Thứ Sáu, 22 tháng 3, 2019

'13 tỉnh, thành ĐBSCL thu ngân sách bằng một tỉnh Bình Dương'

TTO - Ông Trần Quốc Trung - bí thư Thành ủy Cần Thơ - cho biết cả đồng bằng sông Cửu Long chỉ thu ngân sách bằng tỉnh Bình Dương. Câu chuyện hạ tầng yếu kém hiện vẫn là vấn đề bức xúc của toàn vùng.

13 tỉnh, thành ĐBSCL thu ngân sách bằng một tỉnh Bình Dương - Ảnh 1.
Ông Trần Quốc Trung - bí thư Thành ủy Cần Thơ - nói hạ tầng yếu kém là một trong những nguyên nhân chính khiến ĐBSCL khó phát triển và thu hút đầu tư - Ảnh: CHÍ QUỐC
Tại hội nghị liên ngành triển khai hiệp định CTPPP (Hiệp định đối tác thương mại xuyên Thái Bình Dương, không có Mỹ) do Bộ Công thương tổ chức tại Cần Thơ ngày 21-3, ông Trần Quốc Trung chỉ ra cả vùng ĐBSCL có 13 tỉnh, thành nhưng chỉ thu ngân sách bằng một tỉnh Bình Dương (khoảng 50.000 tỉ đồng).
Ông Trung cũng nhận định các địa phương trong vùng "dù có cố gắng nhưng còn nhiều hạn chế".
Một trong những "hạn chế" mà ông Trung chỉ ra chính là hạ tầng giao thông gồm đường bộ, thủy, hàng không còn yếu kém. Vì vậy, việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào vùng còn thấp, ngay như Cần Thơ đến nay tổng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) cũng chưa đến 1 tỉ USD.
Trong khi về cơ sở vật chất, cả vùng đất liền ĐBSCL chỉ có Cần Thơ có 2 và Cà Mau có 1 khách sạn 5 sao và chỉ Cần Thơ đáp ứng được việc tổ chức các hội nghị, sự kiện quốc tế quy mô lớn. 
"Từ Cần Thơ đi TP.HCM chưa đầy 200km mà mất 3-4 tiếng đồng hồ, nhà đầu tư sao đến được khi hạ tầng như vậy", ông Trung trăn trở.
Trước thực trạng trên, ông Trung đề nghị Chính phủ sớm đầu tư đường cao tốc Trung Lương - Mỹ Thuận và Mỹ Thuận - Cần Thơ, đồng thời nâng cấp các tuyến kết nối như quốc lộ Nam Sông Hậu, Quản Lộ - Phụng Hiệp đang xuống cấp trầm trọng.
"Không giải tỏa được vấn đề này thì ĐBSCL không bao giờ phát triển được. Toàn vùng chỉ duy nhất Cần Thơ điều tiết ngân sách về trung ương nhưng chỉ có 9%, rất xót ra", bí thư Thành ủy Cần Thơ phát biểu.
Đáp lại, Bộ trưởng Bộ Công thương Trần Tuấn Anh cho biết là một thành viên Chính phủ, ông cũng đã có ý kiến về vấn đề đường cao tốc cho vùng ĐBSCL. 
"Vùng này cần đẩy nhanh hơn nữa đầu tư hạ tầng đường bộ và đường thủy. Nếu không cải thiện giao thông nói riêng, logistics nói chung thì vùng ĐBSCL không thể thu hút đầu tư được", ông Trần Tuấn Anh nhận định.
Làm gì để ĐBSCL phát triển bền vững?Làm gì để ĐBSCL phát triển bền vững?
TTO - Chung niềm trăn trở về một ĐBSCL phát triển bền vững, ngày 22-11, báo Tuổi Trẻ tổ chức hội thảo: “Hướng đến phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long” và tổng kết chương trình Mekong xanh tại Cần Thơ.
CHÍ QUỐC

