiến tôi mềm lòng nhất -- là những đoạn miêu tả về người mẹ Việt Nam. Đây là những miêu tả mang tính biểu tượng cho một Việt Nam thật sự nếu loại bỏ hết được những bi kịch xung quanh. Ngôn ngữ của tác giả khi đặc tả quan hệ giữa "mẹ Việt Nam" và "đứa con Việt chưa từng thuần Việt" mang đầy tình mẫu tử và lòng chở che vô điều kiện hoàn toàn khác ngôn ngữ sắc, đắng, cay, chua, và thông minh trải dài trong sách. Chi tiết người dẫn chuyện làm bia mộ giả cho người mẹ Việt của mình -- đặt trong nghĩa địa do Hollywood dựng làm phim trường như một dấu nhấn bi hài -- rồi lặng lẽ ngồi xuống và"Mẹơi, tôi gọi, dựa trán mình vào bia mộ. Mẹ ơi, con nhớ mẹ quá chừng" là chi tiết nhân bản và trong veo mà tôi giữ lại như ký ức cuối cùng về cuốn sách.
Cam Ly

Nhà văn đoạt giải Pulitzer: Nếu hỏi tôi có phải là người Việt không, tôi sẽ trả lời “có và không”

"Tôi không đến Việt Nam với hy vọng sẽ cảm thấy nơi đây ngay lập tức trở thành nhà của mình hay sẵn sàng hôn lên đất mẹ. Tôi mong đợi được đến đây với tư cách của một người ngoại quốc, và tôi đã làm như vậy."
Nguyễn Thanh Việt (Nam Anh dịch)
 



