Trang blog này nhằm lưu lại những bài viết của chính tác giả hoặc của những tác giả khác đã viết và công bố trên các ấn phẩm chính thức, trên phương tiện truyền thông đại chúng, và trên mạng Internet, về những vấn đề Kinh Tế, Văn hoá, Xã hội, Y tế & Giáo dục đang cần tìm hiểu...lúc tuổi già. Không biết nói gì hơn, ngoài lời được xin phép và trân trọng cám ơn các bạn có bài đăng lại trên Blog này.
Thứ Ba, 24 tháng 10, 2023
Thứ Hai, 23 tháng 10, 2023
Quán cà phê đầu tiên của Starbucks,
Quán cà phê đầu tiên của Starbucks, được mở tại 1912, Pike Place Market, Seattle, Ứahington vào năm 1971.
Thứ Bảy, 21 tháng 10, 2023
Là những người Do Thái chống chủ nghĩa Zionist, chúng tôi chứng kiến cuộc diệt chủng triển khai ở dải Gaza
Ellen Brotsky và Ariel Koren
Giờ đây, các chính khách Mỹ không thể nào nói là không biết cuộc tàn sát ở Gaza : trong 12 ngày pháo kích, hơn 3500 người Palestin đã bị giết, trong đó 500 người tử nạn hôm thứ ba (17.10.2023) ở bệnh viện Baptist Al-Ahli. Khoảng 50 gia đình, mọi người, kể cả trẻ em và bé sơ sinh, đã bị tàn sát toàn bộ. Và Israel đã ra tối hậu thư cho những người còn sống : 1,1 triệu tất cả các người phải rời khỏi miền bắc Gaza, “vì sự an toàn của chính các người”– nói cách khác, họ phải chọn giữa sự ra đi và nguy cơ bị chết trong cuộc xâm lăng sắp tới.
Liên Hợp Quốc khẳng định rằng cuộc triệt thoái đại chúng như vậy là « bất khả thực hiện », có thể gây ra những « hậu quả khôn lường về nhân đạo », và kêu gọi Israel phải hủy bỏ mệnh lệnh nói trên. Một báo cáo viên của LHQ còn nói thẳng, gọi mệnh lệnh đó là « một tội ác chống nhân loại, trắng trợn vi phạm luật pháp nhân đạo quốc tế ».
Chúng tôi gọi nó bằng một ngôn từ hơi khác : triển khai một cuộc diệt chủng.
Không có từ ngữ nào khác để gọi tên cho cảnh tượng chết chóc mà các chính khách Israel đã chủ trương. Theo luật pháp quốc tế, một cuộc diệt chủng đòi hỏi hai điều kiện : một là « ý định tiêu diệt, toàn bộ hay một bộ phận, một nhóm dân tộc, sắc tộc, chủng tộc hay tôn giáo », hai là tiến hành sự hủy diệt ấy. Những hành động hủy diệt, nếu không có ý định, bị quy là thanh lọc sắc tộc. Nếu cố tình gây ra, đó là tội diệt chủng.
Israel xem ra đang chuẩn bị cho việc hủy diệt Gaza và người dân trên dải đất này : hôm thứ sáu (12.10.2023), tổng thống Isaac Herzog nói rằng người dân Gaza không phải là những thường dân vô can : « Toàn bộ dân tộc ấy phải chịu trách nhiệm. Nói rằng đó là những dân thường không biết gì, vô can, là nói sai. Hoàn toàn không đúng ». Phát biểu này trái nghịch với luật pháp quốc tế, vì luật pháp quốc tế nghiêm cấm sự trừng phạt tập thể, cấm lấy thường dân làm đối tượng, cả hai tội ấy là tội ác chiến tranh. Lời tuyên bố của Herzog còn hàm ý là Israel sẽ không kiềm chế khi tấn công Gaza.
Di dân cưỡng bức, như Israel đã bắt đầu, là bước đi trước sự tiêu diệt – tiêu diệt là bước cuối cùng của quá trình 10 giai đoạn diệt chủng theo nhận định của các học giả và các các cơ quan về nạn diệt chủng, kể cả các viện bảo tàng về Holocaust (cuộc diệt chủng chống người Do Thái) trên thế giới. Mười bước đi đó (có thể tiến hành cùng một lúc) bao gồm cả “việc phi nhân hoá,” cúp lương thực và nước uống cho toàn nhóm, cũng như ngụy danh chiến dịch quân sự là « phản ứng chống khủng bố ».
Chúng ta đang đứng trước tình huống này. Các quan chức Israel viện cớ khủng bổ để biện minh cho chiến dịch oanh tạc không phân biệt, trong khi ông bộ trưởng quốc phòng thì nói họ đang đánh những « động vật người » – một ngôn từ phi nhân hóa thường được sử dụng trên đường dẫn tới diệt chủng. Người ta còn viện dẫn một quan chức giấu tên của Bộ quốc phòng Israel : « Gaza cuối cùng sẽ trở thành một thành phố lều trại. Sẽ không còn tòa nhà nào nữa ».
Thủ tướng Benjamin Netanyahu đã lặp lại lời hẹn rằng những sự chết chóc đại trà cho đến nay « chỉ là bước đầu ». Dải Gaza bị « vây hãm toàn diện », bộ trưởng quốc phòng nói, cắt điện, nước, dầu khí và lương thực triệt để. Một thành viên của Knesset (quốc hội) thì đòi thực hiện cuộc Nakba lần thứ hai – Nakba lần thứ nhất là năm 1948, khi người Palestin bị di tản. Phải nói lại lần nữa : cố tình tạo ra một cuộc nakba ở Gaza là phạm tội diệt chủng.
Lối ăn nói này còn lan xuống cấp dưới : trên đài truyền hình quốc gia, một binh lính Israel đã nói, cuộc chiến này không chỉ là cuộc chiến « với Hamas », mà cả « với toàn bộ thường dân ». Mù quáng diệt trừ người Palestin ở Gaza, không nghi ngờ gì nữa, sẽ là một cuộc diệt chủng, như chính một học giả Israel về diệt chủng đã phát biểu. Những kẻ chủ trương diệt chủng đang tích cực triển khai hành động trước mắt chúng ta.
Là người Do Thái, chúng tôi lên án toàn bộ việc này. Chúng tôi lên án những dân biểu đã ủng hộ vô điều kiện chính sách của Israel, một chính sách đã dọn đường cho hàng chục năm chiếm đóng mà đa số thế giới xem là vi phạm luật pháp quốc tế. Chúng tôi lên án mọi hành động biến nhân dân Mỹ thành liên can trong một cuộc diệt chủng – bất luận là chủ động hay bị động.
Chúng tôi kêu gọi các nhà lập pháp hãy hành động tương tự. Nhân danh chúng tôi để tài trợ cho một cuộc diệt chủng tiềm thể nhất định không phải là liều thuốc chống lại nạn bài Do Thái : đó là phản bội người Do Thái mà miệng thì rêu rao ủng hộ.
Hơn 1400 người Israel đã bị giết trong các cuộc tấn công tàn bạo bất ngờ của Hamas – ngoài số 150 bị bắt cóc. Đó là một thương vong tàn khốc, và chúng tôi không do dự nói lên sự đau đớn trước sự thiệt mạng của sinh linh thường dân. Ngăn ngừa không để xảy ra thêm những thương vong ấy – kể cả cuộc sống của những người bị bắt cóc làm con tin – là điều ưu tiên cấp thiết.
Chúng tôi cũng bác bỏ việc đời sống chính trị Hoa Kỳ quá mực tập trung vào Hamas, và hiểu rằng đó là hậu quả của những tội ác và vây hãm mà Israel đã gây ra trong mấy chục năm qua. Điều này đã được các lãnh tụ phe đối lập, các nhóm cựu binh và báo chí Israel xác nhận.
Chúng tôi đặt câu hỏi với cộng đồng Do Thái của chúng tôi : bao giờ khóc thương những người dân thường bị giết khi họ là người Palestin ? Khi trẻ em bị binh lính Israel bắt giữ ?
Trong thời gian từ năm 2000 đến làn sóng bạo lực hiện nay, hơn 10 060 người Palestin đã bị người Israel giết chết – theo tổ chức nhân quyền B‘Tselem – so với 1 329 người Israel bị người Palestin giết chết, nghĩa là nhiều gấp 8 lần.
Trong mấy thập niên từ 1948 đến 2000, hàng chục ngàn người khác đã bị chết, đa số là người Palestin. Câu chuyện cuộc giao tranh đa phần là câu chuyện chết chóc và di cư của người Palestin, như các con số đã cho thấy.
Thời nay và trước đây, đa số các chính khách Mỹ cũng nhận ra.
Tuần trước, tổng thống Joseph R. Biden nhắc đi nhắc lại sự cam kết « cương quyết và không thể lay chuyển » của Hoa Kỳ đối với Israel, trong khi mỗi ngày cả ngàn quả bom được thả xuống. Ngoại trưởng Anthony Blinken thì hai lần kêu gọi ngừng bắn, sau đó xóa bỏ lời tuyên bố, cả hai lần. Khi đi thăm Israel, điều quan yếu là ông phải tức tốc kêu gọi chấm dứt chiến sự. Nếu tổng thống không sử dụng ảnh hưởng to lớn của mình để cứu vãn bao sinh linh ở Gaza, thì ông sẽ phải chịu một phần trách nhiệm.
Một đặc phái viên Hoa Kỳ nói rằng « không ai có quyền bảo Israel phải tự vệ như thế nào ». Trên thực tế, Bộ ngoại giao Mỹ đã cảnh báo các nhà ngoại giao tránh sử dụng những từ ngữ « xuống thang / ngừng bắn », « chấm dứt bạo lực / tắm máu », « tái lập sự yên bình ».
Phần đông các đại biểu quốc hội – Dân chủ và Cộng hòa – cũng không khá hơn : lãnh đạo Cộng hòa ở Thượng viện,Lindsay Graham nói đây là cuộc « chiến tranh tôn giáo » và kêu gọi Israel « san bằng chỗ đó đi » khi nói tới dải Gaza.