Thứ Ba, 19 tháng 3, 2019

Để cái xấu lấn chiếm thì cái tốt mất chỗ

Trường John Robert Powers Việt Nam đã chuyển từ quận 3 về một vị trí đắc địa tại quận 4, TP.HCM. Phòng làm việc của hiệu trưởng Võ Thị Xuân Trang hầu hết là sách - những cuốn sách dày cộm từ trường John Robert Powers New York, sách về tâm lý học, sự phát triển của con người... Chị Trang có vẻ đẹp hồn hậu, gần gũi mà lịch thiệp. Sự tự tin nơi chị đến từ sức mạnh nội tâm được rèn luyện, trau dồi trong suốt bao nhiêu năm qua, từ khi là một người làm thuê số một, đến khi là người chủ doanh nghiệp - trường học chuyên về xây dựng vẻ đẹp cho con người.
    Năm 2006, John Robert Powers xuất hiện tại Việt Nam. Duyên cớ nào đưa chị đến với việc mua nhượng quyền ngôi trường và phát triển tại Việt Nam? 
    Tôi tốt nghiệp đại học sư phạm ngành Anh văn, đi làm ngân hàng, rồi sau đó đi làm công ty nước ngoài được 9 năm. Trong 9 năm đó, tôi đi khắp nơi trong nước, ngoài nước. Nhờ những chuyến đi đó, tôi mới nhận ra sự khác biệt của người Việt Nam. Mình nhận ra người Việt có điểm yếu là chưa mấy thanh lịch, nhiều lúc tự nhiên quá mức, muốn cười thì cười, muốn nói thì nói, đi đâu cũng nói lớn tiếng, thiếu sự chuyên nghiệp. Tôi thấy người mình cần phải khéo léo, tinh tế hơn trong môi trường kinh doanh quốc tế...
    Người Việt nhiều người trong nhà thì tự tin, ra ngoài thì tự ti. Nhiều người đi chơi thì nói to lắm, đi hội họp, hội thảo thì... không dám phát biểu. Thiếu tự tin làm bản thân yếu đi. Chúng ta ai cũng có sức mạnh nhưng chỉ vài người có sự tự tin, mà niềm tin của mỗi người vào bản thân mới là yếu tố then chốt tạo nên nội lực cho bản thân. Mình có thể mua một sản phẩm công nghệ hiện đại như ở bất cứ đất nước nào trên thế giới nhưng ở những góc độ khác về con người, mình còn kém xa về văn hóa ứng xử nhân văn.
    Riêng câu chuyện của cá nhân tôi, tôi là một nhân viên giỏi trong công ty, được qua Đại học Quốc gia Singapore học một lớp về quản trị doanh nghiệp. Đi ra mới thấy mình không giống mọi người, mình vừa xấu vừa quê, vừa không biết cách cư xử. Người ta sao mà chuyên nghiệp, tinh tế, còn mình thì lúng túng trong giao tiếp, ngập ngừng trong phát biểu. Bạn thấy không, tại các tiệc tùng, các buổi gặp gỡ người  phương Tây, gặp nhau sao chuyện ở đâu mà họ nói hoài không hết, còn mình gặp nhau không biết nói gì...
    Sau 9 năm đi công tác thường xuyên đó, sau nhiều trăn trở, tôi nghĩ đến việc mở một ngôi trường để góp phần làm cho người Việt Nam tự tin, xinh đẹp, đi ra ngoài nói chuyện không ngại ngùng. Cũng đến lúc, tôi nhận ra hồi nào giờ mình chỉ chăm chăm cho gia đình mình, chẳng làm gì đáng kể cho người khác, cho xã hội, cho đất nước. Tôi lớn lên trong gia đình ba theo cách mạng, thời trước rất khó khăn nên ban đầu tôi chỉ lo kinh tế, mà không nghĩ nhiều cho quê hương, đất nước, xã hội, cộng đồng. Đến lúc, mình chợt dừng lại và suy nghĩ về những giá trị khác trong cuộc sống.
    Hiệu trưởng Võ Thị Xuân Trang trong buổi huấn luyện cho hoa hậu hoàn vũ Việt Nam H’hen Nie - học viên của trường John Robert Powers Việt Nam, trước ngày cô đi thi hoa hậu hoàn vũ thế giới 2018 và đạt thành tích ấn tượng trong Top 5. 
    Từ đó đến nay, 13 năm, trường đã góp phần tạo dựng nên thành công và hạnh phúc cho rất nhiều người. Thành công gần đây nhất của chúng tôi là học viên H’Hen Nie, trường đã góp phần xây dựng cho bạn sự tự tin và phong cách nói chuyện thu hút, tự nhiên thể hiện sức mạnh của vẻ đẹp nội tâm để đạt được thành tích cao tại cuộc thi Hoa hậu Hoàn vũ 2018.
    Vậy có thể hình dung trường của chị xây dựng cho người ta một vẻ ngoài sang trọng, lịch lãm? 
    Đúng, nhưng không đủ. Bạn không thể nào tự tin nếu chỉ có vẻ bề ngoài. Nếu bạn có hình ảnh đẹp bên ngoài nhưng bên trong trống rỗng thì bạn có tự tin không, có mạnh mẽ không? Chúng tôi hướng đến việc xây dựng vẻ đẹp bên trong, từ đó vẻ đẹp bên ngoài mới tỏa sáng. Nếu bạn đẹp bên ngoài mà nội tâm không sâu sắc thì sẽ kém duyên và kém thu hút. 
    Ở một thị trường như Việt Nam, hẳn là không dễ dàng cho sự phát triển của trường? 
    Rất nhiều khó khăn và định kiến ban đầu, nhưng những năm gần đây mọi người ngày càng nhận ra giá trị chương trình của trường.
    Trước đây, nhiều học viên đến học đứng, ngồi sai tư thế, và mình dạy về dáng ngồi, họ đã lùng bùng lỗ tai, không muốn nghe. Tôi vẫn mời họ đứng lên và sửa dáng cho họ. Chỉ cần hai tiếng thôi, tôi có thể sửa dáng cho một người. Nhiều người nghi ngờ hai tiếng học được điều gì. Không, học được rất nhiều. Chương trình của John Robert Powers chú trọng về thực hành, ứng dụng, không lý thuyết sáo rỗng.  
    Lúc đầu, do nhiều người được công ty trả tiền đi học, nên đến thì không chuyên tâm, nói học đi làm gì, học cách ăn làm gì. Vào lớp là ngồi một cách hời hợt. Có người còn nói thẳng với giáo viên: “Chỉ cần đọc cuốn sách đó trong vòng 15 phút, tôi có thể biết những gì anh/chị nói”. Tôi cũng nhẹ nhàng: “Những gì chúng ta biết trong bộ não đến thực hành ra ngoài còn xa lắm”. Có giai đoạn, có báo viết trường này mở ra giúp người giàu quăng tiền qua cửa sổ, ba tháng trời không có học viên mới đến đăng ký, làm trường rơi vào giai đoạn khó khăn. Tôi từng nghĩ sao mà lạ quá, trường học dạy người ta làm cái tốt, cái đẹp, hành xử lịch sự, sao báo đó lại lên án như vậy. Lúc đó, khi có những tin đồn thất thiệt, tim mình cũng len lỏi một chút buồn nhưng rồi tôi cũng bỏ qua, phần mình mình cứ cố gắng thôi, chừng nào người ta hiểu người ta sẽ cảm nhận được.
    Có vẻ như John Robert Powers là trường của người nổi tiếng và giàu có? 
    Không hẳn. Là bởi nhiều người theo học ở đây, khi học xong họ mới thành công và nổi tiếng. Vì họ đã hiểu mình là ai, mình muốn gì, mình cần thay đổi ra sao. Nhiều gia đình không phải là người nổi tiếng, chỉ thiếu thời gian quan tâm đến con, họ gửi qua cho trường để trường chăm sóc, chia sẻ phần tinh thần cho các em. Nhiều em rất bướng, không nghe lời người lớn trong gia đình... cũng được cha mẹ cho đến trường. Tại đây, các em nhận ra các điều đơn giản như: muốn thành đạt sao đi học lại để cô giáo đợi, thức dậy sớm còn thức không nổi, sao mong thành công?
    Gặp tôi, tôi vừa thương vừa la, ban đầu khóc lóc, nhưng sau bạn tiến bộ dần. Có nhiều câu chuyện tốt lên rất đơn giản như, có bạn học xong về trở nên có trách nhiệm hơn, xưa thấy ba má tranh cãi thì không quan tâm, giờ bạn biết hòa giải, giúp gia đình đầm ấm; có bạn có trách nhiệm với em, trở thành người bạn tâm lý hơn, tự nhiên tình cảm tốt đẹp hơn. Hay như một bạn học viên, xa Việt Nam từ hồi sáu tuổi, về nước vẫn giữ phong cách sống theo kiểu Tây, cha mẹ muốn gặp phải... đăng ký lịch. Rồi tôi gần gũi, tâm sự cho em nghe, người Việt Nam thì không như vậy, dần dần mối quan hệ trở nên tốt đẹp hơn. Ở nước ngoài, chuyện có một người dẫn dắt, chia sẻ, khơi mở là bình thường, ở Việt Nam thì điều này còn mới mẻ. Ngoài ra, có một thành công mà ít người biết là trường của tôi đã giúp nhiều em hết tự kỷ, xa rời cơn nghiện cần sa, trầm cảm... Có em đòi nhảy lầu tự vận, khi chịu tâm sự cùng tôi đã vui vẻ sống trở lại… 
    Những học trò nào của trường đến nay chị tự hào nhất? 
    Dương Trương Thiên Lý, Isaac. Và có rất nhiều học trò nữa khiến tôi tự hào. Họ đều làm cho lòng mình vui vẻ, hạnh phúc khi nhớ tới. 
    Chị có bao giờ nghĩ đến việc đổi tên, lấy một cái tên Việt Nam thay vì nhượng quyền thương hiệu? 
    Tôi có nghĩ đến vài lần. Như bạn biết, trường nhượng quyền chi phí hằng tháng rất cao. Nếu không lấy thương hiệu này nữa, học phí rẻ hơn, dạy được nhiều người hơn, mình đỡ vất vả hơn. Nhưng suy nghĩ lại, mình là trường dạy nhân cách, mình phải trước sau như một, chứ lấy chương trình của người ta dạy, khi rành rẽ rồi lấy tên mình, làm vậy không đúng, lương tâm mình khó chịu. Làm điều sai sẽ thui chột, làm mất đi tài năng. Tôi được như hôm nay là nhờ chăm chỉ, siêng năng, nghiên cứu, học hành, trải nghiệm, dạy dỗ hết mình. Nhưng nếu tôi không sống tốt thì tài năng sẽ giảm đi. Cái xấu, tư tưởng tiêu cực sẽ ảnh hưởng đến tài năng của bạn.
    Hiệu trưởng Võ Thị Xuân Trang tại Liên hoan ẩm thực quốc tế thường niên do Bộ ngoại giao tổ chức tại Hà Nội, tháng 12.2018.
    Một cuốn sách viết về trí óc con người có nói, trong tư tưởng của con người có 10 phần, nếu nghĩ đến điều tốt 5 phần thì còn 5 phần xấu, nếu nghĩ điều tốt 7 phần thì điều xấu chỉ còn 3. Để cái xấu lấn chiếm thì cái tốt cũng dần mất chỗ. Cho nên tài năng chỉ tỏa sáng, mở ra nếu người ta thiện lương, suy nghĩ tích cực. Do đó, tôi nghĩ mình không nên làm điều gì khiến mình không thoải mái, áy náy.  
    Tại sao John Robert Powers ghi được dấu ấn trên thị trường? 
    Là tôi, tôi tự hào mình chính là người kết nối. Tôi kết nối tất cả các thầy cô của các môn học, làm việc trực tiếp với tất cả giáo viên và học sinh. Tôi mạnh về não phải, tôi có thể nhìn ra những viên ngọc trong mỗi con người. Tôi giúp các bạn thay đổi con người mình, trở thành người mà bạn muốn, tự tin định đoạt số phận của mình. 
    Chị có một cô con gái xinh đẹp là Trương Minh Xuân Thảo. Sao chị không đào tạo con gái trở thành người nổi tiếng trong showbiz mà lại tiếp tục con đường gắn bó với trường? 
    Thảo sinh năm 1992, Thảo xinh đẹp, tự tin, là kết quả của John Robert Powers. Nếu không có trường thì Thảo không được như hôm nay bởi bản chất Thảo khá nhút nhát, từ nhỏ toàn núp sau lưng mẹ. Hiện tại, Thảo lo quản lý, tài chính của trường. Thảo không tham gia showbiz là bởi Thảo không có tài năng về nghệ thuật một cách nổi trội. Con gái tôi giờ là người mạnh mẽ thiên về não trái, rất logic, rất lý tính…, không hay xúc động nhiều như mẹ. Tôi thì không thể theo đuổi trường mãi, Thảo phải ở trường này để đảm đương thay mẹ chứ! 
    Trâm Anh thực hiện - Ảnh: NVCC

    Thứ Năm, 14 tháng 3, 2019

    [Infographic] World Wide Web đã thay đổi như thế nào trong 30 năm qua?