Nhà văn Nguyễn Thanh Việt (ảnh: Literary Hub)Nhà văn Nguyễn Thanh Việt (ảnh: Literary Hub)
Nguyễn Thanh Việt đã viết như thế trên trang web chính thức của ông cách đây 5 năm, sau Tết truyền thống ở Việt Nam. Bài viết có tựa đề "On (not) being a Vietnamese" (tạm dịch: Về việc (không) là người Việt Nam) đã thể hiện những suy nghĩ của nhà văn về gốc gác Việt của mình, về những kỷ niệm trong những tháng ngày ông quay trở về Việt Nam, cũng như về những thế hệ người gốc Việt mới đang sinh sống trên đất Mỹ.
Nguyễn Thanh Việt đã nhận giải thưởng danh giá Pulitzer năm nay ở hạng mục Tiểu thuyết với tác phẩm đầu tay “The Sympathizer” (Cảm tình viên). Ông sinh ra ở Việt Nam và sang Mỹ cùng gia đình năm 1975. Hiện Nguyễn Thanh Việt đang tham gia giảng dạy tại trường Đại học Southern Califfornia (Đại học Nam California). Ngoài giảng dạy và viết lách, ông còn là một nhà phê bình văn hóa cho tờ The Los Angeles Times, biên tập viên một blog dành cho cộng đồng nghệ sĩ Việt Nam xa quê.
Sau đây là bản lược dịch bài viết này của ông:
"Tết đã qua, những ngày lễ tết này càng làm cho tôi phải suy nghĩ nhiều hơn về việc tôi có phải là người Việt Nam không. Tôi không mấy quan tâm đến câu hỏi này lắm, bởi không thể có câu trả lời đúng cho nó, và cũng bởi ngụ ý của nó là điều khiến tôi để tâm hơn.
Câu hỏi này bao gồm cả những hàm ý về những thứ rất Việt Nam, chẳng hạn như: Bạn là người Việt nếu phân biệt được phở nào ngon và phở nào không ngon, bạn là người Việt nếu yêu thích một nhãn hiệu nước mắm nào đấy, bạn là người Việt nếu khóc mỗi khi nghe Khánh Ly hát, bạn là người Việt nếu biết Modern Talking là ai, bạn là người Việt nếu… Danh sách này sẽ còn rất dài. Thế nhưng câu hỏi về gốc gác có ý nghĩa như thế nào chỉ gây hứng thú với tôi bởi những lý do ẩn chứa đằng sau nó. 
Tháng trước tôi đã tham dự một bữa tiệc đón Tết và có trò chuyện với một học giả trẻ người Việt mới từ Việt Nam sang. Chúng tôi đã nói chuyện khoảng hơn 10 phút, hoàn toàn bằng tiếng Anh. Khi bạn ấy hỏi tôi, “Anh không phải là người Việt đúng không?” thì bất chợt tôi lại nhớ về một bữa tối khác với một nhóm các chuyên gia nghiên cứu người Việt. Tại đó, một sinh viên trẻ đang theo học tiến sĩ cũng mới từ Việt Nam sang, sau một hồi trò chuyện, đã nói với tôi rằng: “Anh trông không giống người Việt mấy”.
Hồi xưa tôi đã từng đến Việt Nam nhiều lần, sau khi nghe thấy tôi nói một chút tiếng Việt thì mọi người ở đây đã ồ lên “Tiếng Việt của anh tốt quá!” Điều này có nghĩa họ không coi tôi là một người Việt, vì chẳng có ai lại khen tiếng Việt của một người Việt cả. Tôi nghĩ rằng điều này cũng tương tự như một anh Tây nói tiếng Việt ở Việt Nam. Mọi người sẽ đối xử với anh ta rất chu đáo nếu như anh ta nói với họ bằng tiếng Việt một câu đại loại như “Làm ơn đưa tôi đến chợ Bến Thành”.
Khi còn là một đứa trẻ ở San Jose, cha mẹ bắt tôi phải theo học tại một trường dòng dành cho người Việt vào mỗi Chủ Nhật. Hồi đó tôi hầu như còn không nói được bất kỳ từ tiếng Việt nào. Tại thời điểm ấy, mọi người quan niệm rằng, nếu không nói tiếng Việt tại lớp học thì không phải là người Việt.
Có lẽ áp lực của những người còn quá xa lạ với cuộc sống tại Mỹ đã khiến những người Việt ở đây phải tự chứng minh gốc gác của mình. Hệt như một tiểu hành tinh va vào Trái Đất, những người này làm tất cả để bảo vệ bản sắc và văn hóa Việt. Vì vậy, họ thường tổ chức những lễ hội và lễ nghi tại nơi công cộng và trường học. Đó là những nơi mà quy định phải là người Việt Nam rất rõ ràng. Nếu bạn cảm thấy mình thuộc về nơi này, thì đó là nhà của bạn.
The Sympathizer - Tác phẩm đoạt giải Pulitzer 2016 ở hạng mục Tiểu thuyết