Hạ nghị sĩ Nancy Pelosi, nữ đại biểu bang California của chúng tôi đó, đã tuyên bố rằng Hoa Kỳ, « vững vàng » sát cánh với Israel trong sự điều hành nền quốc phòng – điều này giải thích tại sao, hôm thứ sáu tuần trước, bảy người chúng tôi đã tự xiềng vào cửa trụ sở văn phòng của bà, trong khi hơn 200 người Do Thái chống Zion họp mit tinh, đòi Hoa Kỳ chấm dứt viện trợ quân sự cho Israel.
Một số nhỏ dân biểu bất đồng ý kiến thì bị đẩy ra ngoài rìa : chẳng hạn như nữ hạ nghị sĩ Rashida Tlaib : khóc thương sự chết chóc ở cả hai bên, nhưng kêu gọi chấm dứt chính sách chiếm đóng và kỳ thị, lập tức bị nhóm Cộng hòa tìm cách kiểm duyêt ; nghị sĩ Cộng hòa Ilhan Omar cũng đã tiếc thương sự tử vong của cả người Israel lẫn người Palestin, nhưng đã bị chỉ trích tới tấp khi đặt nghi vấn về việc « bán vũ khí và viện trợ quân sự vô điều kiện cho Israel ».
Nhà Trắng thì gọi các đại biểu quốc hội kêu gọi sự kiềm chế là « đáng hổ thẹn » và « ghê tởm ».
Đối với chính trường Mỹ, thì xung năng cơ bản về nhân đạo – hạ vũ khí – là điều không thể chấp nhận. Đặt nghi vấn về quyền « tự vệ » của Israel khác nào mắc tội « bài Do Thái ».
Song chúng tôi nhận thức rõ ràng hiện thực cái gọi là « tự vệ » kia là một chiến dịch khủng bố, triển khai kế hoạch diệt chủng từ trên xuống. Với sự ủng hộ của Tây phương, Israel đang lao đầu vào cuộc tàn sát. Và trong khi cuộc tấn công khởi đầu của Hamas khiến các chính khách toàn quốc lên án tức thời, thì sau các vụ oanh tạc vừa qua, không thấy ai suy tính, không thấy ai ngẫm nghĩ về lịch sử, nguồn gốc sự hình thành Hamas, cuộc bao vây Gaza, quá trình chiếm đóng.
Israel thì bảo người dân Gaza cút đi hay là chết – nghĩa là phải chọn giữa trục xuất hay tiêu diệt – trong khi họ chặn đường rút và oanh tạc các đoàn xe chạy trốn, dồn Gaza thành cái bẫy.
Thay vì kêu gọi chấm dứt ngay bạo lực, các nhà lập pháp Hoa Kỳ chiếu đèn màu xanh và màu trắng (màu cờ Israel) lên tòa nhà Quốc hội và nói « sát cánh với Israel ». Họ có đủ quyền lực để thay đổi các tính toán và thúc ép Israel – nước thụ hưởng viện trợ quân sự lớn nhất của Mỹ – phải tuân thủ luật pháp quốc tế, nhưng họ đã làm ngược lại.
Quá đủ rồi ! Chúng tôi kêu gọi Quốc hội hãy dũng cảm ngăn ngừa một cuộc diệt chủng được tiến hành nhân danh chúng ta. Các nghị sĩ có thể ủng hộ các nạn nhân Israel mà không tiếp tay cho một cuộc tàn sát đại trà, một cuộc di dân cưỡng bức, những hành động có thể cướp đi ngàn vạn mạng sống.
Bất cứ cái chết tiếp theo nào, không chỉ những bàn tay Israel mà cả những bàn tay Mỹ sẽ vấy máu – trong đó có những người có vận hội kêu gọi tuân thủ chuẩn mực quốc tế, phản đối sự chiếm đóng, và đã chọn kiên trì với lập trường này.
Ellen BROTSKY và Ariel KOREN
Nguyễn Ngọc Giao dịch
NGUYÊN TÁC : The Guardian ngày 18.10.2023
Ellen Brotsky từ lâu là nhà hoạt động, tình nguyện viên với tổ chức Jewish Voice for Peace Bay Area, phân hội của tổ chức Do Thái lớn nhất trên thế giới chống chủ nghĩa Zionist, đoàn kết với Palestin tự do.
Ariel Koren là người Do Thái, đã từ bỏ công việc ở Google để phản đối công ti này ký hợp đồng quân sự với Israel. Bà là sáng lập viên của Respond Crisis Translation, một tập thể đấu tranh cho sự công bằng trong ngôn ngữ đối đáp linh hoạt.
Thứ Sáu, 20 tháng 10, 2023
Toàn cảnh khu vực đang xây cầu Bình Gởi trên tuyến vành đai 3 TP HCM

Cầu Bình Gởi nằm trên tuyến vành đai 3 TP HCM bắc qua sông Sài Gòn, cây cầu này mang nhiệm vụ kết nối xã An Sơn (TP Thuận An, tỉnh Bình Dương) với xã Bình Mỹ, huyện Củ Chi, TP HCM.

Theo Ban Quản lý Dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông tỉnh Bình Dương (đơn vị chủ đầu tư), cầu Bình Gởi thuộc dự án thành phần 5 xây dựng đường vành đai 3 đoạn qua tỉnh Bình Dương (bao gồm nút giao Tân Vạn và cầu Bình Gởi), tổng mức đầu tư của dự án thành phần này 5.752 tỷ đồng

Thông tin từ Báo Bình Dương, tổng mức vốn đầu tư dự kiến của cầu Bình Gởi khoảng 665 tỷ đồng. Cầu Bình Gởi do tỉnh Bình Dương đầu tư xây dựng nhưng có 700 m mặt bằng thuộc địa phận TP HCM.

Về quy mô, cầu sẽ có 4 làn xe cao tốc, với về rộng mặt đường khoảng 19,75 m, đơn vị tư vấn giám sát của công trình này là Viện Công nghệ Xây dựng Cầu đường phía Nam; đơn vị thi công là Liên danh CTCP Xây dựng Bắc Trung Nam và CTCP XD & LM Trung Nam. Thời gian thi công dự kiến là 900 ngày.

Bảng thông tin công trình cầu Bình Gởi. Hồi tháng 6, UBND tỉnh Bình Dương cũng đã có quyết định điều chỉnh bổ sung vốn Kế hoạch đầu tư công năm 2023 cho hai dự án, trong đó có Dự án thành phần 5 - Xây dựng đường vành đai 3 đoạn qua tỉnh Bình Dương (bao gồm nút giao Tân Vạn và cầu Bình Gởi) là 497 tỷ đồng; kế hoạch đầu tư công năm nay của dự án sau khi điều chỉnh là 748 tỷ đồng, tăng khoảng 251 tỷ đồng.

Thi công cầu Bình Gởi bên phía xã An Sơn (TP Thuận An) hiện nay. Theo ghi nhận của người chụp, tiến độ thi công bên phía xã An Sơn đang chậm hơn so với bên phía xã Bình Mỹ (huyện Củ Chi), một phần do hạ tầng giao thông bên phía xã An Sơn hiện nay đang khá hạn chế. Cầu Bình Gởi sau khi hoàn thành sẽ tạo thuận lợi cho người dân và phương tiện lưu thông, vận chuyển hàng hóa.

Tuyến vành đai 3 sau khi vượt sông Sài Gòn sẽ giao với đường Hà Duy Phiên bên phía xã Bình Mỹ, huyện Củ Chi, hiện tại khu vực này đang được đẩy nhanh việc thi công và giải phóng mặt bằng.
Thứ Ba, 17 tháng 10, 2023
LỜI GIỚI THIỆU CUỐN HỒI KÝ CỦA GIÁO SƯ NGUYÊN XUÂN THU
Chủ Nhật, 15 tháng 10, 2023
TSKH-KTS. Ngô Viết Nam Sơn: 'Tận lực với nơi cầu thị'
"Nhận diện đô thị Việt Nam đương đại: Câu chuyện Quy hoạch - Kiến trúc" là tập sách đầu tay của TSKH-KTS. Ngô Viết Nam Sơn, chọn lọc những góp ý, bài viết, phát biểu của ông vì sự tiến bộ trong quá trình phát triển đô thị suốt hai thập niên qua. Tuy nhiên, cuộc thảo luận giữa chúng tôi lại bắt đầu từ vụ hỏa hoạn thương tâm tại Hà Nội khiến 56 nạn nhân tử vong.
- Nước không lối thoát bởi quá tham lam
- Đà Lạt lại đề xuất cao tầng hóa để xóa bỏ khu Phố Việt di sản Hòa Bình!
- Từ Sài Gòn đến Tiểu Sài Gòn
Ông Sơn bình luận: “Tôi nghĩ chính quyền trung ương đóng vai trò then chốt, thông qua việc thiết kế hành lang pháp lý. Áp dụng pháp luật về phòng cháy chữa cháy (PCCC) hiện nay thì nơi quá cứng nhắc, chỗ lại lỏng lẻo.
Trong tình huống một căn nhà phố 6 tầng có một gia đình 5 người sinh sống, tầng trệt cho thuê buôn bán, thì có thể chỉ cần Sở Xây dựng cấp phép xây dựng mà không cần trình duyệt PCCC. Nhưng khi chủ nhà tăng mật độ xây dựng và chuyển đổi công năng thành chung cư mini, thì trước khi cấp phép đăng ký kinh doanh dịch vụ cho thuê hoặc chuyển nhượng sở hữu các căn hộ, cơ quan quản lý đô thị có trách nhiệm phải yêu cầu bổ sung văn bản nghiệm thu PCCC, đòi hỏi cầu thang bộ phải đảm bảo an toàn phòng cháy và thoát người theo tiêu chuẩn chung cư, thêm cửa ngăn tại từng tầng ngăn khói, chịu lửa tối thiểu hai tiếng đồng hồ.
Nếu có thể làm đúng như vậy, thì có lẽ đã không xảy ra tình huống thiệt hại nhân mạng nghiêm trọng vừa qua. Chủ đầu tư dự án bị khởi tố, bắt tạm giam. Nhưng những dự án tương tự đang đặt người dân vào tình thế nguy hiểm thì sắp tới phải được rà soát và sửa sai, vì chúng “chưa cháy” chứ không phải “không cháy”.
TSKH-KTS. Ngô Viết Nam Sơn trong cuộc thảo luận với Người Đô Thị. Ảnh: Trung Dũng
Chung cư mini đáp ứng nhu cầu của tầng lớp thu nhập thấp. Sau thảm họa, nhiều ý kiến xoay quanh nguồn cung nhà ở xã hội. Liệu rằng chương trình này có phải là giải pháp căn cơ, theo ông?