    [Infographic] World Wide Web đã thay đổi như thế nào trong 30 năm qua?
    1. Có thể anh em đã quên nhưng nhờ có những nỗ lực từ cách đây tròn 30 năm mà anh em chúng ta có điều kiện vui vẻ với nhau qua bài viết này thông qua World Wide Web - một trong những công cụ nổi tiếng và quan trọng nhất của Internet, là nền tảng để xây dựng nên vô số thứ khác có ảnh hưởng tới mọi khía cạnh của không gian mạng của loài người.

      Nhân dịp sinh nhật của công cụ đặc biệt này, mời anh em cùng ngược dòng thời gian qua infographic bên dưới, điểm lại những cột mốc quan trọng của World Wide Wed, từ một mạng lưới sơ khai được kỹ sư, nhà khoa học máy tính người Anh Tim Berners-Lee tạo ra nhằm mục đích trao đổi nghiên cứu hạt nhân, cho tới sự thành lập của vô số trang mạng “trụ cột” ngày nay như Facebook, Google, Youtube,… và cả chính diễn đàn Tinhte,vn của anh em chúng ta nữa. Mời xem nhé.

      Đang tải lich_su_30_nam_www_Tinhte.jpg…


      Nguồn AI

    31 năm sự kiện Gạc Ma - Kỳ 1: Bức điện cuối cùng

    Mai Thanh Hải
    Gạc Ma, cách đây 31 năm, bức điện cơ yếu cuối cùng tàu HQ-604 gửi về Sở chỉ huy lữ đoàn 146 chỉ vẻn vẹn 5 chữ 'Chúng tôi đang chiến đấu'...
    Chiến sĩ tiêu binh trong lễ tưởng niệm các liệt sĩ hy sinh ngày 14.3.1988 trên vùng biển Gạc Ma – Len Đao  /// Ảnh: Mai Thanh Hải
    Chiến sĩ tiêu binh trong lễ tưởng niệm các liệt sĩ hy sinh ngày 14.3.1988 trên vùng biển Gạc Ma – Len Đao
    ẢNH: MAI THANH HẢI
    Thế hệ bộ đội Trường Sa những năm 80 - 90 khi kể chuyện những ngày giữ đảo, hết thảy đều nhắc đến Phó lữ đoàn trưởng - Tham mưu trưởng Lữ đoàn 146 Hoàng Trung Cang. Khi tôi tìm đến nhà ông trong hẻm nhỏ trên đường D3 (Q.Bình Thạnh, TP.HCM) hỏi chuyện Gạc Ma, ông cười móm mém: “Tiếng là thủ trưởng nhưng toàn ở đảo với anh em, chia nhau từng điếu thuốc chén cơm. Mình còn không quên nữa là anh em”…

    “Nhìn ánh mắt anh em ướt ướt”…

    Tháng 2.1978, Philippines đưa quân ra chiếm đóng đảo Ponata làm cho tình hình khu vực biển ngày càng nóng. Cùng với toàn quân, Quân chủng Hải quân (QCHQ) được lệnh sẵn sàng chiến đấu bảo vệ chủ quyền biển đảo...
    Ngày 2.3.1978, Thường vụ Đảng ủy và BTL QCHQ báo cáo Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng cho HQ đóng giữ tiếp 1 số đảo trên quần đảo Trường Sa. Đồng thời, Tư lệnh HQ Giáp Văn Cương chỉ đạo Phòng Quân báo trinh sát tiến hành trinh sát để chuẩn bị tổ chức đóng giữ.
    Cùng thời gian này, Tư lệnh Cương cũng giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 146 (nay là Lữ đoàn 146, thuộc BTL Vùng 4 HQ) tổ chức 4 trung đội tăng cường cùng với lực lượng tàu vận tải, tàu đánh cá của các Hải đoàn 125, 128 và Trung đoàn công binh 83, chia thành 4 đoàn ra đóng giữ các đảo mới.
    31 năm sự kiện Gạc Ma - Kỳ 1: Bức điện cuối cùng - ảnh 1
    Xe tăng được mang ra làm nhiệm vụ tại các đảo Trường Sa, sau trận 14.3.1988
    NGUYỄN VIẾT THÁI
    Đoàn 1 do thiếu tá Cao Ánh Đăng (Trung đoàn trưởng 146) chỉ huy, cùng với các chiến sĩ phân đội đặc công nước Lữ đoàn 126 theo tàu HQ-601 tổ chức đóng giữ đảo An Bang đêm 10.3.1978.
    Đoàn 2 do thiếu tá Ngô Sĩ Ta (Chủ nhiệm chính trị trung đoàn 146) và thiếu tá Võ Xuân Triều (Phó trưởng phòng Quân báo QCHQ) đi trên tàu HQ-679 của Đoàn 128, đóng giữ đảo Sinh Tồn Đông trưa 17.3.1978.
    Đoàn 3 đi tàu HQ-680 của đoàn 128 do trung tá Vũ Xuân Hòa (Phó tham mưu trưởng) chỉ huy, cùng 31 cán bộ chiến sĩ đóng giữ đảo Hòn Sập (Phan Vinh) ngày 30.3.1978.
    31 năm sự kiện Gạc Ma - Kỳ 1: Bức điện cuối cùng - ảnh 2
    Đại tá Nguyễn Trung Cang (trái) gặp lại cấp dưới của mình, chuẩn đô đốc Nguyễn Đức Vượng, Chính ủy Vùng 4 HQ. Năm 1978, ông Cang đưa bộ đội ra đóng giữ đảo Trường Sa Đông, ông Vượng mới là thiếu úy, chính trị viên đảo
    MAI THANH HẢI
    “Tôi lúc ấy là Tham mưu trưởng Trung đoàn 146, dẫn 19 cán bộ chiến sĩ lên tàu HQ-681 của Đoàn 125 từ Cam Ranh ra đóng giữ đảo Trường Sa Đông. Ngày 2.4.1978 hoàn thành việc đổ bộ. Đến ngày 19.4, lực lượng khác gồm 17 cán bộ, chiến sĩ ra thay phiên đóng giữ đảo. Chỉ huy trưởng đảo lúc này là thiếu úy Bùi Xuân Nhã. Chính trị viên là thiếu úy Nguyễn Đức Vượng, nay là Chuẩn Đô đốc - Chính ủy Vùng 4 HQ”, ông Cang kể.
    “Đổ bộ lên Trường Sa Đông thuận lợi hơn các đảo chìm bởi đây có phần nổi. Nhưng cũng vì nổi nên chim biển tập trung kín đảo, bộ đội phải đuổi chim bay sang chỗ khác để lấy chỗ dựng nhà bạt. Những ngày đầu, lính tráng không ăn không ngủ được vì rệp chim đốt khắp người, phải lấy thuốc đỏ bôi cho đỡ bị cắn và anh nào cũng loang lổ. Khi đã hoàn thành đóng giữ, tôi lên tàu trở về bờ, anh em nó tràn ra bờ cát im lặng đứng nhìn theo. Nhìn ánh mắt anh em ướt ướt, thấy cứ như đem con bỏ đảo, tội lắm”, ông Cang bồi hồi. 
    31 năm sự kiện Gạc Ma - Kỳ 1: Bức điện cuối cùng - ảnh 3
    Một số cán bộ chiến sĩ tàu HQ-605 điều trị tại bệnh viện quân y 87 Nha Trang, sau trận 14.3.1988 (Thuyền trưởng Lê Lệnh Sơn là người đứng giữa) 
    TƯ LIỆU CCB 605