Nhà là nơi an ủi, là nơi mọi người chào đón bạn, gọi tên bạn, đảm bảo rằng bạn không túng thiếu. Nhà cũng là nơi mọi người thấu hiểu đến mức có thể đặt vào vị trí của bạn, thậm chí là nơi mọi người thù ghét bạn, trút những giận dữ vào bạn.
Không ai có thể nhào nặn bạn giống với những người Việt khác. Tôi nhớ khi mình còn đang học lớp hai, những đứa trẻ người Việt tại trường học San Jose đã lập ra các băng nhóm và đánh nhau trên sân trường nhằm tranh giành địa bàn. Những người Việt đã mang theo ngôi nhà của họ đi khắp nơi. 
Tôi không đến Việt Nam với hy vọng sẽ cảm thấy nơi đây ngay lập tức trở thành nhà của mình hay sẵn sàng hôn lên đất mẹ. Tôi mong đợi được đến đây với tư cách của một người ngoại quốc, và tôi đã làm như vậy. Vấn đề duy nhất là những người Việt, một khi biết được tôi là ai thì họ lại muốn tôi phải cảm nhận và hành động như một người bản xứ. Ngược lại, với những vấn đề liên quan đến tiền bạc thì họ lại coi tôi như một người nước ngoài.
Nhưng đó là khoảng thời gian rất lâu về trước. Hiện tại, người Việt đã định nghĩa lại gốc gác của họ, bởi những gì mà người Việt làm ở Việt Nam phải hoàn toàn thuần Việt. Một số người Việt rất giàu, họ hoàn toàn có thể làm bất cứ điều gì mà những người giàu trên toàn thế giới đã làm, chẳng hạn như ăn một bát phở trị giá 35 USD hoặc lái chiếc xe Lamborghini trên đường phố Sài Gòn. Thế nhưng bạn không thể lái xe ở bất kỳ nơi nào trong Việt Nam với tốc độ nhanh hơn 50 km/giờ.
Bởi vậy hành động lái xe trên đường phố mặc dù có thể giống người nước ngoài, thế nhưng nó vẫn rất thuần Việt. Trong khi đó ở Mỹ, đã có một thế hệ người Mỹ gốc Việt mới được hình thành. Một số người muốn tổ chức các chương trình nhằm bảo tồn văn hóa Việt Nam. Mặt khác, một số khác lại có nhu cầu được tìm hiểu về nền văn hóa của họ, hoặc ngắm nhìn văn hóa như một cổ vật trong viện bảo tàng, yên tĩnh và trường tồn.
Tuy nhiên những người Mỹ hiện đại không nhất thiết phải đội những bộ tóc giả nặng trịch, đội mũ ba sừng hay sở hữu nô lệ để chứng tỏ nền văn hóa Mỹ. Chúng tôi đã vượt qua những khuôn mẫu đó và hạnh phúc khi thấy James Franco đại diện cho văn hóa Mỹ tới toàn thế giới. Thế nhưng hơn 10 năm nay tôi chưa hề tham dự một chương trình giao lưu văn hóa Việt Nam. Điều này thôi thúc tôi tò mò muốn biết những sinh viên gốc Việt được sinh ra tại Mỹ sẽ múa quạt trong trang phục nông dân sẽ như thế nào.
Thế hệ chúng tôi cũng đã từng làm vậy trong khi hầu hết đều chưa bao giờ được biết đến cảm giác đi chân trần trên một cánh đồng lúa. Lớn lên ở San Jose trong những năm 80 đầy khó khăn, tôi còn không biết một cánh đồng lúa trông như thế nào. Ý niệm của tôi về văn hóa Việt Nam chỉ là con người Việt Nam rất thông minh và tháo vát. Họ vẫn miệt mài làm việc trong khi đã nhận được tiền phúc lợi và tem phiếu lương thực. Đó là chương trình văn hóa mà tôi muốn xem. 
Tila Tequila là một người mẫu, ca sĩ gốc Việt nổi tiếng trên đất Mỹ (ảnh:Irish Examiner)
Ngày nay thế hệ trẻ gốc Việt được sinh ra tại Mỹ không nói tiếng Việt, cũng không hề bận tâm tới suy nghĩ của những người da trắng, lại càng không thực sự quan tâm đến việc họ có là người Việt hay không. Thi thoảng tôi có gặp những người này ngoài đời, hoặc chỉ ngắm nhìn họ từ xa. Tila Tequila chẳng hạn. Cô ấy không bao giờ nhận mình là người Việt, thế nhưng ở một chừng mực nào đó, cô ấy lại là người Việt trong cách cư xử của mình.
Tôi đã nhìn thấy nhiều người như Tila ở Sài Gòn và San Jose, luôn muốn được bứt phá. Tôi nghĩ rằng mình đã bỏ lỡ rất nhiều người Việt như vậy. Họ là người Việt, nhưng lại không phải là người Việt. Họ chỉ nhận mình là người Việt, hoặc từ chối chỉ nhằm nhượng bộ trước những câu hỏi về nguồn gốc của mình. Bởi vậy, nếu ai đó hỏi tôi có phải là người Việt Nam hay không, tôi sẽ trả lời họ rằng “có và không”, và chờ đợi một câu hỏi khác.
Theo Tin Nhanh