Quy hoạch có hai cấu phần gồm định hướng chiến lược và thực thi. Theo tôi, tư duy xây nhà giá rẻ bán cho người dân thu nhập thấp sai từ xuất phát điểm. Cái gốc của vấn đề là Nhà nước cần thiết kế cơ chế để cho thuê chỗ ở phù hợp với mức lương của các gia đình thu nhập thấp, và chỉ đến khi cuộc sống đã được nâng cao hơn trong nhiều năm sau, thì mới tính đến hỗ trợ sở hữu nhà.
Nhà nước cần thiết kế cơ chế để cho thuê chỗ ở phù hợp với mức lương của các gia đình thu nhập thấp, và chỉ đến khi cuộc sống đã được nâng cao hơn trong nhiều năm sau, thì mới tính đến hỗ trợ sở hữu nhà."
TSKH-KTS. Ngô Viết Nam Sơn
Cơ chế từ thuê dài hạn đến mua là lựa chọn khả dĩ hơn cho việc hỗ trợ đúng đối tượng thu nhập thấp. Tiền thuê nhà hằng tháng chỉ được tính khấu trừ, lúc ký hợp đồng mua bán, sau khi người thu nhập thấp đã thuê chính căn nhà đó để ở đủ lâu, trong thời hạn 10-15 năm. Đây là phương thức phổ biến ở nhiều quốc gia tiên tiến, có tỷ lệ sở hữu nhà thấp hơn nhiều lần so với Việt Nam.
Đã 13 năm kể từ khi ông chính thức quay về Việt Nam làm việc. Quyết định xuất bản tập sách đầu tay có ý nghĩa như thế nào?
Trong giai đoạn đầu của sự nghiệp, tôi vẽ và làm tư vấn thiết kế nhiều hơn viết. Từ khi có cơ hội làm việc với chú Sáu Dân (cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt), tôi mới nhận ra những bài viết có hiệu ứng lan tỏa cộng hưởng và tác động xã hội cùng chung tay hợp sức, có thể đem lại hiệu quả to lớn cho việc phát triển đô thị và phát triển quốc gia, cao hơn rất nhiều so với những bản vẽ thiết kế. Tầm quan trọng này xứng đáng để tôi phân bổ quỹ thời gian công sức, mặc dù viết một bài báo khoa học, nhiều khi cũng mất công sức tương đương với việc phác thảo ý tưởng chủ đạo cho một dự án lớn.
Từ những bài báo cho đến cuốn sách này, có sự động viên rất lớn từ những thân hữu, như nhà báo Trần Trọng Thức, chuyên gia kinh tế Trần Sĩ Chương… cũng như công phu biên tập của nhà văn Nguyễn Vĩnh Nguyên. Tập sách vừa là quà tặng cho những địa phương và cá nhân quan tâm đến những vấn đề đô thị mà tôi đã từng có cơ hội hỗ trợ, vừa là nguồn tham khảo cho những người cần nắm bắt những phương pháp tư duy cơ bản khi ứng xử với đô thị.
Từ phải: Thủ tướng Võ Văn Kiệt, nhiếp ảnh gia Nguyễn Mạnh Đan, nhiếp ảnh gia Giản Thanh Sơn và cha con kiến trúc sư Ngô Viết Thụ - Ngô Viết Nam Sơn trong chuyến công tác tại vùng Đồng Tháp Mười năm 1987. Ảnh: TL.GTS
Quy hoạch đô thị là ngành khoa học phức tạp. Đâu là “khẩu quyết” để tiếp cận tác phẩm này?
Công tác quy hoạch đô thị thường bị tác động, chi phối, quyết định bởi những người có liên quan (stakeholders), gồm chính quyền, nhà đầu tư, doanh nghiệp, chuyên gia trong nhiều ngành, và nhất là người dân.
Quy hoạch đô thị có nhiều yếu tố phức tạp đan xen, nhưng luôn cần bảo tồn, chỉnh trang, xây dựng - phát triển, và vận hành trên nền tảng phát triển bền vững, đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các bên liên quan. Nhà đầu tư đi tìm lợi nhuận không sai, nhưng bên cạnh việc hỗ trợ nhà đầu tư, chính quyền đồng thời phải bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người dân, phải cân đối giữa bảo tồn và phát triển; ngắn hạn và dài hạn.
Sức người hữu hạn, nên tôi ưu tiên dành thời gian tận lực tư vấn hoặc cố vấn cho những nơi cầu thị"
TSKH-KTS. Ngô Viết Nam Sơn
Vậy nên, tôi cố gắng diễn dịch các kiến thức phức tạp một cách đơn giản, dễ hiểu, nhằm mở rộng phạm vi tiếp cận đến mọi người dân, sao cho với trình độ tiểu học trở lên vẫn có thể hiểu được. Tri thức lan tỏa là cơ sở để hy vọng có thêm những cánh tay cùng chung sức hướng đến những thay đổi tích cực vì lợi ích cộng đồng.
Quan sát thực tiễn trong hai thập niên trở lại đây, có vẻ như rất ít những dự án hướng đến sự “hài hòa”, chẳng hạn như Ba Son và sắp tới đây có thể là Dinh Tỉnh trưởng Đà Lạt mà ông đã thảo luận trên nhiều diễn đàn, có cảm giác người biết việc thì không được làm và ngược lại. Về phần mình, có khi nào ông cảm thấy bất lực?
Tôi chưa từng bi quan, dù không phải lúc nào mình cũng tìm được tiếng nói chung với chính quyền địa phương. Nhiệm kỳ này chưa tiếp thu góp ý, thì mình đành tạm gởi gắm tâm tư hoài bão vào những bài viết truyền cảm hứng, đợi khóa sau. Môi trường làm việc đã rèn luyện cho tôi sự kiên nhẫn.
Sức người hữu hạn, nên tôi ưu tiên dành thời gian tận lực tư vấn hoặc cố vấn cho những nơi cầu thị. Đã có nhiều địa phương sử dụng các ý kiến tư vấn hoặc bài viết của tôi đưa vào quy định quản lý đô thị, chẳng hạn như Bà Rịa - Vũng Tàu và Khánh Hòa, quy định hạn chế phát triển bức tường cao ốc chắn mặt tiền ven biển hoặc ven sông, khuyến khích xu hướng phát triển đảm bảo tầm nhìn thoáng ra không gian xanh mặt nước và dẫn gió mát vào sâu trong đất liền.
Quá trình làm việc còn giúp tôi may mắn có được một “cộng đồng” ngày càng nhiều người chung chí hướng, bao gồm thân hữu, đồng nghiệp, giáo sư đại học, chuyên gia đa ngành trong và ngoài nước, chủ đầu tư, và nhiều lãnh đạo địa phương trong các nhiệm kỳ khác nhau.
Đồ án quy hoạch phân khu Khu đô thị sinh thái Thanh Toàn do TSKH-KTS. Ngô Viết Nam Sơn làm chủ nhiệm đồ án, định vị theo tiêu chí phát triển đô thị với mật độ thấp, tăng cường không gian xanh, công bố tháng 6.2023. Ảnh: TLNV
Nhiệm kỳ lãnh đạo kéo dài 5 năm, trong khi một bản quy hoạch có khi cần đến vài ba chục năm để chứng minh được hiệu quả kinh tế. Trồng cây không đợi được đến ngày hái quả có làm suy giảm động lực thực thi công vụ?
Những dự án hàng trăm triệu USD, tỷ USD thường làm nhiều địa phương choáng ngợp, khi những nhà đầu tư trong và ngoài nước có tiềm lực tài chính thuê mướn những chuyên gia tầm cỡ giúp đề xuất phương án. Tuy nhiên, các đề xuất có xu hướng nhấn mạnh điểm mạnh cùng cơ hội, lờ đi những điểm yếu và rủi ro khi trình bày phương án đầu tư.
Vì vậy, chính quyền địa phương rất cần những chuyên gia độc lập và chính trực, để cố vấn, tư vấn chiến lược, hỗ trợ đánh giá toàn diện tác động của dự án trong cả ngắn, trung và dài hạn. Mà có khi chưa cần chính quyền ngỏ lời, những tiếng nói trách nhiệm vẫn cất lên dõng dạc cảnh báo trách nhiệm công vụ của nhà lãnh đạo, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Trách nhiệm của chuyên gia độc lập còn giúp vạch ra cho doanh nghiệp phương án vừa bảo đảm lợi nhuận, vừa thể hiện trách nhiệm xã hội, tạo giá trị cho cộng đồng.
Việt Nam có nhiều nhà đầu tư tên tuổi và giàu có, nhưng lại ít người thể hiện được trách nhiệm xã hội như Chú Hỏa. Hậu thế nhớ đến thương gia gốc Hoa không chỉ vì khối tài sản hàng chục ngàn căn nhà, mà còn vì nhiều khu dân cư, cơ sở hạ tầng đến nay vẫn có giá trị di sản phục vụ tốt cho cộng đồng.
Chú Hỏa thuộc về giai đoạn trước năm 1975. Đã 48 năm từ cột mốc này, theo ông, Việt Nam đã có những cơ hội gì?
Sau chiến tranh, nhiều đô thị được xây dựng, đời sống vật chất cải thiện, nhiều người phấn khởi. Tôi cũng phấn khởi, nhưng vẫn thấy tiếc cho Việt Nam khi so sánh với Trung Quốc. Giai đoạn 1990-2010 là khoảng thời gian châu Á bùng nổ phát triển đô thị. Trong đó, Trung Quốc có nhiều khởi điểm tương đồng với Việt Nam từ thể chế chính trị, mô hình kinh tế tập trung...
Đất nước ta đáng lý ra đã có thể tiến xa hơn nhiều, nếu không bị những thiếu sót, sai lầm của từng dự án, từng địa phương tích tụ... trì kéo tốc độ phát triển."
TSKH-KTS. Ngô Viết Nam Sơn
Qua kinh nghiệm cùng Skidmore, Owings & Merrill (SOM) thực hiện dự án quy hoạch Thượng Hải, tôi từng được chú Sáu Dân (cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt) mời góp sức cố vấn cho dự án Thủ Thiêm, nơi có bối cảnh phát triển tương tự. Thượng Hải thành công lớn qua chiến lược bảo tồn khu trung tâm hiện hữu tại bờ Tây, giải tỏa trắng bờ Đông để phát triển đô thị hiện đại. Sau 15 năm, phố Đông lột xác trở thành trung tâm kinh tế tài chính quốc tế như Hong Kong, còn Thủ Thiêm đến nay vẫn lận đận.