    “Thông chết thay tôi”…

    Tết Mậu Thìn 1988, đại tá Nguyễn Trung Cang (khi đó là Phó lữ đoàn trưởng - Tham mưu trưởng lữ đoàn 146, BTL Vùng 4 HQ) được về ăn Tết với vợ con tại TP.HCM. Ngày 18.2.1988, đúng mồng 2 Tết Mậu Thìn, ông đang nhậu với mấy người bạn thì con gái đạp xe đến hớt hải: “Các chú hải quân đến nhà tìm ba về đơn vị có việc quan trọng”.
    Xe U Oát quân sự chạy xuyên đêm ra Cam Ranh, đưa ông Cang đến tận Sở chỉ huy tiền phương của QCHQ gặp Tư lệnh Giáp Văn Cương nhận lệnh: “Tình hình căng rồi, cậu là Lữ phó - Tham mưu trưởng về trực chỉ huy lữ đoàn ngay”.
    Thời điểm này, cả Lữ đoàn trưởng Phạm Công Phán và Lữ đoàn phó Ngô Sỹ Ta đi biển chỉ huy bộ đội đóng giữ một số đảo chìm. Hai Lữ phó Nguyễn Trung Cang và Trần Đức Thông nghỉ Tết, chỉ còn 2 Lữ phó chuyên ngành Võ Tiến Cai và Nguyễn Trực quán xuyến công việc trong bờ nên việc Lữ phó quân sự Nguyễn Trung Cang trả phép sớm, khiến ai cũng thở phào nhẹ nhõm.
    31 năm sự kiện Gạc Ma - Kỳ 1: Bức điện cuối cùng - ảnh 4
    Thuyền trưởng Vũ Huy Lễ (đứng giữa, hàng đầu) và một số chiến sĩ tàu HQ-505 tham gia trận 14.3.1988
    ẢNH: NGUYỄN VIẾT THÁI
    Đầu tháng 3.1988, phía Trung Quốc huy động lực lượng xuống Trường Sa, tăng số lượng tàu chiến, tàu hỗ trợ, tàu vận tải, tàu cá giả dạng, liên tục trinh sát, thăm dò các khu vực, gây lên tình trạng rất căng thẳng.
    Được sự đồng ý của trên, Tư lệnh HQ kiêm Chỉ huy trưởng Vùng 4 quyết định lập khung đóng giữ bảo vệ Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao. Theo kế hoạch, ta sẽ đóng giữ Gạc Ma trước để làm chỗ dựa đóng giữ tiếp Cô Lin, Len Đao. Trách nhiệm chỉ huy lực lượng đóng giữ được giao cho Lữ phó Nguyễn Trung Cang và sáng 6.3.1988, ông Cang trực tiếp giao nhiệm vụ cho 2 khung đi đảo.
    Chiều 6.3.1988, trung tá lữ phó Trần Đức Thông vào đơn vị trả phép, thấy mình được giao nhiệm vụ ở sở chỉ huy thay ông Cang, anh Thông đề nghị: “Anh là Lữ phó quân sự - Tham mưu trưởng thì phải ở nhà điều hành mọi việc trong bờ ngoài biển. Em đã nhiều năm làm đảo trưởng, lại mới lên phụ trách chung, để em đi”.
    31 năm sự kiện Gạc Ma - Kỳ 1: Bức điện cuối cùng - ảnh 5
    Thắp nhang lên mộ liệt sĩ hy sinh tháng 3.1988, chôn tại đảo Trường Sa
    ẢNH: NGUYỄN VIẾT THÁI
    Tư lệnh Giáp Văn Cương nghe vậy đồng ý và 19 giờ 05 ngày 7.3.1988, trung tá Trần Đức Thông chỉ huy bộ đội lên tàu HQ-604 xuất phát từ Cam Ranh ra Gạc Ma.
    Trên tàu, ngoài lực lượng của Lữ đoàn 146, còn có 70 cán bộ chiến sĩ thuộc 2 khung xây dựng đảo của Trung đoàn công binh 83 do 2 thượng úy Nguyễn Minh Tâm và Trần Văn Phòng làm khung trưởng. Cùng đi còn có 4 cán bộ chiến sĩ Đoàn đo đạc và biên vẽ hải đồ (Đoàn 6) thuộc Bộ Tham mưu HQ do thượng úy QNCN Lê Đình Thơ phụ trách, ra làm nhiệm vụ đo đạc ở các đảo. Do ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới, sóng to gió lớn nên tàu HQ-604 không đi được, phải quay lại Cam Ranh.
    31 năm sự kiện Gạc Ma - Kỳ 1: Bức điện cuối cùng - ảnh 6
    Khăn tay do học sinh trường Lê Quý Đôn (TP.HCM) gửi tặng Anh hùng Nguyễn Văn Lanh, sau trận 14.3.1988
    ẢNH: MAI THANH HẢI
    Sáng 10.3, Tư lệnh HQ Giáp Văn Cương hạ quyết tâm đưa thêm lực lượng đi đóng giữ, bảo vệ đảo Cô Lin do thượng úy Hoàng Bùi Hải làm Đảo trưởng kiêm Bí thư chi bộ, trung úy Đinh Ngọc Doanh giữ chức đảo phó. Riêng đảo Len Đao, vẫn chỉ sử dụng tàu HQ-605 đến neo giữ ở đảo, sẵn sàng ủi bãi khi cần thiết. 20 giờ 10 ngày 11.3.1988, tàu HQ-604 chở lực lượng đi làm nhiệm vụ, dưới sự chỉ huy của trung tá Trần Đức Thông.
    Chiều tối ngày 13.3.1988, các tàu HQ-604 (đóng giữ Gạc Ma) và HQ-505 (đóng giữ Cô Lin) khôn khéo vượt qua sự ngăn chặn của các tàu Trung Quốc, thả neo tại vị trí quy định. Tàu HQ-605 mãi 5 giờ ngày 14.3.1988 mới tới Len Đao thả neo đúng chỉ lệnh.
    31 năm sự kiện Gạc Ma - Kỳ 1: Bức điện cuối cùng - ảnh 7
    Trung úy QNCN Trần Thị Thủy, nhân viên văn thư bảo mật của Lữ đoàn 146, BTL Vùng 4 HQ. Thủy là con gái của Anh hung liệt sĩ Trần Văn Phương, hy sinh ngày 14.3.1988 trên đảo Gạc Ma
    MAI THANH HẢI
    Đêm 14.3.1988, các lực lượng công binh, phòng thủ đảo đã đổ bộ từ tàu HQ-604 và HQ-505 lên đảo Gạc Ma và Cô Lin để vận chuyển vật liệu xây dựng và bảo vệ đảo.
    6 giờ ngày 14.3.1988, phía Trung Quốc thả 3 xuồng nhôm chở lính đổ bộ lên đảo Gạc Ma của Việt Nam, bao vây, giật cờ của ta đang cắm trên đảo.
    Sau gần 1 tiếng đồng hồ giành giật với bộ đội ta nhưng không đạt kết quả, lính Trung Quốc rút, cho các loại hỏa lực mạnh trên các tàu hộ vệ 502, 531 đồng loạt nổ súng.
    Bộ đội ta đánh trả quyết liệt, nhưng súng bộ binh không đối chọi được với pháo hạm tầm xa, sức công phá mạnh, nên tàu HQ-604 bị cháy, chìm khiến đa số bộ đội trên tàu HQ-604 và Gạc Ma anh dũng hy sinh.
    31 năm sự kiện Gạc Ma - Kỳ 1: Bức điện cuối cùng - ảnh 8
    Thuyền trưởng Nguyễn Tiến Xuân (phải) là con trai liệt sĩ Nguyễn Mậu Phong, hy sinh ngày 14.3.1988 tại Gạc Ma. Hiện tại Xuân đang công tác tại BTL Vùng 4 Hải quân 
    MAI THANH HẢI
    Ở đảo Cô Lin, khi quan sát thấy tàu HQ-604 bị tàu địch bắn cháy và chìm dần, thiếu tá Vũ Huy Lễ, thuyền trưởng tàu HQ-505 ra lệnh cho tàu nhổ neo ủi bãi. Khi trườn lên bãi đá Cô Lin được 2/3 thân thì tàu bốc cháy nhưng cả con tàu đã trụ vững trên đảo.
    8 giờ 15 ngày 14.3.1988, mặc dù tàu đang bị cháy nhưng bộ đội vừa triển khai dập lửa vừa đưa xuồng máy đến Gạc Ma cứu vớt được 43 cán bộ chiến sĩ ở Gạc Ma và tàu HQ-604 đưa về sơ cứu ban đầu.
    12 giờ 00 cùng ngày, tàu HQ-671 đến cứu hộ, cứu nạn, đưa bộ đội và thương binh - liệt sĩ về Sinh Tồn cách Cô Lin khoảng 8 hải lý.
    31 năm sự kiện Gạc Ma - Kỳ 1: Bức điện cuối cùng - ảnh 9
    Nghi lễ thả hương hoa xuống vùng biển Gạc Ma - Len Đao - Cô Lin do bộ đội HQ thực hiện khi hành trình ngang qua khu vực
    MAI THANH HẢI
    Trên hướng Len Đao, tàu hộ vệ tên lửa 556 Trung Quốc liên tục áp sát mạn phải tàu HQ-605 để đe dọa. Lúc 7 giờ 50 ngày 14.3.1988, khi thấy HQ-604 bị tàu Trung Quốc tấn công, thượng úy Lê Lệnh Sơn, thuyền trưởng tàu HQ-605 lệnh cho tàu nhanh chóng ủi bãi.
    Thấy HQ-605 nổ máy, tàu 556 Trung Quốc bắn vào tàu ta làm toàn bộ khoang máy và ca bin bị bốc cháy, tàu HQ-605 mất khả năng cơ động và chìm dần xuống biển. Thuyền trưởng Lê Lệnh Sơn cho bộ đội rời tàu, lên xuồng chèo tay về Sinh Tồn.
    “Rạng sáng 14.3.1988, tôi trực Sở chỉ huy lữ đoàn tại Cam Ranh thì nhận được điện của tàu HQ-604: Có tàu TQ đến, đuổi chúng tôi. 8 giờ, nhận được bức điện thứ 2 chỉ vẻn vẹn 5 chữ: Chúng tôi đang chiến đấu”, đại tá Nguyễn Trung Cang nhớ lại.
    Ông Cang trầm ngâm: “Suốt ngày hôm ấy tôi chờ nhận thêm tín hiệu nhưng không thấy gì. Mãi mới nhận được điện cơ yếu của Sinh Tồn: Anh em hy sinh, bị thương nhiều lắm, đã sử dụng hết cơ số dự trữ. Đề nghị tiếp tế. Tôi mới viết điện đề nghị QCHQ, Bộ tổng tham mưu cho máy bay An-26 chi viện hàng không cho Sinh Tồn. Hôm ấy nếu tôi ra chỉ huy, chắc cũng hy sinh. Thông đã chết thay tôi...". 
    Trong cuộc chiến đấu bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc ở Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao ngày 14.3.1988, tàu chiến Trung Quốc đã bắn cháy, bắn chìm 3 tàu vận tải quân sự của ta, khiến 64 cán bộ chiến sĩ hy sinh, 11 người bị thương và bị bắt. Phía Trung Quốc chiếm được bãi đá Gạc Ma. Các lực lượng ta kiên cường chốt giữ Cô Lin, Len Đao trước sự đe dọa khiêu khích của phía Trung Quốc. Với lòng quyết tâm vô hạn và dũng cảm phi thường, công binh HQ đã hoàn thành xây dựng nhà cấp 2 trên đảo Len Đao (7.7.1988) và Cô Lin (10.7.1988), bàn giao cho lực lượng bảo vệ thuộc Lữ đoàn 146 HQ.
    (còn tiếp)