Tin liên quan

Thứ Sáu, 22 tháng 4, 2016

Nghề điêu khắc gỗ Bình Dương

Nghề điêu khắc gỗ là một nghề truyền thống đã tồn tại và phát triển hơn 200 năm qua trên vùng đất Bình Dương và hiện vẫn được các thế hệ nghệ nhân nơi đây truyền lại cho con cháu.
Theo các tư liệu địa chí, nghề làm gỗ là một nhóm nghề chính phổ biến trong nhóm cư dân đầu tiên sinh sống trên vùng đất Đông Nam Bộ xưa. Thành phố Thủ Dầu Một (tỉnh Bình Dương) được coi là cái nôi của nghề mộc gia dụng đất Nam Bộ bởi nơi đây có nhiều gỗ quý. Từ thế kỷ 16-17, lớp thợ làm gỗ đầu tiên đã hình thành khi họ bắt đầu biết chặt cây, xẻ gỗ để khẩn hoang; sau đó biết cách biến gỗ thành nhà, xây dựng các công trình dân dụng đầu tiên, tạo dấu ấn nghề nghiệp trong nếp sinh hoạt hàng ngày.

Với rất nhiều loại gỗ quý như: sao, gõ, huỳnh đàn, giáng hương, trai, dầu…, người thợ đã tìm cách sử dụng, trang trí, tạo dáng nghệ thuật để cung cấp sản phẩm gỗ không chỉ cho địa phương mà còn cho các vùng trong cả nước. Nghề chạm trổ, điêu khắc gỗ đã xuất hiện với các hình thức đóng thuyền, đẽo cột, làm hòm xiểng, bàn ghế, vật dụng… và dần hình thành nên các làng nghề điêu khắc nổi tiếng của Bình Dương. Trong đó, có những xóm thuộc vùng An Thạnh, Phú Thọ, Lái Thiêu chuyên điêu khắc trang trí trong các công trình kiến trúc đình, chùa, nhà cổ, các sản phẩm mỹ thuật như tủ thờ, tranh tượng… Chính ở các vùng đất này đã sản sinh ra những nghệ nhân, thợ chạm khắc gỗ tài hoa, tạo nên nhiều sản phẩm có giá trị thẩm mỹ cao.


Điêu khắc gỗ -  nghề truyền thống đã tồn tại và phát triển hơn 200 năm qua trên vùng đất Bình Dương.
Ảnh: Thông Hải


Để chạm trổ được những bức tượng có nghệ thuật thẩm mỹ cao, người thợ mộc phải có tay nghề cao
 và thâm niên trong nghề. 
Ảnh: Thông Hải


Những sản phẩm điêu khắc chất lượng cao đang dần hình thành từ đôi bàn tay tài hoa của người thợ. 
Ảnh: Thông Hải


Sản phẩm thô chưa hoàn thiện của làng nghề điêu khắc gỗ Bình Dương. Ảnh: Thành Đạt


Một người thợ mộc trong vùng đang tạc tập trung chạm, khắc pho tượng từ gỗ nguyên liệu... 
Ảnh: Thông Hải


... và có khoảng 200 loại dùi, đục được sử dụng để tạo nên các sản phẩm điêu khắc gỗ ở Bình Dương. 
Ảnh: Thông Hải

Nghề điêu khắc gỗ ngày càng phát triển ở Bình Dương đã khắc họa phần nào thị hiếu thẩm mỹ của cư dân trong vùng cũng như cả nước, và hình thành nên một bộ môn nghệ thuật độc đáo của Bình Dương. Đến năm 1891, Bình Dương đã có trường mỹ nghệ thực hành dạy các nghề mộc, chạm và trang trí, sơn mài. Đây là nền tảng cho ngành điêu khắc phát triển từ nghề dân gian sang chính quy.

Hiện tại, các ngành nghề thủ công truyền thống, trong đó có nghề điêu khắc gỗ đang có đóng góp khá quan trọng trong tổng thể phát triển kinh tế tỉnh Bình Dương. Các cơ sở sản xuất điêu khắc của tỉnh hiện phân bố tập trung ở phường Phú Thọ và phường Chánh Nghĩa, Tp. Thủ Dầu Một với khoảng hơn 200 hộ làm nghề. Thực tế, những nghệ nhân điêu khắc gỗ không chỉ lưu giữ nghề truyền thống hay để mưu sinh, mà sản phẩm họ làm ra còn nhằm mục đích làm giàu và quảng bá chính văn hóa của con người và mảnh đất Bình Dương.