Thành công của Thượng Hải đã góp phần không nhỏ để Trung Quốc vươn lên vị trí tiệm cận số 1 thế giới sau hơn 4 thập niên. Xuất phát sau Trung Quốc 10 năm nhưng đáng tiếc chúng ta vẫn chưa tận dụng được tốt lợi thế người đi sau, vẫn chưa học được cái hay và tránh lập lại sai lầm của họ, để phát triển kinh tế xã hội có thể bứt tốc nhanh hơn nữa. Đất nước ta đáng lý ra đã có thể tiến xa hơn nhiều, nếu không bị những thiếu sót, sai lầm của từng dự án, từng địa phương tích tụ... trì kéo tốc độ phát triển.
TSKH-KTS. Ngô Viết Nam Sơn trình bày quan điểm quy hoạch bờ Đông - bờ Tây sông Sài Gòn, tại hội thảo tháng 4.2016. Ảnh: Tấn Phúc
Đô thị chức năng là một khái niệm được thị trường thảo luận sôi nổi những năm gần đây. Loại hình này liệu đã có một diện mạo hoàn chỉnh, thưa ông?
Tôi cho rằng phát triển nhiều dự án đô thị ở Việt Nam đang lệch hướng thành dự án địa ốc. Chủ đầu tư tìm mọi cách tăng diện tích mét vuông sàn. Bán nhanh, thu tiền nhanh, trong khi nhiều hạ tầng kỹ thuật (đường sá, hệ thống thoát nước, công viên...), hạ tầng xã hội (trường học, bệnh viện…) vẫn chưa có. Người mua bị thiệt thòi. Trách nhiệm lớn nhất thuộc về nhà quản lý đô thị, chú trọng phê duyệt quy hoạch nhưng buông lỏng công tác giám sát kế hoạch thực hiện quy hoạch.
Thiết nghĩ Nhà nước nên quy định trước khi được cấp phép mở bán từng giai đoạn, chủ đầu tư bắt buộc phải nộp biên bản bàn giao hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội cho chính quyền địa phương, theo tỷ lệ tương xứng với diện tích sàn của giai đoạn đó, đảm bảo cư dân mới được phục vụ ngay khi nhận bàn giao nhà ở.
Ngoài ra, việc “cắm” dự án vào khu dân cư hiện hữu khiến hạ tầng quá tải, cần phải được mở rộng và nâng cấp. Do đó, nhà đầu tư có nghĩa vụ phải chi trả kinh phí để Nhà nước giải quyết tác động môi trường.
Ở những quốc gia tiên tiến, quy chế bắt buộc việc chính quyền thuê đơn vị độc lập đánh giá báo cáo tác động môi trường (ĐTM) nhằm đối chiếu với ĐTM do chủ đầu tư thực hiện. Trước khi cấp phép, nhà đầu tư và chính quyền sẽ thương lượng mức độ đóng góp. Việt Nam hiện nay còn xem nhẹ nguồn thu này, làm tăng gánh nặng cho ngân sách.
Nhiều phát biểu, bài viết của ông đụng chạm trực tiếp đến lợi ích của nhiều chủ đầu tư có “máu mặt”. Liệu điều đó có khiến ông gặp rắc rối?
Không ít lần tôi nhận được đề nghị giao cho những dự án lớn đổi lấy sự im lặng của tôi, nhưng tôi luôn tìm cách thuyết phục họ thay đổi cách nghĩ. Tôi thường tập trung góp ý cho chủ trương chính sách quản lý đô thị, hơn là việc “gọi tên” nhà đầu tư. Bởi lẽ khi công tác quản lý đô thị chưa tốt, thì dù nhà đầu tư này không làm, luôn có nhà đầu tư khác muốn làm. Doanh nghiệp không giận tôi dù phần lớn rút lại lời đề nghị.
Nghĩa là vẫn còn những nhà đầu tư tìm được tiếng nói chung với ông?
Chúng ta vẫn có nhiều nhà đầu tư có tâm và có tầm. Dự án mới nhất quy hoạch Khu đô thị sinh thái Thanh Toàn quy mô trên 500 ha vừa được UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế ủng hộ, phê duyệt. Nhà đầu tư chấp thuận đề xuất tăng quy mô gấp rưỡi hạ tầng xã hội để người dân ở khu vực lân cận ngoài dự án vẫn có thể tiếp cận y tế, giáo dục chất lượng cao.
Xin cảm ơn ông.
Khuê Anh thực hiện
Hơn 7 năm trước, TSKH-KTS. Ngô Viết Nam Sơn là một trong những tiếng nói chuyên môn mạnh mẽ đã sớm đưa ra khuyến cáo tại cuộc hội thảo mà Người Đô Thị khi tường thuật đã gặp nhiều thế lực gây trở ngại: “Xây nhà cao tầng dọc bờ sông khu Ba Son, Tân Cảng, Cảng Sài Gòn… sẽ tạo thành bức tường chắn gió thổi vào phía trong. Chắc chắn những công trình này xây xong sẽ chắn tầm nhìn của khu trung tâm ra hướng sông, chắn gió từ phía sông thổi vào.
Khi đó, khí hậu TP.HCM sẽ nóng hơn, bức bối hơn. Phần lớn khu vực Ba Son không nên dành cho nhà cao tầng, mà nên dành cho không gian xanh kết nối liên hoàn với Thảo Cầm Viên, các công trình công cộng, văn hóa, và bảo tồn, bảo tàng phục vụ nhu cầu không gian xanh và không gian công cộng. Xu hướng chung của các nước thường là nhà cao tầng nằm ở phía trong và giảm dần độ cao về phía gần bờ sông…”.
Mới đây, tại văn bản của UBND TP.HCM ngày 19.9.2023 thông báo kết luận cuộc họp nghe báo cáo tiến độ lập đồ án điều chỉnh quy hoạch chung TP.HCM đến năm 2040, tầm nhìn đến năm 2060, Chủ tịch UBND TP.HCM Phan Văn Mãi đã lưu ý Sở Quy hoạch - Kiến trúc TP.HCM cần nghiên cứu hạn chế tối đa việc bố trí công trình cao tầng dọc khu vực sông để phát huy giá trị cảnh quan khu vực và ưu tiên dành không gian phục vụ công cộng.
Song Nguyễn
Nhận diện đô thị Việt Nam đương đại
Nhận diện đô thị Việt Nam đương đại: Câu chuyện Quy hoạch - Kiến trúc (Phanbook và NXB Dân Trí phát hành tháng 9.2023) là tập hợp những bài viết khoa học, ý kiến chuyên môn đầy trách nhiệm trước những vấn đề của đô thị Việt Nam trong khoảng hai mươi năm qua của TSKH-KTS. Ngô Viết Nam Sơn. Cuốn sách chia làm hai phần:
Không gian & thời gian đô thị: từ tầm nhìn của một chuyên gia quy hoạch, tác giả đi sâu vào những vấn đề như bảo tồn di sản vật chất và tinh thần trong các đô thị đang phát triển; đưa ra các ý tưởng và giải pháp tiềm năng như xây dựng đô thị sức khỏe, đô thị di dưỡng và giáo dục, đô thị sân bay hay đô thị thông minh... Với lối viết thiên về học thuật, tác giả đưa ra nhiều luận điểm lý thuyết để kiến giải thực tế phát triển đô thị Việt Nam đương đại. Tác giả sử dụng phương pháp đối chiếu, đặt các đô thị Việt Nam bên cạnh những đô thị lớn trên toàn cầu như New York, Tokyo, Paris, Milan, Thượng Hải... nhằm mở rộng góc nhìn, cho thấy toàn cầu hóa đô thị và bản sắc đô thị đang là vấn đề chung của nhiều quốc gia.
Thành phố & những hình dung: tác giả mổ xẻ những câu chuyện đã từng là thời sự và nhiều khả năng lặp lại, cụ thể tại Đà Nẵng, Đà Lạt, Nha Trang, Thủ Đức, Thừa Thiên - Huế, TP.HCM, Mã Pì Lèng, Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ... để trình bày ý kiến, cảnh báo với tinh thần xây dựng, phản biện chính trực của một nhà khoa học, một chuyên gia. Bằng tập hợp những tiểu luận ngắn, tác giả dẫn dắt vào từng trường hợp cụ thể để triển khai các luận điểm có thể đã được đưa ra ở phần một, đặt các nguyên lý trong mối quan hệ và yêu cầu của thực tiễn.
Đặc biệt, cuốn sách gói lại bằng bài viết tưởng nhớ thân phụ của tác giả - nhà quy hoạch, KTS. Ngô Viết Thụ - với một sự kính trọng, hàm ơn; cho thấy một dòng chảy, một sự tiếp nối thú vị.
L.G.T
Lịch sử trường Y Khoa Đại Học Sài Gòn (YKDHS), Y Khoa Đại Học Hà Nội (YKDHH)
Ngôi trường cũ, thày bạn xưa
Vài giòng tóm lược lịch sử Y Khoa Đại Học Hà Nội (1902-1954) và Y Khoa Đại Học Sài Gòn (1947-1975)
Đại Hội Quốc Tế Y Nha Dược Sĩ Việt Nam Tự Do Kỳ IV, năm 2002, có chủ đề là “Y Tế Việt Nam qua giòng thời gian”, một chủ đề rộng lớn, bao gồm tất cả những quá trình hoạt động và những thành quả trong quá khứ, hiện tại và có thể cả trong tương lai của ba ngành Y, Nha, Dược tại hải ngoại. Dựa theo chủ đề, và trong phạm vi giới hạn của bài này, chúng tôi cố gắng trình bầy một khía cạnh nhỏ trong nhiều khía cạnh của chủ đề, khía cạnh lịch sử liên quan tới hai trường Đại học Y Khoa Hà Nội và Sài Gòn, nơi mà một số lớn các y sĩ Việt Nam tại hải ngoại đã được đào tạo.