    64 ngôi sao bất tử 25 phút trước 0

    TRẦN ĐỨC THÔNG
    Năm sinh: 1944
    Cấp bậc: Trung tá
    Chức vụ: Phó lữ đoàn trưởng
    Nhập ngũ: 4.1962
    Đơn vị: Lữ đoàn 146, BTL Vùng 4
    Quê quán: Minh Hoà, Hưng Hà, Thái Bình
    TRẦN VĂN PHƯƠNG
    Năm sinh: 1965
    Cấp bậc: Thiếu úy
    Chức vụ: Phó Chỉ huy trưởng đảo
    Nhập ngũ: 3.1983
    Đơn vị: Đảo Gạc Ma, Lữ đoàn 146
    Quê quán: Quảng Phúc, TX Ba Đồn, Quảng Bình
    NGUYỄN MẬU PHONG
    Năm sinh: 1959
    Cấp bậc: Thượng uý
    Chức vụ: Chỉ huy trưởng đảo
    Nhập ngũ: 11.1977
    Đơn vị: Đảo Gạc Ma, Lữ đoàn 146
    Quê quán: Duy Ninh, Quảng Ninh, Quảng Bình
    ĐINH NGỌC DOANH
    Năm sinh: 1964
    Cấp bậc: Trung uý
    Chức vụ: Trung đội trưởng
    Nhập ngũ: 9.1982
    Đơn vị: Đảo Gạc Ma, Lữ đoàn 146
    Quê quán: Ninh Khang, Hoa Lư, Ninh Bình
    HỒ CÔNG ĐỆ
    Năm sinh: 1958
    Cấp bậc: Trung uý CN
    Chức vụ: Y sỹ
    Nhập ngũ: 2.1982
    Đơn vị: Đảo Gạc Ma, Lữ đoàn 146
    Quê quán: Hải Thượng, Tĩnh Gia, Thanh Hoá
    PHẠM HUY SƠN
    Năm sinh: 1963
    Cấp bậc: Chuẩn uý
    Chức vụ: Y sỹ
    Nhập ngũ: 2.1982
    Đơn vị: Đảo Gạc Ma, Lữ đoàn 146
    Quê quán: Diễn Nguyên, Diễn Châu, Nghệ An
    NGUYỄN VĂN PHƯƠNG
    Năm sinh: 1969
    Cấp bậc: Trung sỹ
    Chức vụ: Cơ yếu
    Nhập ngũ: 3.1987
    Đơn vị: Đảo Gạc Ma, Lữ đoàn 146
    Quê quán: Mê Linh, Đông Hưng, Thái Bình
    BÙI BÁ KIÊN
    Năm sinh: 1967
    Cấp bậc: Trung sỹ
    Chức vụ: Chiến sỹ
    Nhập ngũ: 3.1986
    Đơn vị: Đảo Gạc Ma, Lữ đoàn 146
    Quê quán: Văn Phong, Cát Hải, Hải Phòng
    ĐÀO KIM CƯƠNG
    Năm sinh: 1967
    Cấp bậc: Trung sỹ
    Chức vụ: Báo vụ
    Nhập ngũ: 2.1985
    Đơn vị: Đảo Gạc Ma, Lữ đoàn 146
    Quê quán: Vượng Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh
    NGUYỄN VĂN THÀNH
    Năm sinh: 1967
    Cấp bậc: Trung sỹ
    Chức vụ: Chiến sỹ
    Nhập ngũ: 3.1982
    Đơn vị: Đảo Gạc Ma, Lữ đoàn 146
    Quê quán: Phương Điền, Hương Khê, Hà Tĩnh
    ĐẬU XUÂN TƯ
    Năm sinh: 1964
    Cấp bậc: Trung sỹ
    Chức vụ: Chiến sỹ
    Nhập ngũ: 8.1985
    Đơn vị: Đảo Gạc Ma, Lữ đoàn 146
    Quê quán: Nghi Yên, Nghi Lộc, Nghệ An
    LÊ BÁ GIÀNG
    Năm sinh: 1968
    Cấp bậc: Hạ sỹ
    Chức vụ: Báo vụ
    Nhập ngũ: 3.1987
    Đơn vị: Đảo Gạc Ma, Lữ đoàn 146
    Quê quán: P. Hưng Dũng, TP. Vinh, Nghệ An
    NGUYỄN THANH HẢI
    Năm sinh: 1967
    Cấp bậc: Hạ sỹ
    Chức vụ: Quản lý
    Nhập ngũ: 3.1986
    Đơn vị: Đảo Gạc Ma, Lữ đoàn 146
    Quê quán: Sơn Kim, Hương Sơn, Hà Tĩnh
    PHẠM VĂN DƯƠNG
    Năm sinh: 1967
    Cấp bậc: Hạ sỹ
    Chức vụ: Tiểu đội trưởng
    Nhập ngũ: 3.1986
    Đơn vị: Đảo Gạc Ma, Lữ đoàn 146
    Quê quán: Nam Kim 3, Nam Đàn, Nghệ An
    HỒ VĂN NUÔI
    Năm sinh: 1967
    Cấp bậc: Trung sỹ
    Chức vụ: Chiến sỹ
    Nhập ngũ: 8.1985
    Đơn vị: Đảo Gạc Ma, Lữ đoàn 146
    Quê quán: Nghi Tiến, Nghi Lộc, Nghệ An
    CAO ĐÌNH LƯƠNG
    Năm sinh: 1967
    Cấp bậc: Trung sỹ
    Chức vụ: Tiểu đội trưởng
    Nhập ngũ: 8.1985
    Đơn vị: Đảo Gạc Ma, Lữ đoàn 146
    Quê quán: Trung Thành, Yên Thành, Nghệ An
    TRƯƠNG VĂN THỊNH
    Năm sinh: 1966
    Cấp bậc: Trung sỹ
    Chức vụ: Chiến sỹ
    Nhập ngũ: 8.1985
    Đơn vị: Đảo Gạc Ma, Lữ đoàn 146
    Quê quán: Bình Kiến, TP. Tuy Hoà, Phú Yên
    VÕ VĂN TUẤN
    Năm sinh: 1968
    Cấp bậc: Trung sỹ
    Chức vụ: Quản lý
    Nhập ngũ: 8.1986
    Đơn vị: Đảo Gạc Ma, Lữ đoàn 146
    Quê quán: Ninh Ích, TX. Ninh Hoà, Khánh Hoà
    PHAN TẤN DƯ
    Năm sinh: 1966
    Cấp bậc: Trung sỹ
    Chức vụ: Báo vụ
    Nhập ngũ: 2.1986
    Đơn vị: Đảo Gạc Ma, Lữ đoàn 146
    Quê quán: Hoà Phong, Tây Hoà, Phú Yên
    VŨ PHI TRỪ
    Năm sinh: 1955
    Cấp bậc: Đại uý
    Chức vụ: Thuyền trưởng tàu HQ-604
    Nhập ngũ: 2.1975
    Đơn vị: Lữ đoàn 125
    Quê quán: Quảng Khê, Quảng Xương, Thanh Hoá
    VŨ VĂN THẮNG
    Năm sinh: 1962
    Cấp bậc: Trung uý
    Chức vụ: Phó thuyền trưởng tàu HQ-604
    Nhập ngũ: 8.1980
    Đơn vị: Lữ đoàn 125
    Quê quán: Thái Hưng, Thái Thuỵ, Thái Bình
    PHẠM GIA THIỀU
    Năm sinh: 1956
    Cấp bậc: Thượng uý
    Chức vụ: Phó thuyền trưởng tàu HQ-604
    Nhập ngũ: 8.1978
    Đơn vị: Lữ đoàn 125
    Quê quán: Trung Đông, Trực Ninh, Nam Định
    LÊ ĐỨC HOÀNG
    Năm sinh: 1959
    Cấp bậc: Thượng uý
    Chức vụ: Phó thuyền trưởng tàu HQ-604
    Nhập ngũ: 8.1978
    Đơn vị: Lữ đoàn 125
    Quê quán: Hải Yến, Tĩnh Gia, Thanh Hoá
    TRẦN VĂN MINH
    Năm sinh: 1963
    Cấp bậc: Thượng uý QNCN
    Chức vụ: Máy trưởng tàu HQ-604
    Nhập ngũ: 8.1981
    Đơn vị: Lữ đoàn 125
    Quê quán: Quỳnh Long, Quỳnh Lưu, Nghệ An
    ĐOÀN ĐẮC HOẠCH
    Năm sinh: 1963
    Cấp bậc: Thượng sỹ
    Chức vụ: Thủy thủ trưởng tàu HQ-604
    Nhập ngũ: 2.1982
    Đơn vị: Lữ đoàn 125
    Quê quán: Tân Trào, Kiến Thuỵ, TP. Hải Phòng
    TRẦN VĂN CHỨC
    Năm sinh: 1965
    Cấp bậc: Trung sỹ
    Chức vụ: Chiến sỹ tàu HQ-604
    Nhập ngũ: 2.1985
    Đơn vị: Lữ đoàn 125
    Quê quán: Canh Tân, Hưng Hà, Thái Bình
    HÁN VĂN KHOA
    Năm sinh: 1962
    Cấp bậc: Hạ sỹ
    Chức vụ: Chiến sỹ tàu HQ-604
    Nhập ngũ: 9.1983
    Đơn vị: Lữ đoàn 125
    Quê quán: Văn Lương, Tam Nông, Phú Thọ
    NGUYỄN THANH HẢI
    Năm sinh: 1968
    Cấp bậc: Hạ sỹ
    Chức vụ: Chiến sỹ tàu HQ-604
    Nhập ngũ: 2.1985
    Đơn vị: Lữ đoàn 125
    Quê quán: Chính Mỹ, Thuỷ Nguyên, TP. Hải Phòng
    NGUYỄN TẤT NAM
    Năm sinh: 1966
    Cấp bậc: Hạ sỹ
    Chức vụ: Chiến sỹ tàu HQ-604
    Nhập ngũ: 3.1986
    Đơn vị: Lữ đoàn 125
    Quê quán: Thượng Sơn, Đô Lương, Nghệ An
    TRẦN VĂN BẢY
    Năm sinh: 1967
    Cấp bậc: Hạ sỹ
    Chức vụ: Chiến sỹ tàu HQ-604
    Nhập ngũ: 3.1986
    Đơn vị: Lữ đoàn 125
    Quê quán: Lê Hồ, Kim Bảng, Hà Nam
    ĐỖ VIẾT THANH
    Năm sinh: 1966
    Cấp bậc: Hạ sỹ
    Chức vụ: Chiến sỹ tàu HQ-604
    Nhập ngũ: 2.1985
    Đơn vị: Lữ đoàn 125
    Quê quán: Thiệu Tân, Thiệu Hoá, Thanh Hoá
    NGUYỄN XUÂN THỦY
    Năm sinh: 1967
    Cấp bậc: Hạ sỹ
    Chức vụ: Chiến sỹ tàu HQ-604