Sản phẩm điêu khắc gỗ mỹ thuật Bình Dương hiện cung cấp cho thị trường trong nước, phần lớn là các sản phẩm mỹ nghệ do du khách mua làm kỷ niệm, bày bán trong khách sạn, các điểm văn hóa du lịch. Ngoài ra, sản phẩm điêu khắc gỗ Bình Dương với giá trị văn hóa và kinh tế cao còn rất được khách quốc tế ưa chuộng và được xuất khẩu khắp nơi trên thế giới, mang lại lợi nhuận đáng kể cho tỉnh Bình Dương. Mẫu mã sản phẩm điêu khắc gỗ Bình Dương theo đó là khá đa dạng và phong phú được các nghệ nhân sáng tạo hoặc bảo lưu các phong cách cổ như: các tượng Phật, tượng Di Lặc, mục đồng, tiều phu, ngư phủ, chim ưng, sư tử hí cầu… Ngoài ra là một số mẫu mã làm theo các tượng cổ châu Âu như các tượng khỏa thân, vệ nữ… và cả những mẫu mã do người đặt hàng từ nước ngoài yêu cầu. Điều đặc biệt, sản phẩm điêu khắc gỗ Bình Dương cũng luôn nổi tiếng về chất lượng cao nhờ có nguồn gỗ tốt và được làm nguyên khối, không ghép, pha gỗ tạp, tháo lắp thuận tiện.

Chúng tôi đến làng nghề điêu khắc gỗ phường Phú Thọ, Tp. Thủ Dầu Một khi những tiếng đục đẽo vẫn rộn ràng vang lên giữa phố phường thời đô thị hóa. Anh Nguyễn Văn Bình, nghệ nhân điêu khắc gỗ có hơn 20 năm trong nghề chia sẻ: “Nghề này cần có đam mê, lòng kiên nhẫn mới có thể thành thạo và sáng tạo được. Hiện với khả năng, kinh nghiệm của mình, tôi làm được bình quân khoảng 15 triệu đồng/tháng, có thể yên tâm đảm bảo cuộc sống cho mình và gia đình”. Theo anh Bình, với thợ mới ra nghề, thu nhập cũng được khoảng 4-5 triệu đồng/tháng, nếu tiếp tục gắn bó, say mê nghề thì tay nghề theo thời gian sẽ được nâng lên, sản phẩm làm ra cũng sẽ đẹp và có chất lượng tốt hơn. Điều này sẽ góp phần vào việc gìn giữ uy tín cho thương hiệu sản phẩm điêu khắc gỗ Bình Dương./.


Một số sản phẩm điêu khắc gỗ Bình Dương:
















Bài: Nguyễn Vũ Thành Đạt - Ảnh: Thông Hải, Thành Đạt

Nghề điêu khắc gỗ Bình Dương

Nghề điêu khắc gỗ là một nghề truyền thống đã tồn tại và phát triển hơn 200 năm qua trên vùng đất Bình Dương và hiện vẫn được các thế hệ nghệ nhân nơi đây truyền lại cho con cháu.
Theo các tư liệu địa chí, nghề làm gỗ là một nhóm nghề chính phổ biến trong nhóm cư dân đầu tiên sinh sống trên vùng đất Đông Nam Bộ xưa. Thành phố Thủ Dầu Một (tỉnh Bình Dương) được coi là cái nôi của nghề mộc gia dụng đất Nam Bộ bởi nơi đây có nhiều gỗ quý. Từ thế kỷ 16-17, lớp thợ làm gỗ đầu tiên đã hình thành khi họ bắt đầu biết chặt cây, xẻ gỗ để khẩn hoang; sau đó biết cách biến gỗ thành nhà, xây dựng các công trình dân dụng đầu tiên, tạo dấu ấn nghề nghiệp trong nếp sinh hoạt hàng ngày.