Khi nhắc tới lịch sử trường Y Khoa Đại Học Sài Gòn (YKDHS), thực khó có thể không nói tới Y Khoa Đại Học Hà Nội (YKDHH), vì trên thực tế, hai trường có một mối liên hệ mật thiết không thể tách rời. Những năm 1954 và 1975 được lựa chọn như những dứt điểm chúng ta không thể nào quên được, vì đây là những con mốc thời gian đánh dấu những diễn biến chính trị quan trọng có ảnh hưởng sâu rộng tới cả hai trường. Những gì đã xẩy ra ở trường Hà Nội sau năm 1954 và ở trường Sài Gòn sau năm 1975, vì nhiều lý do, đều không được ghi chép trong bài này.
Trường YKDHH được thành lập vào năm 1902 (1). Năm 1947, sau khi quân Nhật đầu hàng và người Pháp trở lại bán đảo Đông Dương, một trường Y Khoa thứ nhì được thành lập tại Saigon để đáp ứng nhu cầu của số sinh viên càng ngày càng đông ở miền nam Việt Nam. Trước năm 1947, những sinh viên miền Nam muốn theo học y khoa sẽ phải hoặc ra Hà Nội hoặc sang Pháp, rầy rà và tốn kém. Cho tới năm 1954, cuộc chia rẽ đất nước Việt Nam ra làm hai phần đã kéo theo một cuộc di cư vĩ đại của hơn 1 triệu người dân từ miền bắc vào nam. Trong số này có một số đông sinh viên y khoa và phần lớn ban giảng huấn của YKDHH. Trường Y khoa Saigon đã mở rộng cửa thâu nhận số sinh viên từ miền bắc tới và trở thành YKDHS.
Sau đây chúng ta sẽ lần lượt coi xét những dữ kiện lịch sử của YKDHH trước, rồi tới YKDHS và sau cùng, thêm một phần báo cáo kết quả hoạt động của Hội Đồng Khoa lưu vong YKDHS tại Mỹ.
Y Khoa Đại Học Hà Nội.
Theo cuốn sách “L’Ecole de Plein Exercice de Médecine et de Pharmacie” do nha Học Chánh của chính phủ bảo hộ Đông Dương xuất bản năm 1931 (1), thì trường YKDHH được thành lập năm 1902 do nghị định ký ngày 8 tháng giêng năm 1902 của toàn quyền Paul Doumer. Người Pháp sau khi lập chính phủ bảo hộ cai trị toàn cõi Việt Nam đã có ý định thành lập một trường y khoa, không ngoài mục đích bành trướng ảnh hưởng văn hóa Pháp và thu phục nhân tâm dân bản xứ. Cơ sở giáo dục y khoa này trước định đặt ở Saigon, nhưng sau một thời gian nghiên cứu, lại chuyển ra Hà Nội. Trường có tên là Trường Y Khoa Đông Dương (Ecole de Médecine de l’Indochine). Vị Khoa trưởng đầu tiên không phải ai xa lạ mà chính là Bác sĩ Alexandre Yersin, người đã tìm ra vi trùng bịnh dịch hạch Yersinia pestis. Ngoài BS Yersin ra còn có hai Giáo Sư người Pháp là BS Leroy des Barres và BS Degorce, nguyên cựu nội trú các bịnh viện Paris, phụ trách giảng dạy hai môn Nội và Ngoại khoa. BS Yersin cùng với 4 phụ giảng khác lo dạy môn Sinh vật học và Khoa học căn bản. Cứ nhìn vào tầm vóc chuyên môn của những vị được đề cử lo việc giảng huấn, ta thấy chính phủ bảo hộ Pháp cũng khá chú trọng về trường Y Khoa Đông Dương. Tưởng cũng nên ghi nhận thêm là BS Yersin chỉ đảm nhiệm chức vụ Khoa trưởng có 2 năm, vì ông đã trở lại hoạt động tại viện Pasteur Nha Trang vào năm 1904, nơi mà ông yêu thích làm việc cho tới năm 1943 khi ông viên tịch.
Tới đây tôi xin phép mở một dấu ngoặc để kể thêm một vài chi tiết lý thú về việc khám phá vi trùng dịch hạch của BS Yersin. Theo những điều được ghi chép lại thì sự khám phá này, cũng như một số khá nhiều những khám phá quan trọng trong khoa học, được thành hình nhờ một sự may mắn ngẫu nhiên. Nguyên là năm 1894 có một trận dịch hạch hoành hành ở Hong Kong và Phúc Kiến bên Trung Hoa với rất nhiều người chết. BS Yersin được cử sang Hong Kong để nghiên cứu. Trong khi đó thì chính phủ Nhật Bản cũng cho một phái đoàn lớn với đầy đủ phương tiện sang Trung Hoa để tìm hiểu, cầm đầu là GS Kitasato, một nhà vi trùng học nổi danh. Vì không được sự ủng hộ của chính quyền Anh ở Hong Kong, và nhất là vì sự cạnh tranh bất hợp tác của phái đoàn Nhật, ông phải ở trọ trong một căn nhà tranh nhỏ bé, không có đủ tiện nghi cho cuộc khảo cứu. Không có lồng ấp (incubateur), ông phải treo những ống cấy vi trùng ra ngoài hàng hiên dể lấy sức ấm của ánh nắng mặt trời. May mắn sao vi trùng bịnh dịch hạch, khi được cấy lần đầu, lại thích mọc ở nhiệt độ thấp 27-28 độ là nhiệt độ ngoài trời, chứ không ưa nhiệt độ cao 37 độ của những lồng ấp, vì ở nhiệt độ này các vi trùng khác loại mọc mau lẹ hơn, chèn ép làm cho vi trùng dịch hạch không mọc nổi. Trong khi đó, đoàn nghiên cứu Nhật Bản, vì xài lồng ấp, nên chỉ cấy được một loại vi trùng Gram tính dương sau này được đặt tên là Streptococcus pneumoniae, không có liên hệ gì với bịnh dịch hạch.
Năm đầu có 105 sinh viên dự kỳ thi tuyển và số được nhận vô học là 29 người. Chương trình học dài 4 năm, và các sinh viên ra trường được cấp bằng Y sĩ phụ tá (Médecin auxiliaire). Khóa ra trường đầu tiên vào năm 1907 gồm có 5 người được bổ đi làm việc tại các tỉnh nhỏ. Theo như tài liệu của GS Trần ngọc Ninh (2) thì thủ khoa khóa đầu tiên là BS Nguyễn Văn Thinh. BS Thinh sau này qua Pháp học thêm và đã đậu bằng Bác sĩ Y Khoa Pháp. Ông trở về nước cho tới năm 1946, ông lên làm Thủ tướng đầu tiên cho chế độ Nam kỳ Tự trị và ít tháng sau thì tự vẫn chết. Trong những năm sau, số sinh viên ra trường tăng dần, cho tới năm 1920 thì lên tới 25 người. Tưởng cũng nên ghi nhận là các Y sĩ xuất thân từ trường Y khoa Đông Dương đã tham dự tích cực trong cuộc Đại chiến Thế giới thứ nhất với quân đội Pháp, trực tiếp điều trị các thương binh trong bịnh viện Đông Dương ở Marseilles.
Trong những năm kế tiếp, trường tiếp tục mở rộng và được chấn chỉnh thêm. Năm 1914 mở thêm phân khoa Dược. Vào năm 1923, toàn quyền Albert Sarraut đã thực hiện những cải tổ quan trọng: trường mang tên chính thức là Trường Cao Đẳng Chuyên Nghiệp Y Dược Khoa (Ecole de Plein Exercice de Médecine et de Pharmacie). Các môn học Vật lý, Hóa và Tự Nhiên (Sciences Physiques, Chimiques et Naturelles) gọi tắt theo tiếng Pháp là PCN được bắt đầu giảng dạy cho các sinh viên mới. Đây là bước khởi đầu cho những năm tiền y khoa sau này. Và cũng bắt đầu từ năm 1923, trường có hai chi nhánh rõ rệt: một chi nhánh Pháp dành cho những sinh viên có bằng Tú Tài Pháp, khi ra trường sẽ có bằng Bác sĩ Y Khoa Pháp, và một chi nhánh bản xứ dành cho những sinh viên có bằng Tú Tài bản xứ, khi ra trường có bằng Bác sĩ Y Khoa Đông Dương (Médecin Indochinois). Trên lý thuyết có sự phân chia rõ rệt, nhưng trên thực tế sinh viên của hai chi nhánh đều học lý thuyết và thực tập chung trong một trường sở duy nhất. Tuy nhiên sự phân chia này dù sao cũng đã gây ra một sự cách biệt xã hội khá tế nhị, và chi nhánh Y khoa bản xứ dần dần thu hẹp lại và sau cùng thì bãi bỏ hẳn vào thập niên 30.
Về vấn đề trường sở, trường Y Khoa Hà Nội lúc đầu được đặt tại vùng ấp Thái Hà cách trung tâm thành phố chừng 5 cây số. Tuy nhiên, vì khu này có khá nhiều ao hồ, sình lầy, đầy rẫy ruồi muỗi nên chẳng bao lâu, các sinh viên y khoa cũng như các bịnh nhân đều bị bịnh sốt rét hành hạ, và trường phải rời về gần trung tâm thành phố. Tới cuối thập niên 20 thì trường chính thức dọn về cơ sở tọa lạc trên đường Bobillot (nay là đường Lê Thánh Tôn), gần viện Pasteur và các nhà thương thực tập chính. Cơ thể Học viện, nơi hoạt động thường xuyên của GS Nguyễn Hữu và các Phụ tá Cơ thể học cũng được xây cất trong thời điểm này. Học viện cho tới nay vẫn còn và vẫn được sử dụng làm nơi thực tập mổ xẻ cho các sinh viên y khoa.