    Nhập ngũ: 2.1985
    Đơn vị: Lữ đoàn 125
    Quê quán: Phương Định, Trực Ninh, Nam Định
    BÙI DUY HIỂN
    Năm sinh: 1966
    Cấp bậc: Trung sỹ
    Chức vụ: Chiến sỹ báo vụ tàu HQ-605
    Nhập ngũ: 2.1985
    Đơn vị: Lữ đoàn 125
    Quê quán: TT. Diêm Điền, Thái Thuỵ, Thái Bình
    PHẠM HỮU DOAN
    Năm sinh: 1960
    Cấp bậc: Thượng uý
    Chức vụ: Phó thuyền trưởng tàu HQ-605
    Nhập ngũ: 8.1978
    Đơn vị: Lữ đoàn 125
    Quê quán: Thái Phúc, Thái Thuỵ, Thái Bình
    NGUYỄN MINH TÂM
    Năm sinh: 1965
    Cấp bậc: Thượng uý
    Chức vụ: Trợ lý thi công, Phòng Tham mưu
    Nhập ngũ: 12.1974
    Đơn vị: Lữ đoàn 83
    Quê quán: Dân Chủ, Hưng Hà, Thái Bình
    VÕ VĂN ĐỨC
    Năm sinh: 1966
    Cấp bậc: Hạ sỹ
    Chức vụ: Chiến sỹ
    Nhập ngũ: 8.1985
    Đơn vị: Lữ đoàn 83
    Quê quán: Liên Thuỷ, Lệ Thuỷ, Quảng Bình
    TRƯƠNG VĂN HƯỚNG
    Năm sinh: 1966
    Cấp bậc: Hạ sỹ
    Chức vụ: Chiến sỹ
    Nhập ngũ: 8.1985
    Đơn vị: Lữ đoàn 83
    Quê quán: Hải Ninh, Quảng Ninh, Quảng Bình
    NGUYỄN TIẾN DOÃN
    Năm sinh: 1964
    Cấp bậc: Hạ sỹ
    Chức vụ: Chiến sỹ
    Nhập ngũ: 8.1985
    Đơn vị: Lữ đoàn 83
    Quê quán: Ngư Thuỷ Nam, Lệ Thuỷ, Quảng Bình
    PHẠM HỮU TÝ
    Năm sinh: 1966
    Cấp bậc: Hạ sỹ
    Chức vụ: Chiến sỹ
    Nhập ngũ: 8.1985
    Đơn vị: Lữ đoàn 83
    Quê quán: Phong Thuỷ, Lệ Thuỷ, Quảng Bình
    NGUYỄN HỮU LỘC
    Năm sinh: 1968
    Cấp bậc: Binh nhì
    Chức vụ: Chiến sỹ
    Nhập ngũ: 3.1987
    Đơn vị: Lữ đoàn 83
    Quê quán: P. Hoà Cường Bắc, Q. Hải Châu, TP.Đà Nẵng
    TRƯƠNG QUỐC HÙNG
    Năm sinh: 1967
    Cấp bậc: Binh nhất
    Chức vụ: Chiến sỹ
    Nhập ngũ: 3.1987
    Đơn vị: Lữ đoàn 83
    Quê quán: P. Hoà Cường Bắc, Q. Hải Châu, TP.Đà Nẵng
    NGUYỄN PHÚ ĐOÀN
    Năm sinh: 1968
    Cấp bậc: Binh nhất
    Chức vụ: Chiến sỹ
    Nhập ngũ: 3.1987
    Đơn vị: Lữ đoàn 83
    Quê quán: P. Hoà Cường Nam, Q. Hải Châu, TP.Đà Nẵng
    NGUYỄN VĂN KIÊN
    Năm sinh: 1968
    Cấp bậc: Hạ sỹ
    Chức vụ: Chiến sỹ
    Nhập ngũ: 3.1986
    Đơn vị: Lữ đoàn 83
    Quê quán: Nam Tiến, Nam Trực, Nam Định
    PHẠM VĂN LỢI
    Năm sinh: 1968
    Cấp bậc: Binh nhất
    Chức vụ: Chiến sỹ
    Nhập ngũ: 3.1987
    Đơn vị: Lữ đoàn 83
    Quê quán: P.Hoà Cường Bắc, Q.Hải Châu, TP.Đà Nẵng
    TRẦN VĂN QUYẾT
    Năm sinh: 1967
    Cấp bậc: Hạ sỹ
    Chức vụ: Chiến sỹ
    Nhập ngũ: 8.1985
    Đơn vị: Lữ đoàn 83
    Quê quán: Quảng Thuỷ, TX. Ba Đồn, Quảng Bình
    PHẠM VĂN SỰ
    Năm sinh: 1968
    Cấp bậc: Binh nhất
    Chức vụ: Chiến sỹ
    Nhập ngũ: 3.1987
    Đơn vị: Lữ đoàn 83
    Quê quán: P.Hoà Cường Bắc, Q.Hải Châu, TP.Đà Nẵng
    TRẦN TÀI
    Năm sinh: 1969
    Cấp bậc: Binh nhất
    Chức vụ: Chiến sỹ
    Nhập ngũ: 3.1987
    Đơn vị: Lữ đoàn 83
    Quê quán: P.Hoà Cường Bắc, Q.Hải Châu, TP.Đà Nẵng
    LÊ VĂN XANH
    Năm sinh: 1967
    Cấp bậc: Binh nhất
    Chức vụ: Chiến sỹ
    Nhập ngũ: 3.1987
    Đơn vị: Lữ đoàn 83
    Quê quán: P.Hoà Cường Nam, Q.Hải Châu, TP.Đà Nẵng
    LÊ THỂ
    Năm sinh: 1967
    Cấp bậc: Binh nhất
    Chức vụ: Chiến sỹ
    Nhập ngũ: 3.1987
    Đơn vị: Lữ đoàn 83
    Quê quán: P.An Hải Tây, Q.Sơn Trà - Đà Nẵng
    TRẦN MẠNH VIỆT
    Năm sinh: 1968
    Cấp bậc: Hạ sỹ
    Chức vụ: Chiến sỹ
    Nhập ngũ: 3.1987
    Đơn vị: Lữ đoàn 83
    Quê quán: P.Bình Hiên, Q.Hải Châu, TP.Đà Nẵng
    TRẦN VĂN PHÒNG
    Năm sinh: 1960
    Cấp bậc: Thượng uý
    Chức vụ: Phó đại đội trưởng
    Nhập ngũ: 3.1979
    Đơn vị: Lữ đoàn 83
    Quê quán: Minh Tân, Kiến Xương, Thái Bình
    TRẦN QUỐC TRỊ
    Năm sinh: 1965
    Cấp bậc: Hạ sỹ
    Chức vụ: Tiểu đội trưởng
    Nhập ngũ: 8.1985
    Đơn vị: Lữ đoàn 83
    Quê quán: Đồng Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình
    MAI VĂN TUYẾN
    Năm sinh: 1968
    Cấp bậc: Hạ sỹ
    Chức vụ: Chiến sỹ
    Nhập ngũ: 3.1986
    Đơn vị: Lữ đoàn 83
    Quê quán: Tây An, Tiền Hải, Thái Bình
    NGUYỄN ĐỨC HOÁ
    Năm sinh: 1966
    Cấp bậc: Hạ sỹ
    Chức vụ: Chiến sỹ
    Nhập ngũ: 8.1985
    Đơn vị: Lữ đoàn 83
    Quê quán: Trường Sơn, Quảng Ninh, Quảng Bình
    PHẠM VĂN THIỀNG
    Năm sinh: 1967
    Cấp bậc: Hạ sỹ
    Chức vụ: Chiến sỹ
    Nhập ngũ: 8.1985
    Đơn vị: Lữ đoàn 83
    Quê quán: Đồng Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình
    TỐNG SỸ BÁI
    Năm sinh: 1967
    Cấp bậc: Hạ sỹ
    Chức vụ: Chiến sỹ
    Nhập ngũ: 3.1987
    Đơn vị: Lữ đoàn 83
    Quê quán: P.1, TP.Đông Hà, Quảng Trị
    HOÀNG ÁNH ĐÔNG
    Năm sinh: 1967
    Cấp bậc: Hạ sỹ
    Chức vụ: Chiến sỹ
    Nhập ngũ: 3.1987
    Đơn vị: Lữ đoàn 83
    Quê quán: P.2, TP.Đông Hà, Quảng Trị
    TRƯƠNG MINH THƯƠNG
    Năm sinh: 1963
    Cấp bậc: Hạ sỹ
    Chức vụ: Chiến sỹ
    Nhập ngũ: 8.1985
    Đơn vị: Lữ đoàn 83
    Quê quán: Quảng Sơn, TX. Ba Đồn, Quảng Bình
    HOÀNG VĂN TUÝ
    Năm sinh: 1966
    Cấp bậc: Hạ sỹ
    Chức vụ: Chiến sỹ
    Nhập ngũ: 8.1985
    Đơn vị: Lữ đoàn 83
    Quê quán: Hải Ninh, Quảng Ninh, Quảng Bình
    VÕ VĂN TỨ
    Năm sinh: 1966
    Cấp bậc: Hạ sỹ
    Chức vụ: Chiến sỹ
    Nhập ngũ: 8.1985
    Đơn vị: Lữ đoàn 83
    Quê quán: Trường Sơn, Quảng Ninh, Quảng Bình
    NGUYỄN BÁ CƯỜNG
    Năm sinh: 1962
    Cấp bậc: Thượng sỹ
    Chức vụ: Học viên thực tập
    Nhập ngũ: 3.1983
    Đơn vị: Học viện Hải quân
    Quê quán: Điện Thắng Trung, TX. Điện Bàn, Quảng Nam
    KIỀU VĂN LẬP
    Năm sinh: 1963
    Cấp bậc: Thượng sỹ
    Chức vụ: Học viên thực tập
    Nhập ngũ: 2.1983
    Đơn vị: Học viện Hải quân
    Quê quán: Long Xuyên, Phúc Thọ, TP.Hà Nội
    LÊ ĐÌNH THƠ
    Năm sinh: 1957
    Cấp bậc: Thượng uý QNCN
    Chức vụ: Tổ trưởng đo đạc
    Nhập ngũ: 11.1975
    Đơn vị: Đoàn Đo đạc biên vẽ hải đồ và nghiên cứu biển, Bộ Tham mưu Hải quân
    Quê quán: Hoằng Minh, Hoằng Hoá, Thanh Hoá
    CAO XUÂN MINH
    Năm sinh: 1966
    Cấp bậc: Binh nhất
    Chức vụ: Chiến sỹ
    Nhập ngũ: 9.1986
    Đơn vị: Đoàn Đo đạc biên vẽ hải đồ và nghiên cứu biển, Bộ Tham mưu Hải quân
    Quê quán: Hoằng Quang, Hoằng Hoá, Thanh Hoá