Với rất nhiều loại gỗ quý như: sao, gõ, huỳnh đàn, giáng hương, trai, dầu…, người thợ đã tìm cách sử dụng, trang trí, tạo dáng nghệ thuật để cung cấp sản phẩm gỗ không chỉ cho địa phương mà còn cho các vùng trong cả nước. Nghề chạm trổ, điêu khắc gỗ đã xuất hiện với các hình thức đóng thuyền, đẽo cột, làm hòm xiểng, bàn ghế, vật dụng… và dần hình thành nên các làng nghề điêu khắc nổi tiếng của Bình Dương. Trong đó, có những xóm thuộc vùng An Thạnh, Phú Thọ, Lái Thiêu chuyên điêu khắc trang trí trong các công trình kiến trúc đình, chùa, nhà cổ, các sản phẩm mỹ thuật như tủ thờ, tranh tượng… Chính ở các vùng đất này đã sản sinh ra những nghệ nhân, thợ chạm khắc gỗ tài hoa, tạo nên nhiều sản phẩm có giá trị thẩm mỹ cao.


Điêu khắc gỗ -  nghề truyền thống đã tồn tại và phát triển hơn 200 năm qua trên vùng đất Bình Dương.
Ảnh: Thông Hải


Để chạm trổ được những bức tượng có nghệ thuật thẩm mỹ cao, người thợ mộc phải có tay nghề cao
 và thâm niên trong nghề. 
Ảnh: Thông Hải


Những sản phẩm điêu khắc chất lượng cao đang dần hình thành từ đôi bàn tay tài hoa của người thợ. 
Ảnh: Thông Hải


Sản phẩm thô chưa hoàn thiện của làng nghề điêu khắc gỗ Bình Dương. Ảnh: Thành Đạt


Một người thợ mộc trong vùng đang tạc tập trung chạm, khắc pho tượng từ gỗ nguyên liệu... 
Ảnh: Thông Hải


... và có khoảng 200 loại dùi, đục được sử dụng để tạo nên các sản phẩm điêu khắc gỗ ở Bình Dương. 
Ảnh: Thông Hải

Nghề điêu khắc gỗ ngày càng phát triển ở Bình Dương đã khắc họa phần nào thị hiếu thẩm mỹ của cư dân trong vùng cũng như cả nước, và hình thành nên một bộ môn nghệ thuật độc đáo của Bình Dương. Đến năm 1891, Bình Dương đã có trường mỹ nghệ thực hành dạy các nghề mộc, chạm và trang trí, sơn mài. Đây là nền tảng cho ngành điêu khắc phát triển từ nghề dân gian sang chính quy.

Hiện tại, các ngành nghề thủ công truyền thống, trong đó có nghề điêu khắc gỗ đang có đóng góp khá quan trọng trong tổng thể phát triển kinh tế tỉnh Bình Dương. Các cơ sở sản xuất điêu khắc của tỉnh hiện phân bố tập trung ở phường Phú Thọ và phường Chánh Nghĩa, Tp. Thủ Dầu Một với khoảng hơn 200 hộ làm nghề. Thực tế, những nghệ nhân điêu khắc gỗ không chỉ lưu giữ nghề truyền thống hay để mưu sinh, mà sản phẩm họ làm ra còn nhằm mục đích làm giàu và quảng bá chính văn hóa của con người và mảnh đất Bình Dương.

Sản phẩm điêu khắc gỗ mỹ thuật Bình Dương hiện cung cấp cho thị trường trong nước, phần lớn là các sản phẩm mỹ nghệ do du khách mua làm kỷ niệm, bày bán trong khách sạn, các điểm văn hóa du lịch. Ngoài ra, sản phẩm điêu khắc gỗ Bình Dương với giá trị văn hóa và kinh tế cao còn rất được khách quốc tế ưa chuộng và được xuất khẩu khắp nơi trên thế giới, mang lại lợi nhuận đáng kể cho tỉnh Bình Dương. Mẫu mã sản phẩm điêu khắc gỗ Bình Dương theo đó là khá đa dạng và phong phú được các nghệ nhân sáng tạo hoặc bảo lưu các phong cách cổ như: các tượng Phật, tượng Di Lặc, mục đồng, tiều phu, ngư phủ, chim ưng, sư tử hí cầu… Ngoài ra là một số mẫu mã làm theo các tượng cổ châu Âu như các tượng khỏa thân, vệ nữ… và cả những mẫu mã do người đặt hàng từ nước ngoài yêu cầu. Điều đặc biệt, sản phẩm điêu khắc gỗ Bình Dương cũng luôn nổi tiếng về chất lượng cao nhờ có nguồn gỗ tốt và được làm nguyên khối, không ghép, pha gỗ tạp, tháo lắp thuận tiện.