Việc trường Y Khoa Hà Nội dọn về cơ sở chính thức trên đường Lê Thánh Tôn còn có một quan trọng tinh thần rất đáng kể vì trường đã trở thành trường Đại Học Y Khoa (Faculté de Médecine), và cùng với phân khoa Luật và phân khoa Khoa Học, đã trở thành một trong ba thành viên nòng cốt của trường Đại Học Đông Dương trong thập niên 30. Năm 1936 là năm trường chínuh thức mang tên Đại Học Y Khoa, với 4 Giáo sư Thạc sĩ ở Pháp về tăng cường ban giảng huấn: GS Charles Massias (Nội khoa), GS Jacques Mayer May (Giải phẫu), GS Pierre Huard (Cơ thể học) và GS Bernard Joyeux (Mô học & Cơ thể Bịnh lý). (2)
Từ khi thành lập năm 1902 cho tới năm 1954, trường liên tục hoạt động. Chỉ riêng niên khóa 1945-1946, khi quân đội Nhật bản đầu hàng kéo theo những biến chuyển chính trị lịch sử, trường phải ngưng hoạt động trong một thời gian. Kết quả là năm 1946 không có sinh viên nào trình luận án ra trường. Khi trường hoạt động trở lại năm 1946, tôi được các bậc đàn anh kể lại cho nghe là GS Khoa trưởng Huard phải đi kiếm từng sinh viên để giục và giúp cho họ có điều kiện tiếp tục đi học.
Tổng số Y sĩ đào tạo tại YKDHH được bao nhiêu không thấy ghi chép trong sách vở và thống kê quốc gia. Vì vậy, muốn biết được tổng số này, ta cần phân tích quá trình của YKDHH ra từng giai đoạn, số sinh viên của mỗi giai đoạn được ghi chép từ những tài liệu rải rác, rồi sau cùng sẽ được tổng kết.
Trước hết là số Y sĩ phụ tá được đào tạo từ năm 1902 cho tới năm 1923 là năm mà chương trình Bác sĩ Y khoa được áp dụng. Theo như tài liệu của nha Học Chính Đông Dương (1), thì con số này cũng không nhiều cho lắm. Số sinh viên thay đổi từ 6 người lúc ban đầu cho tới 25 người năm 1920, trung bình vào khoảng 15 người một lớp. Trong 23 năm, từ 1907 là năm khóa Y sĩ phụ tá đầu tiên ra trường cho tới 1930 là năm chương trình này bị thay thế, tất cả có 294 sinh viên ra trường với bằng cấp Y sĩ phụ tá.
Từ năm 1930 cho tới 1935, số Bác sĩ ra trường không được ghi rõ. Tuy nhiên, tài liệu của nha Học chính (1) cho thấy là trong niên khóa 1930-1931 có 19 sinh viên ghi danh theo học chương trính Bác sĩ Y khoa. Như vậy trong 5 năm (1930 cho tới 1935) với số sinh viên chừng 20 người một lớp, có khoảng chừng 100 sinh viên đã theo học và tốt nghiệp với bằng Bác sĩ.
Từ 1935 trở đi thì số luận án Y khoa Bác sĩ của trường YKDHH được ghi chép khá đầy đủ. Theo cuốn “Bibliographie des Thèses de Médecine” của GS Nguyễn Đức Nguyên (3), từ năm 1935 cho tới 1954, có tất cả 254 luận án đã được trình và chấp thuận.
Như vậy ta có thể kết luận là từ năm 1902 cho tới năm 1954, trường YKDHH đã đào tạo được tất cả 648 người bao gồm cả Y sĩ phụ tá, Y sĩ Đông Dương và Bác sĩ Y Khoa. Con số này so với sĩ số ra trường trong những thập niên 60 và 70 thì không lớn là bao, nhưng các chuyên viên Y khoa kể trên đã đóng góp một phần không nhỏ vào công cuộc canh tân nền y khoa quốc gia và đáp ứng nhu cầu y tế của đồng bào trong nước.
Thành phần ban giảng huấn của YKDHH trong khoảng 1950-1954 được ghi nhận như sau:
• Khoa trưởng: GS Pierre Huard.
• Khoa Giải Phẫu: GS Huard, GS Phạm Biểu Tâm, GS Nguyễn Hữu, BS Trần Ngọc Ninh, BS Trần Anh, BS Đào Đức Hoành
• Khoa Nội Thương: GS Blondel, GS Đặng Văn Chung, GS Rivoalen, BS Lê Khắc Quảng
• Khoa Cơ Thể Học: GS Huard, GS Nguyễn Hữu, BS Trần Anh, BS Nguyễn Ngọc Kính
• Khoa Sản Phụ: GS Montagné, BS Đinh Văn Thắng
• Khoa Tai Mũi Họng: GS Ollier
• Khoa Nhãn: GS Keller, BS Nguyễn Đình Cát, BS Nguyễn Văn Nguyên
• Khoa Bì phu và Hoa liễu: GS Grenier Bolley
• Khoa Mô học & Bịnh lý học: GS Vũ Công Hòe
• Khoa Sinh Lý: GS Rivoalen
Cùng với nhiều Phụ giảng, các Giáo sư trên đây dành toàn thời gian trong công việc giảng giạy cho một số sinh viên thay đổi từ năm, sáu chục người cho hai năm đầu (năm Y 1 và Y 2) cho tới không quá ba chục người cho năm chót (Y 6). GS Huard là người rất có công trong việc tích cực dẫn dắt một số giáo sư Việt qua Pháp thi Thạc sĩ như GS Phạm Biểu Tâm (Giải phẫu), GS Đặng Văn Chung (Nội khoa), GS Vũ Công Hòe (Cơ thể bịnh lý), GS Trịnh Văn Tuất (Nha Khẩu Xoang) và GS Nguyễn Hữu (Cơ thể học).
Các cơ sở thực tập gồm hai Bịnh Viện chính là Bịnh Viện Bạch Mai và Bịnh Việnn Phủ Doãn. Bịnh Viện Bạch Mai là một bịnh viện đa khoa lớn trên 700 giường, gồm các khu Nội khoa, Sản khoa, bịnh Truyền nhiễm, và Tai Mũi Họng. Bịnh Viện Phủ Doãn (còn có tên là BV Yersin) chuyên về Giải Phẫu và Cấp cứu nhưng cũng có một khu Sản khoa. Ngoài ra còn Bịnh viện Mắt, là nơi chuyên trị các bịnh mắt, nhất là bịnh lông quặm (mắt hột; trachoma). Tưởng cũng nên ghi nhận là tuy không có các bịnh viện dành riêng cho trẻ em và phụ khoa nhưng các bịnh viện lớn như Bạch Mai và Phủ Doãn đều có nhũng trại riêng dành cho phụ nữ và trẻ em. Ngoài Cơ thể Học viện là nơi các sinh viên y khoa dành một số thời gian khá lớn trong hai năm đầu để học Cơ thể học, Viện Pasteur được tích cực sử dụng trong công cuộc giảng dạy lý thuyết cũng như thực tập cho những bộ môn Vi trùng học và Ký sinh trùng. Môn Mô học được giảng dạy tại Viện Quang tuyến. Kẻ viết bài này còn nhớ rõ những buổi thực tập Mô học mỗi chiều thứ ba, vào khoảng hai giờ. Giờ này là giờ buồn ngủ, đạp xe đạp lên viện Quang tuyến trong những ngày lập đông lạnh lẽo u ám, lại phải qua một tiệm phở với những ly cà phê thơm nhức mũi, nên thường thường số sinh viên trong tiệm phở đông hơn là số trong phòng thực tập.
Y Khoa Đại Học Saigon.
Như trên ta đã thấy trường Y Khoa Saigon được thành lập năm 1947 như là một chi nhánh của YKDHH để đáp ứng nhu cầu của các sinh viên y khoa miền Nam. Cho tới năm 1954 khi phần lớn sinh viên và ban giảng huấn của YKDHH di tản vào Nam thì trường chính thức trở thành YKDHS.
Trụ sở chính được đặt tại số 28 Trần Quý Cáp, gồm một căn nhà cao hai tầng dùng làm văn phòng, thư viện và phòng họp các giáo sư, và 3 căn nhà ngang dùng làm nơi giảng giạy lý thuyết. Thành phần ban giảng huấn gồm có:
• Khoa trưởng: GS Charles Massias
• Khoa Nội thương: GS Massias, GS Rivoalen, BS Nguyễn Ngọc Huy, BS Phạm Tấn Tước, BS Trần Lữ Y
• Khoa Giải Phẫu: GS Trần Quang Đệ, GS Phạm Biểu Tâm, GS Nguyễn Hữu, GS Trịnh Văn Tuất, BS Đặng Văn Chiếu, BS Hoàng Tiến Bảo
• Khoa Sản Phụ: GS Trần Đình Đệ, BS Nguyễn Văn Hồng, BS Hồ Trung Dung
• Khoa Nhãn: GS Nguyễn Đình Cát, BS Nguyễn Ngọc Kính
• Khoa Tai Mũi Họng: GS Tissié
• Khoa Mô Học & Bịnh lý học: GS Joyeux, BS Nguyễn Lưu Viên
Trong vòng 4-5 năm, các Giáo sư người Pháp dần dần trở về Pháp và ảnh hưởng Pháp trong ngành y khoa cũng dần dần suy giảm. Tưởng cũng nên ghi nhận là 1962 là năm cuối cùng mà văn bằng Y khoa Bác sĩ của trường YKDHS còn được công nhận tại Pháp. Các cơ sở thực tập gồm có:
• Bịnh viện Chợ Rẫy: Nội Ngoại Khoa, Tai Mũi Họng
• Bịnh viện Bình Dân: Ngoại Khoa, Nhãn khoa, Bịnh Ngoài Da, Niệu Khoa, Ung thư
• Bịnh viện Nhi Đồng: Nhi Khoa
• Bịnh viện Từ Dũ: Sản Phụ Khoa
• Bịnh viện Hồng Bàng: bịnh Phổi và Lao
• Bịnh viện Chợ Quán: bịnh Truyền nhiễm & Thần kinh
• Bịnh viện Saigon: Tai Mũi Họng, Cấp cứu
• Bịnh viện Nguyễn Văn Học (khai trương 1967): Nội Ngoại khoa, Sản phụ
Các phòng thực tập khoa học căn bản nằm rải rác trong thành phố như Cơ thể Học viện (Cơ thể học), BV Saigòn (Hóa học), Viện Pasteur (Vi trùng và Ký sinh trùng). Một cơ sở riêng biệt tọa lạc gần Cơ thể Học viện được dùng làm nơi thực tập cho các môn Sinh lý, Cơ thể Bịnh lý và Mô học. Chương trình học dài 6 năm và một năm tiền y khoa (PCB hoặc SPCN). Số sinh viên trung bình từ 100 tới 120 người một lớp. Sĩ số này tăng dần cho tới năm 1962 thì trường quyết định giới hạn số sinh viên ở mức 200 người cho năm đầu và các sinh viên phải qua một kỳ thi tuyển. Sinh viên Y khoa và Dược khoa sử dụng chung trường ốc tại số 28 Trần Quý Cáp cho tới năm 1961 khi trường Đại học Dược Khoa thành lập với GS Nguyễn Vĩnh Niên là Khoa trưởng. Phân khoa Nha Khoa, trước là bộ môn Hàm Miệng trong YKDHS, trở thành Đại học Nha Khoa niên khóa 1964-1965 với GS Trịnh Văn Tuất là Khoa trưởng.