    31 năm trước, ngày 14.3.1988, tại vùng biển Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, 64 cán bộ, chiến sĩ hải quân, những người con kiên trung của dân tộc, đã anh dũng hy sinh khi làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc trước sự tấn công trắng trợn và phi lý của nhiều tàu chiến Trung Quốc. Máu các anh hòa vào biển xanh, thành cột mốc khẳng định chủ quyền không thể chối cãi của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa.
    4.2.1988
    Tư lệnh Quân chủng Hải quân Giáp Văn Cương triệu tập Đảng ủy Vùng 4 Hải quân (HQ) họp bất thường, chỉ đạo: “Trung Quốc đã chiếm đóng Chữ Thập và có thể mở rộng ra các bãi đá Châu Viên, Đá Đông, Đá Nam, Tốc Tan… đóng xen kẽ với đảo của ta đang đóng giữ, tạo thế đứng chân khống chế, xâm chiếm giành chủ quyền Trường Sa. Vì vậy, phải vừa sẵn sàng chiến đấu cao vừa khẩn trương đóng giữ các bãi đá, không cho họ thực hiện được ý đồ”.
    Đầu tháng 3.1988
    Quân chủng HQ lập khung đóng giữ bảo vệ Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao, gồm: 3 tàu vận tải quân sự của Lữ đoàn 125 (HQ-604, HQ-605, HQ-505); 2 khung xây dựng đảo thuộc Lữ đoàn 83 Công binh HQ và các phân đội bảo vệ của Lữ đoàn 146 HQ. Toàn bộ lực lượng do trung tá Trần Đức Thông, Phó lữ đoàn trưởng 146 chỉ huy.
    13.3.1988
    cả 2 tàu HQ-604, HQ-505 nhổ neo rời đảo Đá Lớn tiến về Gạc Ma, Cô Lin. Buổi chiều cùng ngày, thả neo cạnh Gạc Ma, Cô Lin.