Chúng tôi đến làng nghề điêu khắc gỗ phường Phú Thọ, Tp. Thủ Dầu Một khi những tiếng đục đẽo vẫn rộn ràng vang lên giữa phố phường thời đô thị hóa. Anh Nguyễn Văn Bình, nghệ nhân điêu khắc gỗ có hơn 20 năm trong nghề chia sẻ: “Nghề này cần có đam mê, lòng kiên nhẫn mới có thể thành thạo và sáng tạo được. Hiện với khả năng, kinh nghiệm của mình, tôi làm được bình quân khoảng 15 triệu đồng/tháng, có thể yên tâm đảm bảo cuộc sống cho mình và gia đình”. Theo anh Bình, với thợ mới ra nghề, thu nhập cũng được khoảng 4-5 triệu đồng/tháng, nếu tiếp tục gắn bó, say mê nghề thì tay nghề theo thời gian sẽ được nâng lên, sản phẩm làm ra cũng sẽ đẹp và có chất lượng tốt hơn. Điều này sẽ góp phần vào việc gìn giữ uy tín cho thương hiệu sản phẩm điêu khắc gỗ Bình Dương./.


Một số sản phẩm điêu khắc gỗ Bình Dương:
















Bài: Nguyễn Vũ Thành Đạt - Ảnh: Thông Hải, Thành Đạt

Thứ Năm, 21 tháng 4, 2016

Chùm ảnh: 5 ngôi đền huyền bí trong quần thể Angkor

Trải qua lịch sử nghìn năm, những ngôi đền Angkor (Campuchia) chất chứa rất nhiều câu chuyện dành cho những đôi chân hay đi, những đôi mắt luôn tìm kiếm.
5 ngoi den huyen bi trong quan the Angkor hinh anh 1
Từ thế kỷ 9, những kiến trúc sư cùng các tay thợ tài hoa nơi này đã tạo dựng nên một quần thể kiến trúc vĩ đại, với 600 công trình nằm rải rác trong một vùng rừng núi rậm rạp rộng 45 km2. Trong hình là phía cổng sau của Angkor.
5 ngoi den huyen bi trong quan the Angkor hinh anh 2
Phía bên hông đền Angkor. Toàn bộ quần thể kiến trúc với những tháp, đền đài, phù điêu và hành lang mênh mông đều làm từ đá tảng, xếp chồng lên nhau nhìn rất tự nhiên, ngay cả ở trên nóc vòm. Họa tiết trang trí bằng đá như tượng Phật, vũ nữ, chiến binh và những hình hoa sen minh họa sử thi Ramayana và Mahabharata đều rất sống động, mềm mại.
5 ngoi den huyen bi trong quan the Angkor hinh anh 3
Khu đền có chiều Nam - Bắc dài 1.400 m, và Đông - Tây 800 m. Một hào nước sâu và rộng chạy vòng bên ngoài với rất nhiều hoa súng làm cho không khí ở Angkor thêm gần gũi. Trong ảnh, hai cậu bé đi hái hoa súng buổi sáng sớm.
5 ngoi den huyen bi trong quan the Angkor hinh anh 4
Công trình mang đậm dấu ấn Phật giáo. Thi thoảng khách du lịch vẫn có thể bắt gặp hình ảnh những vị tu sĩ chậm rãi đi quanh đền.
5 ngoi den huyen bi trong quan the Angkor hinh anh 5
Tới Angkor, ai cũng muốn ngắm hoàng hôn và bình mình nơi này. Hoàng hôn khi phủ bóng xuống những ngôi đền mang lại sự huyền bí không thể lẫn với bất cứ đâu.
5 ngoi den huyen bi trong quan the Angkor hinh anh 6
Những bức tượng trên cây cầu thuộc quần thể Angkor Thom.