Nếu ta thấy trường YKDHH có một giòng lịch sử tương đối êm đềm, ít biến chuyển thì nhiều diễn tiến lịch sử quan trọng đã xẩy ra cho YKDHS. Năm 1955, GS Massias về Pháp và GS Phạm Biểu Tâm lên thay thế, đánh dấu lần đầu tiên trường có một Khoa trưởng người Việt Nam. Thành phần giảng huấn, tương đối nhỏ lúc ban đầu, dần dần được tăng cường trong những năm 1954-1956 với :
- GS Trần Ngọc Ninh (Chỉnh Trực, Giải Phẫu Nhi Đồng)
- GS Trần Vỹ (Sinh lý học)
và trong những năm 1960-1963 với các Giáo sư:
- GS Nguyễn Huy Can (Cơ Thể Bịnh lý)
- GS Lê Xuân Chất (Huyết Học)
- GS Đào Đức Hoành (Ung Thư)
- GS Bùi Quốc Hương (Thần kinh)
- GS Nguyễn Ngọc Huy (Tim Học)
- GS Ngô Gia Hy (Gây Mê)
- GS Nguyễn Văn Út (Ngoài Da & Hoa liễu)
Trong nỗ lực tăng cường ban giảng huấn, một số nhân viên giảng huấn trẻ đã được tuyển dụng và gửi qua Pháp theo học các lớp huấn luyện hậu đại học trong những năm 1958-1960. Tuy nhiên một số lớn các vị này đã quyết định ở lại Pháp quốc sau khi huấn luyện xong làm chương trình bị gián đoạn.
Từ sau cuộc di tản của YKDHH từ Bắc vào Nam năm 1954, chính phủ Mỹ bắt đầu gia tăng viện trợ cho miền Nam Việt Nam. Chương trình giáo dục y khoa được chú ý tới và cơ quan USAID được chỉ định nghiên cứu, xây cất một Trung Tâm Giáo Dục Y Khoa cùng một bịnh viện thực tập 500 giường. Theo cuốn sách “Saigon Medical School: an Experiment in International Medical Education” (4) của BS W. Ruhe thì việc xây cất trung tâm này tốn hết 2,500,000 mỹ kim, một số tiền khá lớn khi mà một ly cà phê giá 5 xu và một gallon xăng giá 20 xu. Một nửa ngân khoản này do USAID đài thọ và một nửa do ngân sách quốc gia Việt Nam đài thọ. Cùng với việc xây cất trung tâm Y khoa, một số nhân viên giảng huấn mới tuyển dụng được gửi đi Mỹ tu nghiệp, ngắn hạn và giài hạn. Tới năm 1965 những nhân viên này trở về tăng cường ban giảng huấn, trong số ta thấy có:
- BS Đào Hữu Anh (Cơ thể Bịnh lý),
- BS Hoàng Tiến Bảo (Chỉnh trực),
- BS Vũ Quí Đài (Vi trùng học),
- BS Nguyễn Khắc Minh (Gây mê),
- BS Đỗ Thị Nhuận (Ký sinh trùng học),
- BS Bùi Duy Tâm (Sinh hóa học).
Đồng thời, cũng trong thời điểm này, ta thấy có một số chuyên viên từ các nước tiếp tục trở về phục vụ tại YKDHS như :
- BS Nguyễn Thế Minh (Nội Khoa, Pháp),
- BS Trần Kiêm Thục (Bịnh Tiêu Hóa, Pháp),
- BS Trần Thế Nghiệp (Quang Tuyến, Pháp),
- BS Lê Dư Khương (Giải Phẫu, Đức),
- BS Liễu Thanh Tâm (Quang Tuyến, Pháp)
- BS Phó Bá Đa (Giải Phẫu, Mỹ)
- BS Nguyễn Ngọc Giệp (Sản-Phụ Khoa, Mỹ).
Tổng số nhân viên giảng huấn cho niên khóa 1967-68 được ghi nhận là 91 người, với 16 Giáo sư Thực thụ, 7 Giáo sư Diễn giảng, 27 Giảng sư và 41 Giảng nghiệm viên (4).
Năm 1966, trường YKDHS chính thức dọn về Trung Tâm Giáo Dục Y Khoa tọa lạc trên đại lộ Hồng Bàng (nay là An Dương Vương). Trung tâm bao gồm cả hai trường Y và Nha, đầy đủ với đại giảng đường, thư viện, và các khu Khoa học Căn bản cùng với các phòng thí nghiệm. Dự án xây cất bịnh viện thực tập 500 giường bị lui lại cho tới năm 1972 khi người Mỹ rút khỏi Việt Nam thì hủy bỏ.
Niên khóa 1967-68 là niên khóa đầu tiên tại Trung Tâm Y Khoa mới, đã đánh dấu một sự cộng tác của chính phủ Mỹ trong công cuôc giáo dục y khoa Việt Nam. Qua sự dàn xếp của cơ quan USAID, Hiêp Hội Y Khoa Mỹ (American Medical Association) đã mang các bộ môn chuyên khoa của nhiều trường y khoa Mỹ sang Saigòn để trực tiếp yểm trợ cho các bộ môn của trường YKDHS. Một trong những bộ môn đầu tiên tiếp nhận sự yểm trợ này là môn Sinh lý học với GS Lilienfield, một GS Mỹ nổi danh. Vì tình trạng cúp điện liên miên ở Saigon trong những năm 67-68 nên một trong những lớp của GS Lilienfield đã được tiến hành ngoài trời, bên bờ hồ cạnh thư viện với sinh viên ngồi trên cỏ và bảng đen dựng bên cây me già. GS Lilienfield có nói với tôi sau lớp học là chưa bao giờ ông đã được tham dự một buổi giảng dạy lạ lùng và thích thú như vậy. Sự yểm trợ trực tiếp giữa các bộ môn chuyên khoa Mỹ và Việt Nam qua sự dàn xếp của hiệp hội AMA kể trên đã được tiếp tục cho tới năm 1975 và đã giúp ích rất nhiều cho công cuộc tăng cường nhân viên giảng huấn qua những chuyến tu nghiệp ngắn và dài hạn, cũng như trợ giúp sách vở cho thư viện và dụng cụ cho các phân khu. Nhiều sách y khoa của Mỹ đã được phóng ảnh (có sự cho phép của nhà xuất bản) để bán cho sinh viên với một giá rẻ. Đồng thời với việc giảng dạy các bộ môn khoa học, môn ngoại ngữ cũng được chú trọng: các sinh viên y khoa phải lựa hoặc Anh văn hoặc Pháp văn làm ngoại ngữ chính và phải trau dồi ngoại ngữ này qua những lớp học hàng tuần.
Kể từ khi Trung Tâm Y Khoa khai trương cho tới năm 1973, tình hình chính trị tại miền Nam Việt Nam bỗng trở nên sôi động. Không niên học nào mà không bị gián đoạn bởi những biến cố như biến cố Tết Mậu Thân, bởi những cuộc biểu tình, xuống đường của sinh viên, và hai cuộc thảm sát các cố Giáo sư Trần Anh và Lê Minh Trí.
Ban lãnh đạo trường YKDHS cũng phải chịu nhận nhiều thay đổi. Khởi đầu là vụ ngưng chức GS Phạm Biểu Tâm tháng giêng 1967. Một ủy ban 5 người được chỉ định để diều hành công việc cho tới tháng năm 1967, cuộc bầu cử Khoa trưởng đầu tiên với các Giảng sư được phép bầu đã tiến hành và GS Ngô Gia Hy cùng GS Vũ Thị Thoa được bầu lên nắm giữ chức vụ Khoa trưởng và Phó Khoa trưởng. Tháng giêng 1968, biến cố Tết Mậu Thân xẩy ra, các sinh viên phải đi thực tập quân sự và niên học bị tạm gián đoạn. Tháng mười một 1968, một cuộc bầu cử Khoa trưởng thứ hai được tổ chức và các GS Phạm Tấn Tước, Đào Hữu Anh và Nguyễn Phước Đại được bầu vào các chức vụ Khoa trưởng và Phó Khoa trưởng. Tháng giêng 1969, trong khi tình hình chính trị tạm lắng đọng, thì GS Lê Minh Trí bị thảm sát, và hai tháng sau đó, tới GS Trần Anh. Các cuộc biểu tình sinh viên bắt đầu tái diễn, chống kỳ thi tuyển Nội trú và GS Phạm Tấn Tước từ chức tháng 12 năm 1970. GS Đào Hữu Anh lên giữ chức Quyền Khoa trưởng cho tới tháng giêng 1972 thì GS Đặng Văn Chiếu được bầu lên chức vụ Khoa trưởng. Chương trình giảng giạy tại YKDHS được tiếp tục trôi chẩy trong mấy năm sau chỉ trừ một cuộc công kích hồi tháng tư 1972.
Sau đây là danh sách các vị Khoa Trưởng của YKDHS từ 1954 tới 1975:
- 1954-1955: GS Charles Massias
- 1955-1967: GS Phạm Biểu Tâm
- 1967-1969: GS Ngô Gia Hy
- 1969-1970: GS Phạm Tấn Tước
- 1970-1971: GS Đào Hữu Anh
- 1972-1974: GS Đặng Văn Chiếu
- 1974-1975: GS Vũ Quí Đài
Như trên ta đã thấy từ 1962, số sinh viên y khoa được tuyển vào học năm thứ nhất được giới hạn là 200 người. Chương trình học dài 6 năm và khi ra trường phải trình bày một luận án. Theo tài liệu của GS Nguyễn Đức Nguyên (3), thì tổng số luận án được trình và chấp thuận tại YKDHS từ năm 1947 cho tới năm 1972 là 1779 luận án. Số luận án từ 1972 tới 1975 là bao nhiêu không rõ vì không có ghi chép trong tài liệu nào. Tuy nhiên với sĩ số 200 người một lớp, ta có thể đoán phỏng là có vào khoảng trên dưới 600 luận án đã được trình trong thời kỳ đó. Như vậy, tổng số luận án ra trường của YKDHS từ 1947 cho tới 1975 là vào khoảng 2380 luận án.