    Tư lệnh HQ Giáp Văn Cương lệnh cho trung tá Trần Đức Thông chỉ huy bộ đội quyết giữ Gạc Ma, Cô Lin và cho phép tàu ủi bãi khi cần thiết.
    13.3.1988
    , bộ đội trên tàu HQ-604 chuyển vật liệu xây dựng lên Gạc Ma, bố trí lực lượng đóng giữ do thiếu úy Trần Văn Phương, Phó chỉ huy trưởng đảo Gạc Ma chỉ huy. Tại Cô Lin, bộ đội tàu HQ-505 cắm 2 lá cờ Tổ quốc, triển khai tổ chiến đấu.

    Chấp hành mệnh lệnh, bộ đội tàu HQ-604 cùng lực lượng công binh đã nhanh chóng vận chuyển vật liệu xây dựng lên đảo Gạc Ma. Lực lượng đóng giữ đảo do thiếu úy Trần Văn Phương – Phó chỉ huy trưởng đảo Gạc Ma đã cũng đổ bộ lên đảo cắm cờ Tổ quốc và triển khai 2 tổ bảo vệ. Bên phía Cô Lin, lúc 22 giờ 15, bộ đội tàu HQ-505 cũng đổ bộ lên đảo cắm 2 lá cờ Tổ quốc khẳng định chủ quyền và triển khai 1 tổ chiến đấu bảo vệ cờ.
    14.3.1988
    phía Trung Quốc thả 3 xuồng nhôm chở 40 binh lính đổ bộ lên Gạc Ma định giật cờ VN. Thấy bộ đội ta cương quyết bảo vệ cờ, lính Trung Quốc nổ súng bắn chết thiếu úy Trần Văn Phương, đâm trọng thương binh nhất Nguyễn Văn Lanh và dùng súng AK tấn công bộ đội Lữ đoàn 146, Công binh 83 giữ cờ Tổ quốc.
    Không ép được lực lượng ta rút khỏi Gạc Ma, lính Trung Quốc rút về tàu.
    14.3.1988
    tàu hộ vệ 502, 531 của Trung Quốc dùng hỏa lực mạnh bắn thẳng vào HQ-604, bốc cháy, chìm dần. Cùng lúc đó, nhiều loại pháo hạm từ tàu chiến Trung Quốc cũng trút đạn lên Gạc Ma, vào đội hình công binh - phòng thủ chỉ có cuốc xẻng, xà beng và 3 khẩu AK, khiến bộ đội ta thương vong nặng. Khi xuồng nhôm chở lính Trung Quốc định áp sát tàu HQ-604 đang chìm, bộ đội trên tàu dùng súng bộ binh đánh trả quyết liệt khiến xuồng tháo chạy.
    14.3.1988
    Ở Cô Lin, khi quan sát thấy tàu HQ-604 bị tàu địch bắn cháy chìm dần, thiếu tá Vũ Huy Lễ, thuyền trưởng tàu HQ-505 ra lệnh cho tàu nhổ neo ủi bãi. Thấy tàu ta áp sát Cô Lin, tàu 531 của Trung Quốc quay sang bắn phá dữ dội. Khi trườn lên bãi Cô Lin được 2/3 thân thì tàu bốc cháy nhưng cả con tàu đã trụ vững được.

    Trên hướng Len Đao, khi thấy HQ-604 bị tấn công, thuyền trưởng tàu HQ-605 Lê Lệnh Sơn ra lệnh ủi bãi. Tàu 556 Trung Quốc dồn bắn vào
    HQ-605 làm toàn bộ khoang máy, ca bin bị bốc cháy, tàu mất khả năng cơ động, rồi chìm xuống biển.
    Trong cuộc chiến đấu bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc tại Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao ngày 14.3.1988, phía Trung Quốc bắn cháy, bắn chìm 3 tàu vận tải quân sự của ta; khiến 64 cán bộ chiến sĩ hy sinh; 11 người bị thương, bị bắt. Phía Trung Quốc chiếm được bãi đá Gạc Ma. Tại 2 đá Cô Lin, Len Đao, các lực lượng ta kiên cường chốt giữ, bảo vệ đến ngày nay.