5 ngoi den huyen bi trong quan the Angkor hinh anh 7
Đền Bayon tạo cho du khách cảm giác bay bổng, và chinh phục họ hoàn toàn bởi vẻ đẹp mẫu mực và đầy sống động. Ngôi đền được tạo thành bởi 50 ngọn tháp bằng đá. Cốt lõi của nó là một quần thể kiến trúc được xây dựng kiểu bậc thang với 16 bảo tháp hạng trung, và nhiều tháp nhỏ liên kết với nhau.
5 ngoi den huyen bi trong quan the Angkor hinh anh 8
Để xây dựng những bức tượng Phật mỉm cười này, người xưa đã phải phá núi lấy hàng nghìn tảng đá, thả theo bè xuống sông.
5 ngoi den huyen bi trong quan the Angkor hinh anh 9
Con đường tới đền Taprom đem lại cảm giác thanh thản và yên tĩnh.
5 ngoi den huyen bi trong quan the Angkor hinh anh 10
Một hồ nước trên cây cầu dẫn vào đền.
5 ngoi den huyen bi trong quan the Angkor hinh anh 11
Đền Taprom còn được gọi là Lăng mộ Hoàng hậu, nơi những cây cổ thụ vĩ đại bao phủ nhiều công trình, tạo nên những hình thù cổ quái và hấp dẫn.
5 ngoi den huyen bi trong quan the Angkor hinh anh 12
Bức tượng Phật mỉm cười nằm trong gốc cây hàng nghìn năm tuổi. Tại Angkor, người ta không thắc mắc về những điều kì lạ vì chẳng ai có thể có câu trả lời.
5 ngoi den huyen bi trong quan the Angkor hinh anh 13
Nơi nghỉ chân phía trước đền Banteay Srei.
5 ngoi den huyen bi trong quan the Angkor hinh anh 14
Ngôi đền cuối cùng, bé nhỏ nhất và nổi tiếng xinh đẹp trong quần thể Angkor là Banteay Srei. Đây không phải là một ngôi đền điển hình ở Angkor, vì nó nằm xa những di tích lớn khoảng 25 km.
5 ngoi den huyen bi trong quan the Angkor hinh anh 15
Đền Banteay Srei được xây chủ yếu bằng đá sa thạch đỏ, một chất pha màu được thêm vào những bức điêu khắc trang trí tỉ mỉ trên tường, mà ngày nay vẫn còn nhìn thấy được.
5 ngoi den huyen bi trong quan the Angkor hinh anh 16
Những bức tranh mô tả Phật giáo và Angkor được bày bán rất nhiều trên đường đi. Mỗi ngày đón hàng trăm ngàn lượt khách tới tham quan, khu di tích Angkor đang đứng trước tình trạng báo động về chất lượng và khả năng tồn tại.
5 ngoi den huyen bi trong quan the Angkor hinh anh 17
Đoàn khách du lịch đứng đợi hoàng hôn trên ngôi đền Phnom Bakheng được xây dựng trên một ngọn đồi nằm giữa Angkor Wat và Angkor Thom. Đây là trung tâm của vương quốc Khmer đầu tiên ở Angkor, gọi là Yasodharapura, là một ngôi đền Hindu dưới dạng núi đền với chiều cao 65 m.
5 ngoi den huyen bi trong quan the Angkor hinh anh 18
Nằm trên đỉnh một ngọn đồi, ngày nay ngôi đền là một địa điểm du lịch phổ biến đển khách du lịch Campuchia ngắm nhìn hoàng hôn của quần thể Angkor Wat, nằm ở giữa rừng khoảng 1,5 km về phía đông nam.
Theo TRI THỨC TRỰC TUYẾN