Những sự kiện đã xẩy ra từ 1975 tại quốc ngoại.
Sau sự sụp đổ của chính quyền Quốc Gia miền Nam Việt Nam hồi tháng tư năm 1975, một số đông dân Việt Nam trên dưới 2 triệu người đã lần lượt bỏ nước ra đi, trong số này có khá nhiều các bác sĩ và sinh viên y khoa. Họ định cư tại nhiều quốc gia trên thế giới, tuy nhiên phần lớn đã chọn Mỹ quốc làm nơi sinh sống.
Một trong những mối ưu tư đầu tiên của người dân di tản là làm sao có thể sinh tồn trong một xã hội mới hoàn toàn xa lạ. Đối với các bác sĩ và sinh viên y khoa thì mối ưu tư đó chính là làm sao để có thể hoạt động trở lại trong ngành y tế.
Với sự yểm trợ đắc lực của cơ quan USAID và hiệp hội AMA, một Hội Đồng Khoa lưu vong (Faculty Council-in-Exile) của YKDHS được thành lập tại Mỹ với mục tiêu chính là làm sao có thễ giúp cho các sinh viên y khoa được tiếp tục học y khoa ở Mỹ, và các bác sĩ Việt Nam có thể hành nghề tại các tiểu bang Mỹ.
Thành phần Hội Đồng Khoa gồm:
- GS Đặng Văn Chiếu: Giải Phẫu.
- GS Đào Hữu Anh: Khoa Học Căn Bản.
- GS Phan Đình Tuân: Nhi Khoa.
- GS Nguyễn Văn Hồng: Sản Phụ Khoa.
- GS Lê Quốc Hanh: Nội Khoa.
Hội Đồng Khoa họp buổi họp đầu tiên tại Chicago, tháng 9 năm 1975. Trong thời điểm đó, liên lạc ngoại giao giữa Mỹ và Việt Nam hoàn toàn bị cắt đứt. Các bác sĩ và sinh viên y khoa Việt ở Mỹ không thể nào có được những giấy tờ, văn bằng, chứng chỉ học trình và học bạ cần thiết của trường YKDHS để nộp cho các cơ sở Mỹ. Vì vậy, HĐK đã quyết định là sẽ đứng ra đảm nhiệm việc cấp giấy chứng nhận cũng như cấp phát văn bằng cho các sinh viên và bác sĩ của YKDHS cũ hiện đang ở quốc ngoại.
Trong buổi họp kể trên, HĐK đã chứng nhận và cấp phát 122 Chứng chỉ thay thế cho văn bằng Y Khoa Bác sĩ (Certificate in lieu of Diploma). Sự chứng nhận này được căn cứ trên những giấy tờ hình ảnh mà các đương sự mang theo được, những chứng nhận (affidavit) của các bạn bè cùng lớp hoặc cùng nơi hành nghề, và những tài liệu đã được in thành sách như Danh sách luận án (3), danh sách Y Sĩ Đoàn, v.v.. Nhờ sự ủng hộ của hiệp hội AMA, văn bằng của HĐK đã được các tiểu bang Mỹ công nhận là có giá trị tương đương như các văn bằng của các trường Y khoa khác, và có đầy đủ giá trị để có thể được thâu nhận vào các chương trình huấn luyện hậu đại học.
Sau gần 25 năm hoạt động, HĐK đã cấp phát được tất cả 1261 văn bằng. Trừ một số nhỏ đã xuất thân từ Y Khoa Đại Học Hà Nội, hầu hết các thụ đắc viên văn bằng này đều là sinh viên của Y Khoa Đại Học Sài Gòn. Đa số các thụ đắc viên đều cư ngụ tại Mỹ. Tuy nhiên một số văn bằng cũng được cấp phát cho các bác sĩ cư ngụ ngoài nước Mỹ. Bảng danh sách sau đây liệt kê các quốc gia và số văn bằng đã cấp phát tại quốc gia đó:
- Hoa kỳ: 1167 văn bằng
- Gia Nã Đại: 48 văn bằng
- Pháp quốc: 18 văn bằng
- Úc Châu: 17 văn bằng
- Bỉ quốc: 5 văn bằng
- Anh quốc: 2 văn bằng
- Tây Đức, Hòa Lan, Thụy Sĩ và Do Thái: 1 văn bằng cho mỗi nước.
Ngoài văn bằng kể trên, các thành viên HĐK cũng còn ký rất nhiều giấy giới thiệu cho các sinh viên cũng như bác sĩ để giúp họ tìm nơi học tập hoặc huấn luyện.
Kể từ 1995, số bác sĩ Việt Nam di cư qua Mỹ càng ngày càng giảm. Cộng thêm với việc tái thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Mỹ và Việt, các bác sĩ Việt ở ngoại quốc có thể trực tiếp xin chứng chỉ học trình và phó bản văn bằng từ Saigòn, nên hoạt động của HĐK cũng giảm dần. Văn bằng sau cùng được cấp phát vào tháng 3 năm 1998. Cho tới năm nay, năm 2002, các thành viên của HĐK đều đã về hưu, các thụ đắc viên văn bằng của HĐK cũng đều an cư lạc nghiệp trong nghề của mình, nhiệm kỳ của HĐK thiết tưởng cũng đã chấm dứt một cách bán chính thức. Có còn chăng chỉ là những chứng chỉ thay thế văn bằng do HĐK đã cấp phát, như để đánh dấu những hoạt động trong quãng thời gian trên một phần tư thế kỷ của cộng đồng YKDHS tại hải ngoại.
Kết luận.
Như trên đã trình bầy, tổng số bác sĩ trình luận án ra trường tại YKDHS từ 1947 tới 1975 là 2380 người. Trong khi đó, số chứng chỉ thay thế văn bằng do HĐK lưu vong cấp phát là 1261. Như vậy có nghĩa là hơn nửa số bác sĩ Việt Nam ra trường trước năm 1975 tại YKDHS đã di tản ra ngoại quốc. Nếu kể thêm cả những bác sĩ đã ra ngoại quốc mà không hành nghề, và những người đã mất đi trong cuộc chiến hay trong những trại cải tạo, thì số bác sĩ còn lại ở Việt Nam chỉ vào khoảng trên dưới một phần ba tổng số ra trường mà thôi.
Nhìn lại quãng đường đã đi qua sau 25 năm hoạt động, HĐK lưu vong đã đạt được một kết quả không nhỏ trong công cuộc hỗ trợ các bác sĩ và sinh viên y khoa Việt Nam để họ có thể trở lại với nghề mà mình đã lựa chọn. Phần đông các sinh viên y khoa đã tiếp tục học lại tại các Y khoa Đại Học Mỹ và đã ra trường, và hầu hết các bác sĩ Việt tại Mỹ cũng như tại các nước khác đã có một chỗ đứng vững chắc trên phương diện nghề nghiệp. Phần lớn thành quả này tất nhiên là do sự cố gắng không ngừng của các đương sự, nhưng phần nhỏ cũng là một niềm an ủi cho các thành viên HĐK đã không uổng công trong công việc yểm trợ các đồng nghiệp và dẫn dắt đàn em trong những ngày đầu tiên nơi xứ lạ.
Tất cả những điều ghi nhận trên đây nay đã đi vào dĩ vãng. Trường YKDHH đã di chuyển ra chỗ khác. Ngôi trường cũ nay là Đại học Dược và chỉ còn một bộ môn Y khoa ở lại là bộ môn Ký sinh trùng. Năm 2000, tôi có dịp ghé thăm trường, và trong khu Ký sinh trùng, vẫn thấy còn chiếc bàn giấy cũ kỹ nhưng đồ sộ của cựu Khoa trưởng GS Galliard của những thập niên xa xưa. Và ở Institut du Radium của bà Marie Curie (nay là bịnh viện K) vẫn thấy những tủ đựng “lames” cũ kỹ từ thời GS Vũ Công Hòe (của những buổi thực tập Mô học không bao giờ quên được) và chiếc đèn treo trên trần nhà bằng đồng đen thực đồ sộ đã nổi tiếng từ thời bà Curie.
Trường YKDHS nay đã đổi tên là trường Đại Học Y Dược thành phố HCM. Trường sở vẫn còn như cũ, tuy có xây thêm vài cơ sở phụ thuộc. Đại giảng đường, hồ nước bên quán ăn không thay đổi. Số sinh viên mỗi lớp vào khoảng 200 người. Chương trình học thay đổi nhiều với những môn Chính trị học, Đông y, Dược thảo, Châm cứu, v.v.. Sách vở sinh viên sử dụng là những sách do ban giảng huấn viết bằng tiếng Việt cho từng bộ môn. Ngay cổng vào có một quán bán sách y khoa, phần lớn sách bày bán là sách bằng tiếng Việt. Tháng 10 năm 2000 khi tôi ghé thăm, một cuộc thi tuyển Nội trú đang tiến hành, làm tôi chợt nghĩ tới năm 1970 khi mà vấn đề Nội trú đã là đề tài cho những cuộc biểu tình liên miên của sinh viên y khoa thời đó. Tôi có cảm tưởng là đã quay được một vòng 360 độ và đã trở về vị trí cũ.
Bác sĩ Đào Hữu Anh
______________________
Tài liệu tham khảo:
1. L’Ecole de Plein Exercice de Médecine et de Pharmacie: Direction Générale de l’Instruction Publique du Gouvernement Général de l’Indochine. Imprimerie d’Extrême –Orient, Hanoi, 1931.
2. Một chút lịch sử giáo dục y khoa Việt Nam: GS Trần Ngọc Ninh. Hội Quốc tế Y sĩ Việt Nam Tự do, 1997.
3. Bibliographie des Thèses: Dr. Nguyên Đưc Nguyên, Centre d’Education Médicale, Université de Saigon, 1972.
4. Saigon Medical School: An Experiment in International Medical Education. C.H. William Ruhe, MD, American Medical Association, 1988.
5. Các tài liệu cá nhân (của tác giả).
Cái Đình - 2004








